|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 53/2024/HSST Ngày: 28/11/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Nhưng; bà Lê Thị Trinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hoài Thanh, Thư Ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Diệu, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 49/2024/HSST ngày 22 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXHSST – HS, ngày 06 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 17/2024/HSST –QĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Kỳ Anh, đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Anh T; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 06 tháng 06 năm 1991, tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; chức vụ, đảng phái: Không; nghề nghiệp: Kinh doanh vận tải; con ông: Hoàng Anh H và bà: Nguyễn Thị Q; anh em ruột có 2 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; có vợ: Võ Thị Hoài T1 và 02 con (con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 08 tháng 8 năm 2024; có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Dương Thị C; sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn M, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: kinh doanh; có mặt
- Anh Nguyễn Tiến Q1; sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn M, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin vắng mặt.
- Anh Bùi Văn Q2, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin vắng mặt.
Người làm chứng:
- Anh Phạm Hữu K; sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn M, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị An H1; sinh năm 2005; nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. nghề nghiệp: sinh viên; vắng mặt tại phiên toà
- Anh Nguyễn Trọng N; sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; có mặt tại phiên toà
- Anh Nguyễn Văn H2; sinh năm 1994; nơi cư trú: Phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; có mặt tại phiên toà
- Anh Hoàng Anh V; sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; có mặt tại phiên toà
- Anh Nguyễn Văn N1; sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; có mặt tại phiên toà
-Anh Nguyễn Văn D; sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; có mặt tại phiên toà
- Anh Sử Văn T2; sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt tại phiên toà
- Anh Bùi Văn Q3; sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt tại phiên toà
- Bà Nguyễn Thị S; sinh năm 1953; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt tại phiên toà
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 31/3/2024, em Nguyễn Thị An H1, sinh năm 2005, trú tại thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh là sinh viên đang học ở Hà Nội về nhà người thân, ở xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh chơi, sau đó gọi điện thoại đặt vé xe khách của nhà xe G chạy tuyến cố định từ xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh đi thành phố Hà Nội và ngược lại. Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 31/3/2024, anh Phạm Hữu K, sinh năm 1989, trú tại thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh điều khiển xe ô tô khách biển kiểm soát 29H-941.54 của nhà xe T6, chạy tuyến cố định xã K, huyện K đi thành phố Hà Nội và ngược lại, trên xe có anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1985, trú tại thôn M, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh là lái phụ và anh Nguyễn Tiến Q1, sinh năm 1986, trú tại thôn M, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh là phụ xe; chị Dương Thị C, sinh năm 1982, trú tại thôn M, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh là quản lý xe. Khi xe ôtô biển kiểm soát 29H-941.54 của nhà xe Tâm C1 đi đến khu vực cây xăng ngã tư xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh thì dừng lại đón chị Nguyễn Thị An H1 lên xe để đi ra Hà Nội. Cùng thời điểm này xe ô tô biển kiểm soát 38F-004.66 của nhà xe G do anh Đào Văn T4, trú tại phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh điều khiển và Nguyễn Văn H2, sinh năm 1994, trú tại phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh làm phụ xe cũng đến để đón chị Nguyễn Thị An H1 lên xe đi ra Hà Nội (Vì chị H1 đặt vé trước đó), nên khi phát hiện nhà xe Tâm C1 đón chị A lên xe đi trước thì Nguyễn Văn H2 đi lại gặp chị C1 quản lý xe ô tô T5 Cúc tranh cãi về việc tại sao chị C1 tranh giành khách của nhà xe G một lúc rồi xe ô tô Tâm C1 chạy đi. Tiếp đó gọi
điện thoại cho Hoàng Anh T, quản lý xe ô tô Giang A1 biết về việc nhà xe Tâm C1 đón khách của mình. Lúc này, T đang ngồi ăn uống với anh Nguyễn Trọng N, sinh năm 1983, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh là người góp vốn mua xe ô tô kinh doanh cùng với T và anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1991, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh tại nhà ở của mình, thuộc thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh thì nghe H2 gọi điện thoại thông báo nên T nói với mọi người tý nữa chờ nhà xe Tâm C1 đến sẽ ra nói chuyện với chị C1 để lần sau không tranh giành khách nữa. N nghe T nói lại về nội dung nhà xe Tâm C1 tranh giành khách của mình thì lấy điện thoại gọi điện cho chị C1 quản lý xe nói chuyện về việc tại sao tranh giành khách của nhà xe G rồi tắt máy điện thoại. Đến khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, anh Phạm Hữu K điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29H- 94154 của nhà xe Tâm C1 đi đến địa phận thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Cách nhà T khoảng 10 mét) dừng lại bên mép đường Quốc lộ 1A để đón khách theo yêu cầu khách đặt vé trước đó. Lúc này, Hoàng A2 Thiệu một mình đi từ trong nhà ra phát hiện nhà xe Tâm C1 đang đậu bên đường, nên đi bộ lại lớn tiếng rồi dùng tay nắm cổ áo anh Nguyễn Tiến Q1 phụ xe kéo xuống, dùng tay, chân đấm, đá vào người anh Q1 và nói tại sao cướp khách của nhà xe Giang A1 thì anh Q1 nói không biết nên T dừng lại. Cùng lúc này Nguyễn Trọng N từ trong nhà đi ra rồi lên xe ô tô Tâm C1 yêu cầu chị C1 xuống xe để nói chuyện nhưng chị C1 không xuống, nên N dùng tay nắm cổ áo của chị C1 để kéo chị C1 xuống khỏi xe nói chuyện thì làm cúc áo khoác chị C1 mặc trên người bị đứt cúc áo, sau đó N dừng lại đi xuống xe. Thấy vậy anh Nguyễn Văn T3 lên xe ô tô thay anh K điều khiển xe 29H-941.54 đi ra Hà Nội trả khách thì Hoàng A2 Thiệu đẩy chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38K1- 137.42 (xe của anh Bùi Văn Q2, sinh năm 1986, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh) đang dựng trên lề đường ra chặn trước đầu xe ô tô, thấy vậy Nguyễn Văn T3 đánh lái sang làn đường bên trái (Làn đường sát với giải phân cách cố định) để đi nhưng T tiếp tục đẩy xe mô tô ra chặn phía trước đầu xe ô tô làm xe ô tô không đi được. Quá trình T đẩy xe mô tô ra để chặn trước đầu xe ô tô Tâm Cúc, Nguyễn Trọng N can ngăn T không cho T đẩy xe mô tô ra chặn, nhưng T không đồng ý. Sự việc Hoàng Anh T chặn xe mô tô trước đầu xe ô tô biển kiểm soát 29H- 94154 của nhà xe T6, trên phần đường bên phải tính theo hướng từ N ra B của đường Q, thuộc địa phận thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh trong khoảng thời gian liên tục từ khoảng 21 giờ 45 phút ngày 31/3/2024 đến khoảng 21 giờ 52 phút cùng ngày đã gây náo loạn, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho hành khách đi trên xe ô tô và các hộ dân sống xung quanh khu vực hiện trường, làm ngưng trệ hoạt động tham gia giao thông của các phương tiện ở phần đường bên phải của đường Q hướng từ N1 ra B bị tắc đường kéo dài khoảng 50 mét. Đến khi lực lượng Công an xã K có mặt tại hiện trường mới đưa chiếc xe mô tô bị chặn trước đầu xe ô tô vào lề đường, từ đó xe ô tô khách biển kiểm soát 29H-941.54 của nhà xe T6 mới di chuyển được và các phương tiện tham gia giao thông ở phần đường bên phải của đường Q hướng từ N ra B mới lưu thông qua lại được. Trước tình hình đó người dân sống xung quanh rất bất bình cũng như Ủy ban nhân dân xã K có văn bản đề nghị xử lý nghiêm hành vi gây rối trật tự công cộng của các đối tượng.
Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã trưng cầu giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với anh Nguyễn Tiến Q1. Tại bản kết luận giám định số 109/KLTTCT-TTPY&GĐYK của trung tâm Pháp y và giám định Y khoa tỉnh H kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Tiến Q1 là 01% (một phần trăm)
Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ và xử lý vật chứng gồm: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Novo LX, biển kiểm soát 38K1-137.42 đã qua sử dụng, thu giữ tại hiện trường, nay trả lại cho chủ sở hữu của anh Bùi Văn Q2.
Về dân sự:
Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo Hoàng Anh T đã tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Tiến Q1 số tiền 2.000.000 đồng, hiện nay anh Nguyễn Tiến Q1 không yêu cầu bồi thường đối với Hoàng Anh T. Đối chị Dương Thị C chủ phương tiện xe ô tô biển kiểm soát 29H-941.54 có đơn không yêu cầu Hoàng A2 Thiệu bồi thường thiệt hại về việc cản trở hoạt động kinh doanh.
Tại bản bị cáo trạng số 52/CT- VKSKA ngày 21 tháng 10 năm 2024, của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Hoàng Anh T về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Hoàng A2 Thiệu mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo, xử buộc bị cáo Hoàng Anh T phải nộp 200.000₫ án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị bị cáo khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Bị cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo Hoàng Anh T là do mâu thuẩn tranh giành khách trước đó giữa nhà xe Giang A1, do Hoàng Anh T quản lý và nhà xe T6 do chị Dương Thị C quản lý, nên vào khoảng 21 giờ 45 phút ngày 31/3/2024, tại phần đường bên phải đường Q, hướng từ Nam ra B thuộc địa phận thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Hoàng Anh T đã dùng tay chân, đấm, đá anh Nguyễn Tiến Q1, phụ xe nhà xe Tâm C1 và sử dụng chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38K1-137.42 chặn trước đầu xe ô tô khách biển kiểm soát 29H-941.54 của nhà xe T6 làm náo loạn, mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho hành khách đi trên xe ô tô và các hộ dân sống xung quanh khu vực hiện trường, làm ngưng trệ hoạt động tham gia giao thông của các phương tiện ở phần đường bên phải của đường Q hướng từ N ra B bị tắc đường kéo dài trong thời gian khoảng 07 phút. Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của Hoàng Anh T đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử bị bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không có gì oan sai.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Anh T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Anh T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận quy định tại các điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Hành vi của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn trong khu dân cư, đặc biệt là khu vực trên đường Q, nơi có nhiều phương tiện giao thông qua lại, gây hoang mang lo lắng cho người dân, cho hành khách trên xe khách. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, nếu không bắt bị bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hại cho xã hội. Vì vậy Hội đồng xét xử cần căn cứ Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị bị cáo hưởng án treo cũng đảm bảo nghiêm minh.
[6] Trong vụ án này, anh Nguyễn Trọng N đã có hành vi lên xe ô tô khách 29H- 941.54 dùng tay giằng co làm đứt cúc áo của chị Dương Thị C. Tuy nhiên, hành vi trên của N thực hiện độc lập, không có sự bàn bạc thống nhất trước với Hoàng Anh T, mặt khác thời điểm Hoàng Anh T đẩy xe mô tô biển kiểm soát ra chặn xe ô tô 29H-941.54 gây tắc đường N đã có hành vi can ngăn Thiệu, không cho T đẩy xe mô tô ra chặn trước đầu xe ô tô, nên hành vi của Nguyễn Trọng N không đồng phạm với Hoàng Anh T về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Đối với anh Bùi Văn Q2 chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát 38K1-137.42 mà Hoàng Anh T sử dụng làm công cụ chặn trước đầu xe ô tô biển kiểm soát 29H-941.54. Quá trình điều tra xác định việc T lấy xe mô tô làm phương tiện phạm tội anh Q2 không biết nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Hiện nay người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu thêm gì về dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử miễn xét.
[8] Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã, nay trả lại cho chủ sở hữu, việc trả lại vật chứng là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng bị cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 331, Điều 333, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Anh T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng
- Về hình phạt chính: Xử phạt Hoàng Anh T 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hoàng Anh T cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Về án phí: Xử buộc Hoàng Anh T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng bị cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể tư ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận: |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
- - Bị bị cáo;
- - VKSND huyện Kỳ Anh;
- - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
- - Công an Hà Tĩnh (PV 06)
- - Chi cục THADS huyện Kỳ Anh;
- - Phòng nghiệp vụ TAND tỉnh Hà Tĩnh;
- - Công an huyện Kỳ Anh (2 bản);
- - Sở Tư pháp Hà Tĩnh;
- - UBND xã Kỳ Giang, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh;
- - Người có QLNVLQ
- - Lưu hồ sơ vụ án;
- - Lưu án văn, HS vụ án
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà |
Bản án số 53/2024/HSST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về hình sự sơ thẩm (gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 53/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: gây rối trật tự công cộng
