|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 53/2024/HS-ST Ngày: 18-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Trần Minh Chính.
- 2. Bà Hồ Thị Thúy Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa:
Bà Vũ Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:
1, H và tên: Hồ Hữu T (tên gọi khác: không); sinh năm 1979 tại tỉnh Nghệ An; nơi thường trú: thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện tại: xóm C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hồ Hữu T1 (chết) và bà: Nguyễn Thị D; vợ: Nguyễn Thị H1 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 01/11/1998 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xử phạt 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 (hai mươi) tháng, về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 48/HSST); ngày 26/4/2019 bị UBND huyện Q xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 7.500.000 đồng, về hành vi “để xảy ra hoạt động sử dụng trái phép chất ma túy trong khu vực mình quản lý”, nộp phạt ngày 03/5/2019; ngày 10/02/2022 bị UBND huyện Q xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 20.000.000 đồng, về hành vi “không thực hiện quy định áp dụng biện pháp hạn chế tập trung đông người”, nộp phạt ngày 15/02/2022; ngày 03/6/2022 bị UBND huyện Q xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 15.000.000 đồng, về hành vi “để xảy ra hoạt động sử dụng trái phép chất ma túy trong khu vực mình quản lý”, đã nộp phạt ngày 12/7/2022; tạm giữ: từ ngày 05/3/2024 đến ngày 11/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
2, Họ và tên: Nguyễn Đức T2 (tên gọi khác: không); sinh năm 1990 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Quang T3 và bà: Tô Thị T4; vợ: Phạm Thị L và 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 22/4/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xử phạt 04 (bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, về tội “Đánh bạc” (bản án số 21/2014/HSST), ngày 29/12/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 25 (hai mươi lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 50 (năm mươi) tháng, về tội “Đánh bạc” (bản án số 93/2017/HSST), chấp hành xong hình phạt ngày 28/02/2022; bị tạm giữ, tạm giam: từ ngày 05/3/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
3, Họ và tên: Trần Nhật M (tên gọi khác: không); sinh năm 1991 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần T5 và bà: Hồ Thị N; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 01/7/2021 bị Công an huyện Q xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc”, nộp phạt ngày 16/7/2021; tạm giữ: từ ngày 05/3/2024 đến ngày 11/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
4, H và tên: Trương Đắc T6 (tên gọi khác: không); sinh năm 1984 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: tổ C, ấp C, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Đắc M1 (chết) và bà: Đinh Thị H2; vợ: Vương Thị Tuấn M2 và 04 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: từ ngày 05/3/2024 đến ngày 11/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
5, H và tên: Bùi Duy H3 (tên gọi khác: không); sinh năm 1985 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Duy N1 và bà: Diên Thị Q; vợ: Vũ Thị P và 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: từ ngày 05/3/2024 đến ngày 11/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
6, H và tên: Nguyễn Văn C (tên gọi khác: không); sinh năm 1986 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn L1 và bà: Nguyễn Thị Đ; vợ: Nguyễn Thị H4 và 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: từ ngày 05/3/2024 đến ngày 11/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
7, Họ và tên: Đào Duy H5 (tên gọi khác: không); sinh năm 1990 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đào Duy T7 (chết) và bà: Hồ Thị Đ1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: từ ngày 05/3/2024 đến ngày 11/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10h00 phút ngày 05/3/2024, Đào Duy H5 đi đến xưởng gỗ nội thất T8 (xóm C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An) của Hồ Hữu T để xin việc. Khi đến xưởng, H5 gặp Trần Nhật M và Hồ Tiên C1, cả ba thấy có 02 (bộ) bài tú lơ khơ nên rủ nhau đánh bài “Liêng” ăn tiền. Đánh được một lúc, Nguyễn Đức T2, Bùi Duy H3 đi đến cùng tham gia. Đến khoảng 12h cùng ngày, Nguyễn Hữu C2 đến xưởng làm việc, thấy mọi người đánh bạc nên hỏi vay T số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) để đánh bạc. T đồng ý cho C2 vay. Đến khoảng 12h20 phút cùng ngày, C1 thua hết tiền nên đứng dậy ra về. Khoảng 10 phút sau, Trương Đắc T6 đến và vay T số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) để đánh bạc. T6 và T vào tham gia đánh bài “Liêng” cùng với H5, M, T2, H3, C2. Mọi người sử dụng 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 52 (năm mươi hai) quân. Đặt tẩy mỗi ván từ 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) đến không quá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Mỗi ván, mỗi người chơi sẽ được chia 3 quân bài. Để tính thắng thua, quy định cao nhất là “Sáp” (ba quân bài giống nhau), rồi đến “Liêng” (ba quân liên tiếp nhau, liêng nhỏ nhất là A, 2, 3 và liêng cao nhất là Q, K, A), cuối cùng tính tổng điểm của 3 quân bài theo thang điểm 9. Người chơi có thể lựa chọn bỏ bài, cân hoặc tố. Trong quá trình đánh, T6 hỏi vay thêm của T số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng). Đánh thêm một lúc, T2, M thua hết tiền, nghỉ chơi, còn T, T6, H3, H5, C2 tiếp tục đánh đến 12h45 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an xã Q và Công an xã Q bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ và số tiền 7.550.000đ (bảy triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng), thu giữ trong người Bùi Duy H3 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng), Hồ Hữu T 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng), Nguyễn Văn C 2.700.000đ (hai triệu bảy trăm nghìn đồng).
Quá trình điều tra, xác định số tiền được sử dụng vào việc đánh bạc 11.850.000đ (mười một triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).
Bản cáo trạng số 56/CT-VKS-QL ngày 16/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố Hồ Hữu T, Nguyễn Đức T2, Trần Nhật M, Trương Đắc T6, Bùi Duy H3, Nguyễn Văn C và Đào Duy H5 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T2 06-07 tháng tù.
Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Hữu T 15-18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30-36 tháng.
Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự; xử phạt các bị cáo Trần Nhật M, Bùi Duy H3, Nguyễn Văn C, mỗi bị cáo 15-18 tháng Cải tạo không giam giữ.
Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trương Đắc T6 15-18 tháng Cải tạo không giam giữ; xử phạt bị cáo Đào Duy H5 12-15 tháng Cải tạo không giam giữ.
Khấu trừ thu nhập của các bị cáo Trần Nhật M, Trương Đắc T6, Bùi Duy H3, Nguyễn Văn C, mỗi bị cáo từ 300.000 đồng – 400.000 đồng/tháng trong thời gian chấp hành án cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập của bị cáo Đào Duy H5 do bị cáo thuộc hộ cận nghèo.
Hình phạt bổ sung: không áp dụng.
Biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, sung ngân sách nhà nước số tiền 11.850.000đ (mười một triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng). Trả lại cho bị cáo Bùi Duy H3 số tiền 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng). Tịch thu, tiêu hủy 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ.
Án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Không tranh luận gì về tội danh và mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị. Lời nói sau cùng: đều xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Hồ Hữu T, Nguyễn Đức T2, Trần Nhật M, Trương Đắc T6, Bùi Duy H3, Nguyễn Văn C và Đào Duy H5 khai nhận: trong khoảng thời gian từ 10h đến 12h45 phút ngày 05/3/2024 tại xưởng gỗ nội thất T8 (xóm C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An), các bị cáo và Hồ Tiên C1 đã sử dụng 52 (năm mươi hai) quân bài tú lơ khơ và số tiền 11.850.000đ (mười một triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) để đánh bài Liêng thì bị tổ công tác Công an xã Q và Công an xã Q bắt quả tang. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Các bị cáo không được nhà nước cho phép, có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền, nhận thức được hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự. Thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Như vậy hành vi của các bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, đồng phạm giản đơn, nên cần xét đến tính chất, mức độ tham gia phạm tội, cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng người đồng phạm để cá thể hóa hình phạt cho phù hợp, như thế mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.
Bị cáo Nguyễn Đức T2 phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, mẹ đẻ (bà Tô Thị T4) tham gia dân công hỏa tuyến được Chủ tịch UBND tỉnh N tặng Bằng khen, ông ngoại (Tô Duy H6) được tặng Huy chương kháng chiến, bà nội (Bùi Thị N2) được tặng Bằng K. Bị cáo đã bị xét xử hai lần về tội đánh bạc nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly ra ngoài xã hội một thời gian, mới có đủ điều kiện để cải tạo bị cáo. Xét thấy gia đình bị cáo có hoàn cảnh éo le mẹ vừa bị tai nạn mổ não nằm liệt giường, con gái vừa mới mất, nên xử phạt bị cáo đầu khung hình phạt như đại diện viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
Bị cáo Hồ Hữu T là chủ nhà, cho các bị cáo khác vay tiền để đánh bạc, trực tiếp tham gia đánh bạc nên hình phạt phải cao hơn các bị cáo khác, tuy nhiên cũng cần xem xét bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, được UBND xã Q, Q tặng Giấy khen, bố mẹ (ông Hồ Hữu T1, bà Nguyễn Thị Đ2 được thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì). Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, việc được ở ngoài xã hội không gây nguy hiểm hay ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, không cần thiết phải cách ly mà giao cho chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích.
Các bị cáo Trần Nhật M, Trương Đắc T6, Bùi Duy H3, Nguyễn Văn C sử dụng số tiền đánh bạc nhiều hơn bị cáo Đào Duy H5 nên hình phạt phải cao hơn. Các bị cáo phạm tội đều không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo; bị cáo C được Chủ tịch UBND xã Q tặng Giấy khen đã có thành tích xuất sắc trong đợt cao điểm phòng chống dịch Covid-19 trên địa bàn xã; bố bị cáo H3 (ông Bùi Duy N1) được tặng thưởng Huy chương kháng chiến; ông nội bị cáo M (Trần Xuân Đ3) được tặng Huân chương kháng chiến, gia đình thờ cúng Liệt sĩ Trần Xuân Đ3. Xét thấy các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà xử phạt cải tạo không giam giữ và khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% của các bị cáo M, T6, H3, C để sung quỹ nhà nước cũng đủ để giáo dục các bị cáo thành công dân có ích. Bị cáo H5 thuộc hộ cận nghèo nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
[4] Hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Bị cáo T2, H5 có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo T có thu nhập không ổn định. Các bị cáo khác đã bị khấu trừ thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[5] Biện pháp tư pháp: số tiền 11.850.000đ (mười một triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước, số tiền 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) bị cáo Bùi Duy H3 không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo H3. 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, tịch thu, tiêu hủy.
[6] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T2 06 (sáu) tháng tù, về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 05/3/2024).
Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Hữu T 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng, về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hồ Hữu T cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự; xử phạt các bị cáo Trần Nhật M, Bùi Duy H3, Nguyễn Văn C, mỗi bị cáo 18 (mười tám) tháng Cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ 06 (sáu) ngày tạm giữ bằng 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ, còn phải chấp hành 17 (mười bảy) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Về tội “Đánh bạc”.
Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trương Đắc T6 18 (mười tám) tháng Cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ 06 (sáu) ngày tạm giữ bằng 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ, còn phải chấp hành 17 (mười bảy) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Về tội “Đánh bạc”.
Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đào Duy H5 15 (mười lăm) tháng Cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ 06 (sáu) ngày tạm giữ bằng 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ, còn phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Về tội “Đánh bạc”.
Thời điểm bắt đầu chấp hành án cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Q nhận được Quyết định thi hành án.
Giao các bị cáo Trần Nhật M, Đào Duy H5 cho Ủy ban nhân dân xã Q; Giao các bị cáo Bùi Duy H3, Nguyễn Văn C cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án Cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo Trương Đắc T6 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án Cải tạo không giam giữ.
Khấu trừ thu nhập của các bị cáo Trần Nhật M, Bùi Duy H3, Nguyễn Văn C và Trương Đắc T6, mỗi bị cáo số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng)/tháng trong thời gian chấp hành án Cải tạo không giam giữ.
-
Biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ có 52 (năm mươi hai) quân bài (tình trạng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/5/2024 giữa Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu). Số tiền 12.000.000đ (mười hai triệu đồng) hiện đang tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.1047949.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu tại K huyện Q theo Giấy nộp tiền ngày 21/5/2024 được xử lý như sau: tịch thu, sung ngân sách nhà nước 11.850.000đ (mười một triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng), trả lại cho bị cáo Bùi Duy H3 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng).
-
Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc các bị cáo Hồ Hữu T, Nguyễn Đức T2, Trần Nhật M, Trương Đắc T6, Bùi Duy H3, Nguyễn Văn C và Đào Duy H5, mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hải Yến |
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về đánh bạc
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Hữu T và đồng phạm phạm tội Đánh bạc
