|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 53/2024/HSPT Ngày: 18- 11 -2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Nguyễn Thị Thương Huyền
- Các Thẩm phán: Ông Bùi Minh Thư và bà Trần Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 106/2024/TLPT- HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Trần Quốc L, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HS-ST ngày 08- 8 -2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
* Bị cáo kháng cáo: Trần Quốc L, sinh ngày: 01/5/1991, tại xã Í, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn B, xã Í, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đảng phái: Quần chúng; Con ông Trần Quốc T, sinh năm 1960, trú tại thôn B, xã Í, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh và con bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1962 (đã chết); Vợ Đặng Thị H, sinh năm 1995, trú tại thôn B, xã Í, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Con: Có 02 đưa, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/01/2024 đến ngày 02/02/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, tại xã Í, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 02/02/2024 cho nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác nhưng không kháng cáo, không liên quan đến nội dung kháng cáo của bị cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2023 đến khoảng cuối tháng 01/2024, thông qua các trang mạng xã hội, Trần Quốc L đã đặt mua 100 quả pháo thành phẩm, 140 lõi pháo, 1,7kg thuốc pháo và các vỏ quả pháo, nguyên liệu và một số tiền chất khác với tổng số tiền trên 7.700.000 đồng, tiến hành lắp ghép, gia công, chế tạo được 23 hộp pháo nổ loại 09 quả, còn thừa lại 20 lõi pháo. Sau khi sản xuất được pháo H1 đã cho Nguyễn Đức Hồng S và bán cho Thái Khắc H1 số lượng 23 hộp pháo, quá trình điều tra đã thu giữ được 15 hộp pháo và số thuốc pháo còn lại chưa sản xuất có tổng khối lượng 19,05kg, còn 08 hộp pháo loại 09 quả do H1 đã sử dụng hết không thu giữ được.
Thông qua Nguyễn Đức Hồng S, Trần Quốc L đã 03 lần bán pháo cho Thái Khắc H1, trong đó có 01 lần có khối lượng trên 06 kg và 02 lần dưới 06, với tổng 22 hộp pháo loại 09 quả. Đã thu giữ được để giám định 14 hộp pháo loại 09 quả có khối lượng 16,77kg, còn 08 hộp pháo loại 09 quả H1 đã sử dụng không thu giữ được. Lệ đã nhận tiền do Nguyễn Đức Hồng S trả trực tiếp và chuyển khoản 02 lần với tổng số tiền 8.000.000 đồng.
Nguyễn Đức Hồng S đã 03 lần giúp sức cho Trần Quốc L bán pháo cho Thái Khắc H1, trong đó 01 lần có khối lượng trên 06 kg và 02 lần dưới 06 kg, với tổng 22 hộp pháo loại 09 quả và được lệ cho 01 hộp pháo loại 09 quả. Đã thu giữ được để giám định 15 hộp, với tổng khối lượng 18,41kg gồm: 14 hộp pháp loại 09 quả đã bán cho H1 có khối lượng 16,77kg và 01 hộp được Lệ cho, S cất để sử dụng và khi cần tiền sẽ bán có khối lượng 1,64kg; còn 08 hộp pháo loại 09 quả H1 đã sử dụng không thu giữ được. S đã nhận từ Thái Khắc H1 03 lần với tổng số tiền 16.000.000 đồng, S đã chuyển cho L 02 lần với tổng số tiền 8.000.000 đồng; S thu lợi bất chính 1.000.000 đồng; còn 7.000.000 đồng, S chưa thanh toán cho L và H1.
Thái Khắc H1 thông qua Nguyễn Đức Hồng S đã 03 lần mua tổng 22 hộp pháo nổ loại 09 quả của Trần Quốc L, trong đó có 01 lần có khối lượng trên 06 kg và 02 lần dưới 06, với tổng 22 hộp pháo loại 09 quả; H1 sử dụng hết 08 hộp, còn lại 14 hộp đã bị thu giữ, giám định với tổng khối lượng 16,77kg, cộng với 01 hộp pháo loại 49 quả H1 đã mua của một người không rõ họ tên tại Quảng Trị về cất dấu và đã bán cho Phan Xuân T1 có khối lượng 1,8Kg. Tổng cộng 15 hộp pháo nổ với tổng khối lượng 18,57kg. Thái Khắc H1 đã 03 lần chuyển cho Nguyễn Đức Hồng S với tổng số tiền là 16.000.000 đồng; H1 đã nhận từ Phan Xuân T1 6.700.000 đồng, nhưng mới đưa cho T1 03 hộp pháo với giá 3.600.000 đồng, thu lợi bất chính 1.900.000 đồng và nhận từ Phạm Quang T2 số tiền mua 05 hộp pháo loại 09 với giá 5.500.000 đồng.
Tại kết luận giám định số 383/KL-KTHS ngày 07/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận:
- - 01 khối trụ hình chữ nhật, kích thước (10,5 x 10,5 x 20)cm được tạo thành bởi 09 ống trụ tròn liên kết với nhau, mỗi ống trụ tròn có đường kính 3,5cm, cao 20cm, bao bọc khối trụ bên ngoài là lớp ni lông trong suốt (đã bị ướt), thu giữ khi khám xét khẩn cấp chổ ở của Nguyễn Đức Hồng S, có khối lượng là 1,64kg là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (Có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ);
- - 06 ống trụ tròn có đường kính 2,8cm, cao 6,5cm, hai đầu bịt kín, một đầu có gắn dây dẫn màu xanh, thu giữ khi khám xét khẩn cấp chổ ở của Trần Quốc L, có khối lượng là 0,3kg là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (Có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ); 14 ống trụ tròn có đường kính 2,3cm, cao 6cm, hai đầu bịt kín, một đầu gắn dây dẫn màu xanh, thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Quốc L, có khối lượng là 0,34kg là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (Có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ);
Tại kết luận giám định số 384/KL-KTHS ngày 07/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Các hạt hình cầu màu đen được đựng trong 01 hộp nhựa kích thước (9 x 9 x 10,5)cm, bên trên có nắp hình tròn màu xanh, đường kính 8cm, bên ngoài hộp ghi chữ “thenolich” “red”, có khối lượng là 0,22kg và chất bột màu đen được đựng trong 01 hộp nhựa kích thước (9x9x10,5)cm, bên trên có nắp hình tròn màu trắng, đường kính 8cm, bên ngoài hộp ghi chữ “MG”, có khối lượng là 0,04kg, thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Quốc L đều là thuốc pháo nổ;
Chất bột màu vàng được đựng trong 01 bọc nilon trong suốt, có nhãn ghi “Bột lưu huỳnh”, có khối lượng là 0,55kg; chất bột màu đen được đựng trong 01 túi nilon, có khối lượng là 1,02; chất bột màu trắng được đựng trong một túi nilon, mép túi được dán bằng băng dính màu vàng, có khối lượng là 01kg; chất bột màu xám được đựng trong 01 hộp nhựa kích thước (9 x 9 x 10,5)cm, bên trên có nắp hình tròn màu đỏ đường kính 8cm, bên ngoài hộp ghi chữ “Đỏ” “MgaL”, có khối lượng là 0,55kg; chất bột màu trắng được đựng trong 01 hộp nhựa kích thước (9 x 9 x 10,5)cm, bên trên có nắp hình tròn màu đỏ đường kính 8cm, bên ngoài hộp ghi chữ “BaC03”, có khối lượng là 0,15kg; chất bột màu trắng được đựng trong một hộp nhựa kích thước (9 x 9 x 10,5)cm, bên trên có nắp hình tròn màu trắng đường kính 8cm, bên ngoài hộp ghi chữ “P”, có khối lượng là 0,12 kg, thu giữ khi khám xét chỗ ở của Trần Quốc L, đều không phải là thuốc pháo nổ.
Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 36/2024/HS-ST, ngày 08/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh đã tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Quốc L phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”; Nguyễn Đức Hồng S, Thái Khắc H1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Về hình phạt:
- Áp dụng Điểm c Khoản 1, Khoản 4 Điều 190; Khoản 2 Điều 35; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quốc L 26 (Hai sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án. Khấu trừ thời gian tạm giữ cho bị cáo từ ngày 28/01/2024 đến ngày 02/02/2024 vào thời gian thi hành án. Phạt bổ sung 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng)
- - Áp dụng Điểm c Khoản 1, Khoản 4 Điều 190; Khoản 2 Điều 35; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Hồng S 20 (Hai mươi) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 40 (Bốn mươi) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08/8/2024). Phạt bổ sung 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng)
- - Áp dụng Điểm c Khoản 1, Khoản 4 Điều 190; Khoản 2 Điều 35; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Thái Khắc H1 20 (Hai mươi) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 40 (Bốn mươi) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08/8/2024). Phạt bổ sung 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
Giao bị cáo Nguyễn Đức Hồng S cho Ủy ban nhân dân xã Í, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Giao bị cáo Thái Khắc H1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí, quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Ngày 14/8/2024, bị cáo Trần Quốc L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; khoản 2 Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Quốc L. Sửa Bản án sơ thẩm số 36/2024/HS-ST, ngày 08/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xử bị cáo Trần Quốc L 26 (Hai sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 52 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Trần Quốc L trong hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- [2]. Về nội dung:
- [2.1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Quốc L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm. Do đó đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2023 đến khoảng cuối tháng 01/2024, thông qua các trang mạng xã hội, Trần Quốc L đã đặt mua 100 quả pháo thành phẩm, 140 lõi pháo, 1,7kg thuốc pháo và các vỏ quả pháo, nguyên liệu và một số tiền chất khác với tổng số tiền trên 7.700.000 đồng, tiến hành lắp ghép, gia công, chế tạo được 23 hộp pháo nổ loại 09 quả, còn thừa lại 20 lõi pháo. Sau khi sản xuất được pháo bị cáo đã cho Nguyễn Đức Hồng S và bán cho Thái Khắc H1 số lượng 23 hộp pháo, quá trình điều tra đã thu giữ được 15 hộp pháo và số thuốc pháo còn lại chưa sản xuất có tổng khối lượng 19,05kg, còn 08 hộp pháo loại 09 quả do H1 đã sử dụng hết không thu giữ được. Thông qua Nguyễn Đức Hồng S, Trần Quốc L đã 03 lần bán pháo cho Thái Khắc H1, trong đó có 01 lần có khối lượng trên 06 kg và 02 lần dưới 06, với tổng 22 hộp pháo loại 09 quả. Đã thu giữ được để giám định 14 hộp pháo loại 09 quả có khối lượng 16,77kg, còn 08 hộp pháo loại 09 quả H1 đã sử dụng không thu giữ được. Lệ đã nhận tiền do Nguyễn Đức Hồng S trả trực tiếp và chuyển khoản 02 lần với tổng số tiền 8.000.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai.
- [2.2]. Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Trần Quốc L, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những vi phạm đến chế độ quản lý về vật liệu nổ của Nhà nước mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội, đe dọa đến sức khỏe và tính mạng của con người. Vì vậy, cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo mức án 26 tháng tù về tội danh nêu trên là phù hợp với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Quốc L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trước khi xét xử đã tự nguyện nộp lại khoản tiền thu lợi bất chính là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp chứng cứ, tài liệu mới là Biên lai nộp tiền phạt bổ sung 30.000.000đồng, có bố đẻ là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến vẻ vang. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét áp dụng cho bị cáo khi lượng hình. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Trần Quốc L là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cải biện pháp chấp hành án, cho bị cáo được hưởng án treo để tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương nơi bị cáo cư trú, nhằm thể hiện sự khoan hồng và tính nhân đạo của pháp luật đối với bị cáo.
- [3] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án, kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Quốc L. Sửa Bản án sơ thẩm số 36/2024/HS-ST, ngày 08 - 8 - 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, cải biện pháp chấp hành án cho bị cáo.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190, khoản 2 Điều 35, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Quốc L phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Quốc L 26 (Hai mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 52 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Trần Quốc L cho Ủy ban nhân dân xã Í, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Nếu người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự
- Về án phí: Bị cáo Trần Quốc L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương Huyền |
Bản án số 53/2024/HSPT ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 53/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Tội Sản xuất, buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Quốc L phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”.
