Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND Q HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HS-ST

Ngày: 17/04/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Thịnh
Ông Nguyễn Ngọc Hấn
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Ánh
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa: Ông Quách Tiến Dũng - Kiểm sát viên

Trong ngày 17 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 53/2024/HSST ngày 21 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXX-ST ngày 02 tháng 04 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Trọng G - Giới tính: N - Sinh năm: 1996; Nơi cư trú: Số A phố P, phường P, quận H, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên bố: Nguyễn Trọng H - Sinh năm: 1972; Họ tên mẹ: Phạm Thị L - Sinh năm: 1971; Họ tên vợ: Nguyễn Thu H1 - Sinh năm: 1996; Có 01 con sinh năm 2022.

Tiền án – Tiền sự: 01 Tiền án (Án tích đã xóa)

Ngày 28/08/2013, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 04 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Đánh bạc (Bản án số 363/2013/HSST). Phạm tội khi 17 tuổi 1 tháng 5 ngày – Án tích đã xóa.

Tạm giữ: 11/01/2024Hủy bỏ tạm giữ: 16/01/2024

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Lại Vũ Đại D – sinh năm: 1996; Cư trú tại: TT A M, phường M, quận H, thành phố Hà Nội.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa. Anh D vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án như sau: Ngày 10/01/2024, tổ công tác đội Hình sự - Công an quận H nhận được tố giác của anh Lại Vũ Đại D1 về việc bị Nguyễn Trọng G cho vay lãi nặng. Căn cứ trình báo của anh D1, tổ công tác đã kiểm tra và phát hiện: Khoảng 16h30' ngày 10/01/2024, Nguyễn Trọng G đang ngồi với anh Vũ Đại D1 tại quán cà phê G L, phường C, quận H, Hà Nội. Giỏi đang yêu cầu anh D1 viết giấy vay nợ với nội dung “Lại Vũ Đại D1 vay của Nguyễn Trọng G 120.000.000 đồng trong vòng 10 ngày”. Tổ công tác đưa G và anh D1 về trụ sở để làm việc.

Tạm giữ của Nguyễn Trọng G:

  • - 01 (một) tờ giấy có dòng kẻ, kích thước khoảng 14cm x 20cm, trong giấy có nội dung: “ Giấy biên nhận, ngày 10 tháng 01 năm 2024..... Tên tôi là Lại Vũ Đại D1, Địa chỉ TT 124 Minh Khai........ Tôi có nhận vay của anh Nguyễn Trọng G 120.000.000 (Một trăm hai mươi triệu đồng chẵn)........ (Dưới chữ ký là chữ Lại Vũ Đại D1)”.
  • - 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen, 64GB, số imei: 357270099659987. Qua xác minh là điện thoại của chị Nguyễn Thu H1 (SN 1996, HKTT: 108 P- P. P- Q. H- Hà Nội, là vợ của G).
  • - 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng, BKS: 29C1- 568.52, số khung: RLHJF5800EY619145, số máy: JF58E0504926. Qua xác minh là của chị Nguyễn Thu H1.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trọng G thu giữ: 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xanh ghi, số IMEI 1: 352849115235164; IMEI 2: 352849115088373, đã qua sử dụng.

Kiểm tra điện thoại Iphone 11 Promax của Nguyễn Trọng G phát hiện tin nhắn giữa G và anh D1 có nội dung liên quan đến việc G đòi nợ anh D1.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Trọng G khai: G thừa nhận có cho anh D1 vay tiền để thu lãi với mức lãi suất cao gấp nhiều lần mức lãi suất quy định trong bộ luật dân sự, cụ thể như sau:

Khoản vay 1: Ngày 14/11/2023, G cho anh D1 vay số tiền 50.000.000 đồng. Giỏi cắt lãi 12.000.000 đồng và chuyển khoản cho anh D1 số tiền 38.000.000 đồng (Giỏi sử dụng tài khoản Ngân hàng T số 19035564163014 chuyển vào tài khoản Ngân hàng của anh D1), thực tế G chuyển khoản nhằm thành 39.000.000 đồng, sau đó G yêu cầu anh D1 chuyển khoản trả lại cho G 1.000.000 đồng. Theo thỏa thuận anh D1 phải trả Giỏi số tiền 2.000.000 đồng/ngày, trả trong thời gian 25 ngày. Khoản vay này anh D1 đã trả hàng ngày đủ cho G, đến ngày 04/12/2023 thì anh D1 trả và tất toán 10.000.000 đồng, nên G đã giảm trừ cho anh D1 2.000.000 đồng, tổng cộng G nhận lại 48.000.000 đồng, khoản cho vay này Giỏi lãi 10.000.000 đồng. Lãi suất 480,26%/năm – thu lợi bất chính 9.583.562 đồng.

Khoản vay 2: Ngày 04/12/2023, G cho anh D1 vay số tiền 200.000.000 đồng. Giỏi chuyển khoản cho anh D1 số tiền 160.000.000 đồng (Nội dung chuyển khoản Giỏi nhắn là: Đặt cọc mua xe). Giỏi cắt lãi số tiền 40.000.000 đồng. Sau khi nhận 160.000.000 đồng, theo thỏa thuận hàng ngày anh D1 phải trả Giỏi số tiền 8.000.000 đồng/ngày, trả trong thời gian 25 ngày. Khoản vay hàng ngày anh D1 trả Giỏi theo thỏa thuận, đến ngày 12/12/2023 anh D1 trả và tất toán sớm cho G 136.000.000 đồng nên G đã giảm trừ cho anh D1 8.000.000 đồng, tổng cộng G nhận lại 192.000.000 đồng, khoản cho vay này Giỏi lãi 32.000.000 đồng. Lãi suất 912,5%/ năm – thu lợi bất chính 31.298.630 đồng.

Khoản vay 3: Ngày 03/01/2024, G cho anh D1 vay số tiền 100.000.000 đồng. Giỏi cắt lãi 20.000.000 đồng và chuyển khoản cho anh D1 số tiền 80.000.000 đồng. Theo thỏa thuận hàng ngày anh D1 phải trả Giỏi số tiền 4.000.000 đồng/ngày, trả trong thời gian 25 ngày. Khoản vay này ngày 04/01/2024 anh D1 trả cho G 4.000.000 đồng đúng hẹn, đến ngày 05/01/2024 anh D1 trả và tất toán sớm cho G 84.000.000 đồng, nên G đã giảm trừ cho anh D1 12.000.000 đồng, tổng cộng G nhận lại 88.000.000 đồng. Khoản cho vay này G lãi 8.000.000 đồng. Lãi suất 1825%/năm – thu lợi bất chính 7.912.329 đồng.

Khoản vay 4: Ngày 09/01/2024, G cho anh D1 vay số tiền 160.000.000 đồng. Giỏi cắt lãi 40.000.000 đồng và chuyển khoản cho anh D1 số tiền 120.000.000 đồng. Sau khi nhận 120.000.000 đồng, hàng ngày anh D1 phải trả Giỏi số tiền 8.000.000 đồng/ngày, trả trong thời gian 20 ngày. Ngày 10/01/2024, anh D1 nói cho G biết việc anh D1 bị khách hàng không trả tiền nên chưa có tiền kịp trả cho G, anh D1 đã gọi hẹn G đến quán Cà phê 75 L để thương lượng về việc chưa trả được tiền. Giỏi đã đến gặp anh D1 và bảo anh D1 viết Giấy biên nhận với nội dung đã nhận của G 120.000.000 đồng để mua rượu vang. Ngay lúc đó, tổ công tác đến đưa G và anh D1 về Cơ quan Công an để làm việc. Lãi suất 608,33%/năm - Số tiền nhằm thu lợi bất chính là 38.684.931 đồng.

Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ sao kê các tài khoản của Nguyễn Trọng G và anh Vũ Đại D1 phát hiện các giao dịch vay nợ phù hợp lời khai của G.Tổng số tiền Nguyễn Trọng G cho anh L1 Vũ Đại D1 vay 04 lần là 510.000.000 đồng với lãi suất từ 480%/ năm đến 1825%/năm thu lợi bất chính là 87.479.452 đồng (Số tiền thu lợi bất chính thực tế là 48.794.522 đồng). Ngày 23/01/2024, anh D1 đã trả số tiền 120.000.000 đồng - là khoản vay lần số 4 (ngày 09/01/2024) cho Nguyễn Trọng G. G xác nhận anh D1 không còn bất kì khoản nợ nào.

Anh Vũ Đại D1 khai: Anh D1 đã vay của Nguyễn Trọng G nhiều lần với mức lãi suất cao gấp nhiều lần lãi suất quy định phù hợp lời khai của Nguyễn Trọng G. Đối với việc bị thu lãi cao, anh D1 không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.

Đối với chiếc điện thoại Iphone XSMAX và 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng, BKS: 29C1- 568.52 xác định thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thu H1 (vợ Nguyễn Trọng G) không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại, xe cho chị H1. Chị H1 đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì khác về dân sự.

Tại Bản cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 19/03/2024 Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố bị cáo Nguyễn Trọng G về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên và sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 201, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng G số tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng.

Về dân sự:

  • - Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao:
  • - Tịch thu sung công số tiền 510.000.000 đồng là số tiền G đã cho D1 vay lãi nặng;
  • - Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo nộp 2.000.000 đồng vào ngân sách Nhà nước để khắc phục hậu quả.
  • - Buộc bị cáo phải nộp sung công quỹ Nhà nước số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự mà bị cáo đã thu của anh D1 là 1.205.479 đồng (Tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự mà G đã thu của anh D1). Xét bị cáo đã nộp 2.000.000 đồng vào ngân sách nhà nước, còn dư 794.521 đồng.
  • - Ghi nhận sự tự nguyện của anh D1 không yêu cầu bị cáo phải trả cho anh số tiền lãi mà G đã nhận của anh vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật hình sự

Bị cáo Nguyễn Trọng G trình bày: Bị cáo đã cho anh D1 vay 04 khoản vay tính lãi nặng như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo trình bày do thiếu hiểu biết pháp luật nên đã cho anh D1 vay tiền với lãi suất cao, số tiền cho D1 vay là tiền bị cáo kinh doanh cửa hàng P tích lũy được. Bị cáo thừa nhận Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố bị cáo về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo Khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự là đúng. Bị cáo xin HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Lại Vũ Đại D1 vắng mặt, anh có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh D1 trình bày trong đơn không yêu cầu bị cáo phải trả cho anh số tiền lãi mà G đã nhận của anh vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật hình sự. Anh D1 đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo vì do thiếu hiểu biết nên đã vi phạm pháp luật và anh cũng có một phần lỗi do đã đồng ý vay tiền với mức lãi suất cao.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi: Tại phiên tòa, bị cáo G có lời khai phù hợp về số tiền và 04 lần Giỏi cho D1 vay lãi nặng như Cáo trạng Viện Kiểm sát truy tố. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 14/11/2023 đến ngày 09/01/2024, Nguyễn Trọng G đã có hành vi 04 lần cho anh L1 Vũ Đại D1 vay số tiền 510.000.000 đồng với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định của Bộ luật dân sự (mức lãi suất từ 480%/ năm đến 1825% /năm) cụ thể:

  • Lần 1 cho vay: 50.000.000 đồng. Lãi suất 480,26%/năm – thu lợi bất chính 9.583.562 đồng.
  • Lần 2 cho vay: 200.000.000 đồng. Lãi suất 912,5%/ năm – thu lợi bất chính 31.298.630 đồng.
  • Lần 3 cho vay: 100.000.000 đồng. Lãi suất 1825%/năm – thu lợi bất chính 7.912.329 đồng.
  • Lần 4 cho vay: 160.000.000 đồng. Lãi suất 608,33%/ năm - Số tiền nhằm thu lợi bất chính là 38.684.931 đồng.

Tổng số tiền thu lợi bất chính là 87.479.452 đồng.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo đã nộp 2.000.000 đồng vào Ngân sách Nhà nước nên HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với G.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Mặc dù vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, gây mất ổn định trật tự an toàn xã hội. Ngoài ra còn làm cho người vay tiền lâm vào cảnh khó khăn, mất khả năng thanh toán nợ. Bị cáo là người trưởng thành, hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được hành vi cũng như hậu quả của hành vi do mình gây ra nhưng do tham lam mà phạm tội với lỗi cố ý. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo mà áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền cũng đủ điều kiện giáo dục, răn đe mục đích là tạo cơ hội cho bị cáo phấn đấu chuộc lại lỗi lầm, trở thành công dân có ích vì bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và cũng phù hợp với đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát, phù hợp với chính sách nhân đạo của Nhà nước và tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo.

Xử lý vật chứng: Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh ghi G dùng liên hệ với anh D1 để cho vay tiền.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải nộp sung công quỹ Nhà nước số tiền 510.000.000 đồng là tiền G đã sử dụng để cho anh D1 vay lãi nặng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Nguyễn Trọng G phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

2. Áp dụng:

  • + Khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

3. Xử phạt: Nguyễn Trọng G 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).

4. Về dân sự: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

  • - Tịch thu sung công số tiền 510.000.000 đồng là số tiền G đã cho D1 vay lãi nặng;
  • - Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo nộp 2.000.000 đồng vào ngân sách Nhà nước để khắc phục hậu quả theo Biên lai số 0006199 ngày 15/4/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hoàn Kiếm.
  • - Buộc bị cáo phải nộp sung công quỹ Nhà nước số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự mà bị cáo đã thu của anh D1 là 1.205.479 đồng. Xét bị cáo đã nộp 2.000.000 đồng vào ngân sách nhà nước, còn dư 794.521 đồng.
  • - Ghi nhận sự tự nguyện của anh D1 không yêu cầu bị cáo phải trả cho anh số tiền lãi mà G đã nhận của anh vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật hình sự.

5. Xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh ghi đã cũ G dùng liên hệ với anh D1 để cho vay tiền. Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại đã cũ, không rõ chất lượng.

6. Án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh D1 vắng mặt khi tuyên án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Hoàn Kiếm;
  • - Chi cục THA Q. Hoàn Kiếm;
  • - Bị cáo; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu Hs, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger