Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HS-ST

Ngày: 26-04-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung

Các hội thẩm nhân dân: Ông Cao Đức Giang và bà Nguyễn Thị Liên

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Hải Sâm - Thư ký TAND huyện Diễn Châu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa:

Bà Trương Thị Hà - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 04 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 59/2024/TLST-HS ngày 11/04/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-HS ngày 12/04/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cao Văn T; tên gọi khác: Không; sinh năm 1987 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi thường trú: xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: không xác định, con bà Cao Thị Đ (đã chết); Vợ: Tăng Thị H, sinh năm 1978; chưa có con; Anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là thứ nhất trong gia đình; Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 28/05/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 55/2020/HSST ngày 28/05/2020. Chấp hành xong án phạt tù ngày 18/08/2022.

Nhân thân: Ngày 25/08/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 97/2015/HSST ngày 25/08/2015. Chấp hành xong án phạt tù ngày 28/04/2017.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2024 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 24/01/2024, Cao Văn T đang ở nhà thì nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên bắt xe taxi đi đến khu vực đường Q, đoạn cánh đồng ở xã Viên Thành, huyện Y, tỉnh Nghệ An để mua ma túy. Tại đây, T gặp và hỏi người đàn ông tên K (không rõ tên tuổi, địa chỉ): “Để cho em ba trăm bạc hàng”, nghĩa là T hỏi mua 300.000 đồng ma túy. Sau đó T đưa cho K số tiền 300.000 đồng, K cầm tiền rồi lấy từ trong người ra 01 (một) gói bên ngoài được gói bằng giấy vở học sinh, bên trong có chứa ma túy Heroine đưa cho T. T cầm các gói ma túy bỏ vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi bắt xe ôm đi về nhà. Đến khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, khi Cao Văn T đang đi bộ đến đoạn đường Quốc lộ 7A thuộc xóm D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an xã D phối hợp với Công an xã D, huyện D phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần phía trước bên phải T đang mặc 01 (một) gói bên ngoài được gói bằng giấy vở học sinh, bên trong có chứa ma túy Heroine. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và dẫn giải Cao Văn T về Ủy ban nhân dân xã D, huyện D để xác minh, sau đó chuyển cho Cơ quan điều tra Công an huyện D để điều tra theo thẩm quyền.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 24/01/2024 của Cơ quan điều tra Công an huyện D và Bản kết luận giám định số 224/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 30/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: “- Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Cao Văn T gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. - Số chất bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Cao Văn T có khối lượng là 0,2 gam (Không phẩy hai gam)”.

Về vật chứng vụ án đã thu giữ gồm: 01 (một) phong bì thư niêm phong theo đúng quy định, bên trong có chứa vật chứng sau khi lấy mẫu giám định gồm: 0,1 (Không phẩy một gam) ma túy Heroine; 01 (một) mảnh giấy vở học sinh màu trắng và 01 (một) phong bì thư bưu điện N ban đầu. Vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện D.

Tại Bản cáo trạng số 82/CT-VKS-DC ngày 10/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo Cao Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt Cao Văn T từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; Về vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của Cao Văn T còn lại sau khi lấy mẫu giám định, 01 (một) mảnh giấy vở học sinh màu trắng và 01 (một) phong bì thư bưu điện N; Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định; Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Tại phiên tòa, bị cáo Cao Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, nên đủ căn cứ kết luận: Vào 09 giờ 00 phút ngày 224/01/2024, tại khu vực đường Q thuộc xóm D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an xã D phối hợp với Công an xã D, huyện D phát hiện bắt quả tang Cao Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,2 gam ma túy Heroine với mục đích để sử dụng. Như vậy, hành vi mà Cao Văn T thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ.

[2.2]. Về tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước Việt Nam đối với chất ma túy, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, phạm tội khi chưa được xóa án tích thuộc trường hợp tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Vì vậy cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, có thái độ khai báo thành khẩn tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo có mẹ đẻ là người có công với cách mạng nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[2.3]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[2.4]. Đối với người đàn ông tên K bán ma túy cho bị cáo (theo lời khai của bị cáo), do không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.

[2.5]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Số ma túy thu giữ của Cao Văn T còn lại sau khi lấy mẫu giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 (một) mảnh giấy vở học sinh màu trắng và 01 (một) phong bì thư bưu điện niêm phong ban đầu là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[2.6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[2.7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt Cao Văn T 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/01/2024.

    Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Cao Văn T

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì thư được niêm phong theo đúng quy định, dán kín, trên mép dán có chữ ký thành phần tham gia niêm phong, bị can Cao Văn T cùng hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Nghệ An bên trong có chứa 0,1 gam (Không phẩy một gam) ma túy Heroine, 01 (một) mảnh giấy vở học sinh màu trắng và 01 (một) phong bì thư niêm phong ban đầu.
  4. (Vật chứng trên hiện có tại Kho vật chứng Chi Cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo Phiếu nhập kho số 24NK83 ngày 11/04/2024).

  5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc Cao Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Diễn Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Diễn Châu;
  • - Công an huyện Diễn Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 53/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger