|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 53/2024/HSST Ngày 17/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Hữu Hiển.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nghiêm Thị Hiền và ông Tô Huy Bân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Mai Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên phong.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên phong đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lương Thị D, sinh năm 1986.
- Nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn C - Không rõ năm sinh; Con bà Lương Thị T, sinh năm 1951; Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Chồng là Nguyễn Lương P, sinh năm 1985; Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2006.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị tạm giữ, từ ngày 17/01/2024 đến ngày 19/01/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị can tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Hoàng Đức T1, sinh năm 1984.
- Nơi cư trú: Thôn A, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Chay (C); Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Hoàng Ngọc P1, sinh năm 1956; Con bà Trần Thị T2, sinh năm 1959; Gia đình bị cáo có 04 chị
em, bị cáo là con thứ tư; Vợ là Nông Thị N, sinh năm 1988; Con: Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2021.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị tạm giữ, từ ngày 17/01/2024 đến ngày 19/01/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị can tại ngoại. ( có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lương Thị D, sinh năm 1986, hộ khẩu thường trú (HKTT): Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, mở quán nước tại Cổng V, Công ty S1, khu công nghiệp Y thuộc thôn T, xã Y, huyện Y nên có nhiều người đến uống nước và có nhu cầu mua số lô số đề. Vì vậy, đầu tháng 01/2024 D nảy sinh ý định bán số lô, số đề cho những người có nhu cầu với mục đích thu lời bất chính.
Khoảng 17 giờ 34 phút ngày 08/01/2024, khi D đang ở quán nước thì nhận được tin nhắn qua ứng dụng Zalo từ nick “Taxi Trung Hiếu” đăng ký bằng số điện thoại 0869.209.xxx lắp ở điện thoại nhãn hiệu OPPO của Hoàng Đức T1, sinh năm 1984, HKTT: Thôn A, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (là khách uống nước tại quán) đến nick zalo “Học Cách Buông” đăng ký bằng số điện thoại 0918.185.xxx lắp ở điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax của D mua tổng số 210 điểm lô và 700.000 đồng số đề. Tổng số tiền là: 5.120. 000 đồng. Các đối tượng mua bán với nhau giá 1 điểm lô bằng 22.000 đồng.
Về hình thức chơi và tỷ lệ ăn thua: Số đề theo hai số cuối giải đặc biệt; Nhất là hai số cuối của giải nhất; Lô là hai số cuối của tất cả các giải trong kết quả xổ số miền B (số lần xuất hiện trong kết quả xổ số tương ứng với số nháy). Quá trình chơi thì các con bạc lấy kết quả xổ số miền B mở thưởng đúng ngày chơi để so sánh. Khi trúng: 01 điểm lô bằng 80.000 đồng trên một nháy, số tiền đề trúng gấp 80 lần số tiền đề đánh ban đầu.
Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng hồi 18 giờ 15 phút ngày 08/01/2024, T1 đã trúng 160 điểm lô x 80.000 đồng = 12.800.000 đồng. Trừ đi số tiền đánh bạc ban đầu là 5.120.000 đồng thì D đã thanh toán trực tiếp cho T1 số tiền 7.680.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của D và T1 là (5.120.000 đồng + 12.800.000 đồng) = 17.920.000 đồng.
Ngày 17/01/2024, nhận thức được hành vi phạm tội của bản thân, D đã đến Công an huyện Y tự thú và giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số IMEI: 35672011485942, bên trong lắp sim điện thoại số 0918.185.xxx. Biết hành vi của mình bị phát hiện, cùng ngày T1 đã đến Công an huyện Y đầu thú và giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO CPH1989, IMEI 1: 869563044247796, số IMEI2:869563044247788, bên trong lắp sim điện thoại số 0986.209.xxx. Cơ quan
Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành kiểm tra điện thoại của D và T1 phát hiện nội dung mua bán số lô, đề như đã nêu trên.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu là đúng. Các bị cáo xác định với hành vi như vậy nay bị truy tố, xét xử về tội danh mà VKSND huyện Yên Phong truy tố là đúng người, đúng tội; xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố giữ nguyên bản Cáo trạng số 56/CT-VKSYP ngày 29/3/2024 của VKSND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo thấy không cần thiết cách ly mà cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng giúp các bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Lương Thị D và Hoàng Đức T1 phạm tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt:
- Áp dụng đối với Lương Thị D theo khoản 1 Điều 321; điểm i, s, r khoản 1, Điều 51, Điều 17, 58, 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo từ 25 triệu đồng tháng đến 30 triệu đồng.
- Áp dụng đối với Hoàng Đức T1 theo khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2, Điều 51, Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Hoàng Đức T1 từ 07 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung bị cáo T1 từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ sung quỹ nhà nước.
Về vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
+ Truy thu để sung quỹ Nhà nước số tiền 17.920.000 dùng để đánh bạc như sau: của Lương Thị D 5.120.000.000đ; của Hoàng Đức T1 12.800.000đ.
+ Tịch thu sung công 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số IMEI: 35672011485942 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO CPH1989, IMEI 1: 869563044247796, số IMEI2:869563044247788 là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Tịch thu tiêu huy hai sim điện thoại có số 0918.185.xxx và 0986209456
Các vật chứng nêu trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/4/2024 giữa cơ quan Công an huyện Y với Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong.
Tại phiên tòa bị cáo D không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo khi được nói lời sau cùng. Đối với bị cáo Hoàng Đức T1 trình bày chỉ mong HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt chính là phạt tiền và miễn hình phạt bổ sung và án phí vì gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, bị cáo là lao động chính trong gia đình và là người dân tộc thiểu
số thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn.
Kiểm sát viên tranh luận với bị cáo T1: Việc áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo là không khả thi vì bị cáo thuộc diện hộ nghèo, kinh tế khó khăn... Vậy VKS giữ nguyên đề nghị.
Bị cáo T1 không tranh luận gì thêm chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo khi được nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Viện kiểm sát huyện Yên Phong, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản tự thú, đầu thú và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 17 giờ 34 phút ngày 08/01/2024, tại quán nước của Lương Thị D ở cổng V3, Công ty S2, khu Công nghiệp Y thuộc thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Lương Thị D đã đánh bạc với Hoàng Đức T1 bằng hình thức mua bán số lô, số đề được thua bằng tiền qua tin nhắn điện thoại Zalo. Tổng số tiền D và T1 đánh bạc là 17.920.000 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lương Thị D và Hoàng Đức T1 về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố.
- Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an, gây bất bình trong quần chúng nhân dân và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Nên cần phải xử lý nghiêm các bị cáo và áp dụng một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về vai trò của từng bị cáo thì thấy: Đây là vụ án đồng phạm tuy nhiên chỉ là đồng phạm giản đơn, các bị cáo phạm tội không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể. Trong đó bị cáo D là người ghi số lô, đề cho T1 chơi. các đối tượng đánh bạc có vai trò ngang nhau sau khi phạm tội bị cáo D ra tự thú và bị cáo T1 ra đầu thú.
- Nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo: Các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là "Người phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo D đã ra Công an tự thú, bị cáo T1 ra đầu thú thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" quy định tại điểm i, s, r khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự; (bị cáo T1 không áp dụng điểm r tự thú)
- Tình tiết tăng nặng: Không.
- Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Đối với bị cáo T1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự nên. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên có đủ điều kiện cho hưởng án treo. Do vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo T1 ra khỏi xã hội một thời gian mà cho các bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng có thể giúp các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Đối với bị cáo D sau khi biết mình vi phạm pháp luật đã ra Công An trình báo tự thú và thành khẩn khai báo ăn lăn hối cải. Bị cáo ghi số lô số đề nhằm mục đích kiếm lời nên cần xử hình phạt chính là hình phạt tiền cũng để giáo dục dăn đe bị cáo cũng có thể giúp các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T1 đánh bạc nhằm mục đích kiếm lợi nhuận nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Đối với bị cáo cáo Dịu áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình bổ sung là phạt tiền nữa.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Số tiền dùng đánh bạc cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- + Truy thu để sung quỹ Nhà nước số tiền 17.920.000 dùng để đánh bạc như sau: của Lương Thị D 5.120.000đ; của Hoàng Đức T1 12.800.000đ.
- + Tịch thu sung công 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số IMEI: 35672011485942 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO CPH1989, IMEI 1: 869563044247796, số IMEI2:869563044247788. Tịch thu tiêu hủy hai sim điện thoại số 0986.209.xxx và 0918185178 là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội.
- Về án phí: Bị cáo D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Hoàng Đức T1 là người dân tộc (C) thiểu số thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn hơn nữa gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên miễn án phí cũng như hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo: Lương Thị D và Hoàng Đức T1 phạm tội "Đánh bạc".
- Về hình phạt:
- - Áp dụng đối với Lương Thị D theo khoản 1, Điều 321; điểm i, s, r khoản 1, Điều 51, Điều 17, 58, 35 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Lương Thị D 30 (ba mươi) triệu đồng, sung ngân sách nhà nước.
- - Áp dụng đối với Hoàng Đức T1 theo khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt: Hoàng Đức T1 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 17/4/2024. (Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo T1).
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. (Số tiền dùng đánh bạc cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước).
- + Truy thu để sung ngân sách nhà nước số tiền 17.920.000 dùng để đánh bạc như sau: của Lương Thị D 5.120.000đ; của Hoàng Đức T1 12.800.000đ.
- + Tịch thu sung công 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số IMEI: 35672011485942 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO CPH1989, IMEI 1: 869563044247796, số IMEI2:869563044247788. Tịch thu tiêu hủy hai sim điện thoại số 0986.209.xxx và 0918185178 là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Các vật chứng nêu trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/4/2024 giữa cơ quan Công an huyện Y với Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong.
- - Giao bị cáo Hoàng Đức T1 cho UBND xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lương Thị D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- - Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí HSST cho bị cáo T1.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 17/4/2024/.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Tạ Hữu Hiển |
Bản án số 53/2024/HSST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 53/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Thị Dịu, Hoàng Đức Thọ - Đánh bạc
