Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH A

TỈNH HẬU GIANG

Bản án số: 53/2024/HSST

Ngày: 16 - 8 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Thanh – Cán bộ nghỉ hưu.
  2. Ông Võ Văn Thành – Hiện là giáo viên Trường Trung học cơ sở Nhơn Nghĩa A.

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Tuấn – Là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm xử kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2024/TLST-HS, ngày 05 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Dương Hoàng B, sinh ngày 09 tháng 11 năm 1996 tại huyện C, tỉnh Hậu Giang; tên gọi khác: không có; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn) 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Hoàng V và bà Lê Thị Diễm H; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị tạm giữ từ ngày 04/3/2024 đến ngày 06/3/2024 chuyển sang biện pháp tạm giam đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Đoàn Huyền T, sinh ngày 26/5/2009, địa chỉ: ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: bà Nguyễn Thị Mỹ D (có mặt), ông Đoàn Thanh H1, địa chỉ: ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông Đoàn Thanh H1: bà Nguyễn Thị Mỹ D, địa chỉ: ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang (có mặt).

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: bà Trịnh Thị Trúc L, sinh năm: 1980 – Trợ giúp viên pháp lý hạng III của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Lê Quốc N, sinh năm: 1985, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang (có mặt).

- Người tham gia tố tụng khác:

  • + Đại diện Ủy ban nhân dân xã T (nơi bị hại lao động, sinh hoạt).
  • Nguyễn Thị Thu T1 – Phó Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ xã T (có mặt).
  • Ông Trương Toàn P – Phó bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã T (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 02/2024 thông qua mạng xã hội Facebook, Dương Hoàng B quen biết với Đoàn Huyền T, cả hai nhiều lần gặp nhau uống cà phê, đi chơi cho nhau số điện thoại, kết bạn zalo để liên lạc. Đến khoảng 10 giờ ngày 01/3/2024, B mượn xe mô tô biển số kiểm soát 95F5-0680 của ông Lê Quốc N, sinh năm 1985, địa chỉ cư trú tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang đến nhà rước T đi chơi, sau khi chở T đi ăn uống xong thì B gợi ý rủ T vào nhà nghỉ thì T đồng ý. B chở T đến nhà nghỉ C, tại ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang, B và T vào phòng số B2, tại đây B và T đã quan hệ tình dục 03 lần trên cơ sở tự nguyện, sau đó B chở T về nhà. Đến ngày 03/3/2024 bà Nguyễn Thị Mỹ D mẹ ruột bị hại nghi ngờ nên tra hỏi thì T nói cho bà D biết đã quan hệ tình dục B nên bà D đến Công an xã T trình báo sự việc.

Tại Giấy chứng nhận thương tích số 01/CN-TTYT ngày 04/3/2024 của Trung tâm y tế huyện C thể hiện: Đoàn Huyền T, vào viện lúc 14 giờ 30 phút ngày 04 tháng 3 năm 2024; ra viện lúc 15 giờ ngày 04/3/2024. Khám toàn thân: vùng đầu, mặt, cổ không thấy thương tích, vùng ngực, vùng bụng tứ chi không thấy thương tích; khám chuyên khoa: âm đạo không vết trầy xước, âm hộ vị trí 12h đỏ, màng trinh đã rách cũ vị trí 3h, 6h, 9h.

Tại Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 10/KLTDTE-TTPYCT ngày 06/3/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế thành phố C đã kết luận: hiện tại toàn thân không vết bầm tím. Môi lớn và môi bé không vết trầy xước, không vết bầm tím. Âm hộ và tầng sinh môn không vết trầy xước, không vết bầm tím. Màng trinh giãn rộng, có 02 vết rách cũ ở vị trí 03 giờ và 09 giờ.

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tổn thương ở màng trinh của Đoàn Huyền T không có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Soi tươi tìm tinh trùng: tìm không thấy tinh trùng.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô biển số kiểm soát 95F5-0680; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu trắng bạc, có gắn sim số 0763549046 của Dương Hoàng B; 01 điện thoại di động nhãn hiệu vivo, màu đen xanh, có gắn sim số 0768816460 của Đoàn Huyền T; 01 quần dài caro màu xám đen, 01 áo thun tay ngắn màu cà phê sữa phía trước có hình trái tim màu hồng, 01 áo ngực màu hồng, 01 quần lót màu kem.

Cáo trạng số 49/CT-VKS-HCTA ngày 03/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A đã truy tố Dương Hoàng B về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a khoản 2 Điều 145 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A luận tội và giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố đối với bị cáo B. Phân tích hành vi, tính chất, mức độ, nguyên nhân phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ khác. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Hoàng B phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Dương Hoàng B mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2024.

Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra bị cáo B tác động gia đình thỏa thuận bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 18.000.000 đồng và bị hại và bà Nguyễn Thị Mỹ D đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị không xem xét.

Về vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 46 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại 01 xe mô tô biển số kiểm soát 95F5-0680 cho ông Lê Quốc N.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu trắng bạc, có gắn sim số 0763549046 của Dương Hoàng B.

Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu vivo, màu đen xanh, có gắn sim số 0768816460 cho Đoàn Huyền T.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 quần dài caro màu xám đen, 01 áo thun tay ngắn màu cà phê sữa phía trước có hình trái tim màu hồng, 01 áo ngực màu hồng, 01 quần lót màu kem.

Tại phiên toà:

Bị cáo Dương Hoàng B thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Nguyễn Thị Mỹ D trình bày: về trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên yêu cầu miễn trách nhiệm hình sự hoặc xin giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự đã nhận bồi thường thiệt hại 18.000.000 đồng xong nên không yêu cầu gì thêm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại bà Trịnh Thị Trúc L phát biểu quan điểm: thống nhất quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản áp dụng và mức hình phạt. Về trách nhiệm dân sự đã thỏa thuận bồi thường xong, phía bị hại và đại diện hợp pháp không yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xem xét giải quyết.

Đại diện Ủy ban nhân dân xã TNguyễn Thị Thu T1, ông Trương Toàn P phát biểu ý kiến: sau khi sự việc em T bị xâm hại tình dục thì đoàn thể của xã kịp thời đến thăm hỏi, động viên tinh thần bị hại, thời gian tới chính quyền, đoàn thể tiếp tục phối hợp với gia đình theo dõi và sẵn sàng hỗ trợ, giúp đỡ em T để em nâng cao nhận thức, tự bảo vệ bản thân và tạo mọi điều kiện để em hết tự ti mặc cảm, sống vui tươi như các em cùng trang lứa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật quy định. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo; bị hại; người đại diện hợp pháp cho bị hại; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện xem là hợp pháp.

[2] Về tố tụng: tại phiên tòa vắng mặt bị hại, bị hại đã nghỉ học trước khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên không cần thiết phải có mặt của đại diện Nhà trường mà trước đây bị hại học tập; đối với Ủy ban nhân dân xã T có cử đại diện Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên tham gia phiên toà để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại là người dưới 18 tuổi theo quy định là phù hợp.

[3] Xét về trách nhiệm hình sự của bị cáo: tại phiên tòa bị cáo Dương Hoàng B thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị hại; của người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tình tiết chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng tháng 2 năm 2024 bị cáo Dương Hoàng B và bị hại Đoàn Huyền T quen biết nhau qua mạng xã hội facebook, cả hai hẹn gặp nhau và cho số điện thoại, kết bạn zalo thường nhắn tin qua lại và thường hẹn nhau đi chơi, ăn uống và nảy sinh tình cảm yêu thương nam, nữ. Bị cáo B là người đã thành niên, bị cáo vì động cơ và mục đích muốn được thỏa mãn nhu cầu về sinh lý tình dục mà bỏ mặc việc tìm hiểu tuổi của bị hại, quen biết nhau không xin phép cha mẹ bị hại, đã chủ động rủ bị hại vào nhà nghỉ để thực hiện hành vi giao cấu. Cụ thể, trong ngày 01/3/2024 bị cáo thừa nhận cùng bị hại Trân vào nhà nghỉ C, tại ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang, tại đây đã giao cấu với bị hại Trân 03 lần sau đó bị gia đình bị hại phát hiện, tố giác hành vi phạm tội; về số lần giao cấu phù hợp với lời khai của bị hại T. Kết quả điều tra làm rõ, xác định được bị hại Đoàn Huyền T sinh ngày 26/5/2009, tức thời điểm bị cáo thực hiện hành vi giao cấu bị hại T trong thời gian độ tuổi từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi nên hành vi của bị cáo B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” với tình tiết tăng nặng định khung hình phạt “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A truy tố về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a khoản 2 Điều 145 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có

[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay nhận thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại xong là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo đầu thú, gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, tại phiên toà xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ đủ điều kiện nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhằm thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

[6] Xét đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo của người đại diện hợp pháp cho bị hại: hành vi phạm tội của bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 29 của Bộ luật Hình sự nên việc xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự là không có căn cứ chấp nhận nên chỉ xem đây là tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà Hội đồng xét xử đã nhận định và áp dụng cho bị cáo được hưởng tại phần [5].

[7] Xét hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm sự phát triển bình thường về tinh thần, thể chất, sinh lý lứa tuổi, sự phát triển bình thường của người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (bị hại Trân). Hiện nay, tình trạng xâm hại tình dục trẻ em có xu hướng gia tăng gây bức xúc trong xã hội, để lại tổn thương lâu dài cho bị hại về tinh thần, tâm lý và ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em về sau. Vì vậy, hành vi này của bị cáo là rất nguy hiểm nên cần có hình phạt tương xứng cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt, đồng thời nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm.

[8] Xét về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra đã thỏa thuận bồi thường xong, phía bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[9] Về vật chứng:

Đối với xe mô tô dáng xe Wave màu sơn đen, biển số kiểm soát 95F5-0680, số máy VTTJL1P52FMHE012462, số khung RRKWCHBUM5X012462 quá trình điều tra xác minh được do Nguyễn Hữu P1, địa chỉ ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang đứng tên đăng ký xe. Ông Lê Quốc N khai nhận mua lại xe cũ tại Vị Thanh khoảng 15 năm nhưng chưa sang tên, ông N cho bị cáo mượn, việc bị cáo dùng làm phương tiện chở bị hại T đi chơi sau đó thực hiện hành vi phạm tội giao cấu ông N không biết nên trả lại cho ông N.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu trắng bạc, có gắn sim số 0763549046 của Dương Hoàng Bảo chứng m được bị cáo có nhắn tin và gửi hình dương vật của bị cáo nhằm mục đích phạm tội và tại phiên toà bị cáo đồng ý để tịch thu không yêu cầu nhận lại nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu vivo, màu đen xanh, có gắn sim số 0768816460 của bị hại Đoàn Huyền T không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị hại Trân.

Đối với 01 quần dài caro màu xám đen, 01 áo thun tay ngắn màu cà phê sữa phía trước có hình trái tim màu hồng, 01 áo ngực màu hồng, 01 quần lót màu kem của bị hại Trân, tại phiên toà người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị tịch thu tiêu huỷ, xét các đồ vật này không có giá trị nên chấp nhận đề nghị tịch thu tiêu huỷ.

[10] Xét quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và ý kiến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại của bà Trịnh Thị Trúc L là phù hợp, có căn cứ nên chấp nhận.

[11] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Dương Hoàng B phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Căn cứ các Điều 329, 331, 332 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

  1. Xử phạt: Dương Hoàng B 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2024. Ra quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày xét xử sơ thẩm để đảm bảo cho việc thi hành án.
  2. Về trách nhiệm dân sự: đã bồi thường xong nên không xem xét.
  3. Về xử lý vật chứng: căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

    Trả lại 01 mô tô biển số kiểm soát 95F5-0680, số máy VTTJL1P52FMHE012462, số khung RRKWCHBUM5X012462 cho ông Lê Quốc N.

    Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu trắng bạc, có gắn sim số 0763549046 của Dương Hoàng B.

    Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu vivo, màu đen xanh, có gắn sim số 0768816460 đã qua sử dụng cho Đoàn Huyền T (việc giao trả được thực hiện có người đại diện hợp pháp nhận) theo quy định pháp luật.

    Tịch thu tiêu huỷ 01 quần dài caro màu xám đen, 01 áo thun tay ngắn màu cà phê sữa phía trước có hình trái tim màu hồng, 01 áo ngực màu hồng, 01 quần lót màu kem.

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Dương Hoàng B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
  5. Về quyền kháng cáo: bị cáo; bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 16/8/2024; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 16/8/2024.

*Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Hậu Giang;
  • - Viện KSND huyện Châu Thành A;
  • - Công an huyện Châu Thành A;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành A;
  • - Bị cáo, những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HSST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

  • Số bản án: 53/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố phạm tội, phạt 02 năm tù giam
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger