TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2024/HSST Ngày 14 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: bà Lê Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Bá Tấn - bà Đồng Thị Lý
- Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Bá Kiên - Chức vụ: Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa: bà Vũ Thị Ngân - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2024/TLST-HS, ngày 30 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Phan Thị Quỳnh T (tên gọi khác: Không): Giới tính: Nữ. Sinh ngày 28 tháng 9 năm 2002 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm V, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do: Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Trình độ học vấn: 12/12. Con ông Phan Văn T1 và bà Nguyễn Thị H. Chồng: Vũ Đình H1 và 01 con. Tiền án, tiền sự: Không. Tạm giữ, tạm giam: Không, tại ngoại (có mặt).
- Bị hại: chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1990, trú tại xóm N, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Phan Thị Quỳnh T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố về hành vi phạm tội như sau: Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 03/3/2024, Phan Thị Quỳnh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Jupiter màu đỏ, biển kiểm soát 37P1 - 002.78 (xe của ông Trần Văn L, sinh năm 1976, trú tại xóm T, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An giao cho Phan Văn T1, sinh năm 1977, trú tại xóm N, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An quản lý, sử dụng) đi từ nhà đến Đền C xóm T, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An thắp hương. Khi đến Đền C, T dựng xe ở sân bóng chuyền thuộc khuôn viên của Đền C. Khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1990, cùng xóm, xã với Phan Văn T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirus màu đen, biển kiểm soát 37P5 - 5288 đi từ nhà đến Đền Cả thắp hương. Đến nơi chị H2 dựng xe bên cạnh xe của T. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi thắp hương xong, T đi lấy xe mô tô thì nhìn thấy xe mô tô của chị H2 dựng trước xe mình, không có người trông coi nên nảy sinh ý định móc cốp xe của chị H2 để trộm cắp tài sản. Phan Thị Quỳnh T đi đến cạnh xe của chị H2 dùng tay phải kéo một bên yên xe lên, tay trái thò vào trong cốp xe mô tô lấy ra 01 chiếc ví da màu xanh xám rồi cất chiếc ví này vào túi áo bên trái đang mặc trên người, lấy xe mô tô điều khiển đi đến khu vực Cầu S thuộc xã T, huyện Y. Khi đến nơi, T dừng lại mở ví kiểm tra thì thấy có một số giấy tờ của chị H2 và thẻ ATM ngân hàng V mang tên Nguyễn Thị H2, 01 mảnh giấy ghi chú màu vàng, trên tờ giấy ghi mật khẩu 212123. Sau đó, T mang theo ví đến cây ATM ở thị trấn Y nhập mật khẩu thành công, màn hình hiển thị T kiểm tra số sư trong thẻ thấy có 23.000.000 đồng. Sau đó rút thẻ cầm giấy nhớ cất vào túi áo bên trái đang mặc và điều khiển xe mô tô đi đến Trung tâm hội nghị huyện Y, vứt chiếc ví ở trên đường cách cổng Trung tâm khoảng 50m rồi đi về nhà bố đẻ là ông Phan Văn T1. Đến khoảng 19 giờ 00 phút, T điều khiển xe mô tô đi đến cây ATM ở xóm C xã D huyện D để rút tiền. Tại đây trong khoảng thời gian từ 19 giờ 17 phút đến 19 giờ 33 phút, T thực hiện 7 lần rút tiền từ tài khoản của chị H2 tổng số tiền 23.000.000 đồng. Rút xong tiền T cất tiền, cất thẻ ATM và tờ giấy ghi chú vào túi áo, điều khiển xe mô tô đi đến Cầu S xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Tại đay T vứt thẻ ATM và tờ giấy ghi chú xuống sông rồi đi về nhà. Số tiền T đã trộm cắp được của chị Hòa T2 đã tiêu xài cá nhân hết. Ngày 06/3/2024, chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1986, trú tại, khối B, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An (là người nhặt được chiếc ví của chị H2) đã giao nộp cho Công an huyện Y. Ngày 07/3/2024 T2 đến Cơ quan Công an huyện Y đầu thú về hành vi của mình. Tại kết luận định giá tài sản số 10/KL - HĐ ĐGTS ngày 09/4/2024 của Hội đồng định giá huyện Y kết luận. - 01 chiếc ví da màu xám xanh, có kích thước (18x8) cm, không có nhãn hiệu, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm ngày 03/3/2024 là 10.000 đồng. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Y, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Tại bản cáo trạng số: 54/CT-VKS-YT ngày 30/5/2024 của VKSND huyện Yên Thành đã truy tố: Bị cáo Phan Thị Quỳnh T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b,s,i khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2 Điều 65 BLHS: Xử phạt: Phan Thị Quỳnh T từ 12 -15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 24 tháng - 30 tháng. -Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. - Về vật chứng: +/ Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 37P1 - 002.78 đã qua sử dụng, xã đăng ký tên Trần Văn L, sinh năm 1976, trú tại, xóm T, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ an. Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại chiếc xe cho ông Phan Văn T1 (là người được L uỷ quyền nhận lại xe), do ông L và ông T1 không biết T dùng xe để đi trộm cắp tài sản. +/ Đối với 01 áo khoác màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu kem, trên mũ có chữ "Hello kitty” và 01 đôi dép nhựa màu đen, đều đã qua sử dụng xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ. (Vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An). +/Chị Nguyễn Thị M giao nộp 01 chiếc ví da màu xám xanh, có kích thước (18x8) cm, không có nhãn hiệu, đã qua sử dụng, không có nhãn hiệu; 01 thẻ căn cước công dân; 01 thẻ bảo hiểm y tế; 01 giấy phép lái xe đều mang tên Nguyễn Thị H2. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Y đã trả lại cho chị H2. +/ Đối với 01 thẻ ATM ngân hàng V1 mang tên Nguyễn Thị H2 và 01 tờ giấy ghi chú màu vàng ghi dãy số 212123, T đã vứt ở Cầu S xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Công an đã truy tìm nhưng không thấy. -Về phần dân sự: Bị hại chị H2 đã được gia đình bị cáo bồi thường thiệt hại đầy đủ số tiền 23.000.000 đồng và không có yêu cầu gì thêm. - Án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo không tranh luận gì thêm, chỉ đề nghị HĐXX xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Xét về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, điều tra viên; của Viện kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Căn cứ buộc tội: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Bị cáo Phan Thị Quỳnh T đã dùng tay thò vào cốp xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen, biển kiểm soát 37P5 - 5288 của chị Nguyễn Thị H2 lấy 01 chiếc ví da màu xám xanh, bên trong có thẻ ATM ngân hàng V1 và 01 tờ giấy ghi chú có ghi dãy số 212123 của chị H2. Bị cáo T đã đến cây ATM tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An rút 23.000.000 đồng trong thẻ ATM của chị H2 về tiêu xài cá nhân hết. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố bị cáo Phan Thị Quỳnh T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[4] Về tính chất vụ án: Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng tại địa phương, xâm phạm đến tài sản của công dân được nhà nước bảo vệ đã gây tâm lý lo lắng trong quàn chúng nhân dân. Vì vậy, cần xử lý bằng biện pháp hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên với số tiền không lớn, bị cáo không có tình tiết tăng nặng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã khắc phục bồi thường cho bị hại là chị H2; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nêu trên, có nơi cư trú rõ ràng; ngoài lần phạm tội này tại địa phương bị cáo luôn chấp hành tốt các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương cùng gia đình giám sát, giáo dục như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra phải áp dụng khoản 5 điều 173 BLHS phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo nhưng xét bị cáo không có nghề nghiệp hay thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 điều 106 BLTTHS.
+/ Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 37P1 - 002.78 đã qua sử dụng, xã đăng ký tên Trần Văn L, sinh năm 1976, trú tại, xóm T, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ an. Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại chiếc xe cho ông Phan Văn T1 (là người được L uỷ quyền nhận lại xe), do ông L và ông T1 không biết T dùng xe để đi trộm cắp tài sản.
+/ Đối với 01 áo khoác màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu kem, trên mũ có chữ "Hello kitty” và 01 đôi dép nhựa màu đen, đều đã qua sử dụng xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ. (Vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An).
+/Chị Nguyễn Thị M giao nộp 01 chiếc ví da màu xám xanh, có kích thước (18x8) cm, không có nhãn hiệu, đã qua sử dụng, không có nhãn hiệu; 01 thẻ căn cước công dân; 01 thẻ bảo hiểm y tế; 01 giấy phép lái xe đều mang tên Nguyễn Thị H2. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Y đã trả lại cho chị H2.
+/ Đối với 01 thẻ ATM ngân hàng V1 mang tên Nguyễn Thị H2 và 01 tờ giấy ghi chú màu vàng ghi dãy số 212123, T đã vứt ở Cầu S xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Công an đã truy tìm nhưng không thấy.
-Về phần dân sự: Bị hại chị H2 đã được gia đình bị cáo bồi thường thiệt hại đầy đủ số tiền 23.000.000 đồng và không có yêu cầu gì thêm.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Về tội danh, hình phạt:
+/ Căn cứ: khoản 1 Điều 173, điểm i, s,b khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 BLHS
Xử phạt: Phan Thị Quỳnh T 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Trộm cắp tài sản"
Giao bị cáo Phan Thị Quỳnh T cho UBND xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 Luật thi hành án hình sự.
[2]. Về vật chứng: Căn cứ 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 điều 106 BLTTHS,
+/ Tịch thu tiêu huỷ: 01 áo khoác màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu kem, trên mũ có chữ "Hello kitty” và 01 đôi dép nhựa màu đen, đều đã qua sử dụng thu giữ của Phan Thị Quỳnh T xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
(Số vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An. Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Y có trách nhiệm chuyển giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Yên Thành tiêu hủy)
[3] Án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Phan Thị Quỳnh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án lên Toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo lên Toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bán án niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận: - VKSND H. Yên Thành - TAND tỉnh Nghệ An - THA DS H. Yên Thành - Bị cáo; - Lưu HS vụ án - UBND xã - Sở tư pháp tỉnh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Nhung |
Bản án số 53/2024/HSST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 53/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thị Quỳnh Trang phạm tội trộm cắp tài sản
