TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2024/HS-ST Ngày 14/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thế Dũng và bà Lý Thúy Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Chi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Trần Hà Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 53/2024/TLST-HS, ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST- HS ngày 03/6/2024, đối với bị cáo:
Lưu Văn H; sinh ngày 01/4/1986 tại huyện T, thành phố Hà Nội;
Cư trú tại: Thôn H, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội;
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không;
Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không;
Con ông: Lưu Văn Đ, sinh năm 1944 và bà: Lê Thị T, sinh năm 1958; có vợ là: Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1989 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2018;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Quàng Văn T1, sinh năm 1999;
Cư trú tại Tiểu khu H, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La;
Vắng mặt có lý do.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 2005; cư trú tại tổ dân phố A, phường P, thành phố T; có đơn xin vắng mặt.
+ Anh Lương Văn T2, sinh năm 1995; cư trú tại thôn I, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; có đơn xin vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh Lê Văn P, sinh năm 1990; cư trú tại thôn H, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội;
+ Ông Trương Thái H3, sinh năm 1978; cư trú tại tổ dân phố N, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc;
+ Ông Nguyễn Đức G, sinh năm 1962; cư trú tại tổ dân phố C, phường T, thành phố T;
+ Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1963; cư trú tại xóm H, xã T, thành phố T;
+ Anh Trần Vương T3, sinh năm 1998; cư trú tại tổ dân phố A, phường T, thành phố T;
+ Anh Nguyễn Cảnh T4, sinh năm 1999; cư trú tại xóm E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An;
+ Anh Đinh Đức Q, sinh năm 1987; cư trú tại tổ dân phố B, phường M, thành phố T;
+ Anh Lê Mạnh H4, sinh năm 2006; cư trú tại tổ dân phố G, phường H, thành phố T;
+ Chị Hồ Thị H5, sinh năm 1993; cư trú tại tiểu khu P, thị trấn P, huyện P, thành phố Hà Nội;
+ Chị Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1990; cư trú tại thôn H, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội;
(Ông S và chị H1 có mặt; những người còn lại vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 20/9/2023, bị cáo Lưu Văn H, trú tại thôn H, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội và Lê Văn P, trú tại thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông cùng đẩy 02 xe hàng bán nước, đồ ăn vặt đến bán hàng tại Q N, thuộc tổ dân phố C, phường T, thành phố T. Thời điểm này tại khu vực Quảng trường Nguyễn Tất T5 có tổ chức Hội chợ thương mại và du lịch tỉnh Tuyên Quang, bị cáo H và P mỗi người đẩy 01 xe hàng rong vào khu vực hội chợ thì bị anh Trương Thái H3, trú tại tổ dân phố N, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc và anh Quàng Văn T1, trú tại tiểu khu H, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La (anh H3 và anh T1 là nhân viên Công ty TNHH T6, trụ sở đặt tại G, ngõ F, phố T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội, được giao nhiệm vụ quản lý, lắp đặt gian hàng và đảm bảo an ninh trật tự tại các gian hàng trong hội chợ) và các nhân viên bảo vệ gồm ông Nguyễn Đức G, trú tại tổ C, phường T, thành phố T; ông Nguyễn Văn S, trú tại xóm H, xã T, thành phố T (ông G và ông S là nhân viên Công ty TNHH D, trụ sở đặt tại tại tổ A, phường T, thành phố T) đến yêu cầu bị cáo H và anh P đưa xe bán hàng ra khỏi khu vực hội chợ. Anh P và bị cáo H đẩy xe lên vỉa hè khu vực Quảng trường Nguyễn Tất T5 thì các anh H3, T1 và ông G, ông S tiếp tục yêu cầu bị cáo H và anh P đẩy xe hàng ra khỏi khu vực hội chợ, lúc này giữa anh T1 và bị cáo H xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, anh T1 dùng tay đấm vào mặt bị cáo H, bị cáo H đấm lại anh T1, sau đó anh P chạy đến dùng tay trái ghì cổ anh T1 và dùng tay phải đấm vào vùng mặt, bụng anh T1, sau đó cả hai giằng co, anh P ngã xuống đường. Anh H3 vào can dùng chân phải đạp vào chân trái anh P. Sau đó anh T1 và anh P tiếp tục dùng tay chân đánh nhau. Bị cáo H thấy anh P bị đánh nên chạy về phía xe bán nước của anh P lấy 01 con dao bằng kim loại dài 20cm (chuôi nhựa màu vàng, lưỡi dao dài 10,2cm, chỗ rộng nhất bản dao 2,5cm) cầm dao bằng tay phải, đứng phía sau chếch về phía bên phải, cách anh T1 khoảng 50cm, dùng dao đâm 01 phát về phía anh T1 nhưng không trúng, bị cáo H đâm phát thứ hai thì trúng vùng ngực bên phải anh T1 xong bị cáo H bỏ chạy thì bị ngã, bị cáo H tiếp tục đứng dậy bỏ chạy và vứt con dao vào chậu cây cảnh tại khu vực Quảng trường N, sau đó bị lực lượng Công an bảo vệ hội chợ giữ lại, sự việc chấm dứt.
Hồi 10 giờ 35 phút ngày 21/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với bị cáo Lưu Văn H.
Tại Kết luận giám định số 225/2023/KLTTCT-TTPY ngày 22/9/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận thương tích của Quàng Văn T1:
- Khoang liên sườn VI-VIII đường nách trước bên phải có vết thương kích thước (2,2 x 0,1)cm, còn hai mũi chỉ khâu, hướng chếch từ trên xuống dưới, từ sau ra trước.
- Khoang liên sườn V-VI đường nách giữa bên phải có dẫn lưu kín khoang màng phổi.
1. Các kết quả chính:
- Vết thương vùng ngực phải: 01%.
- Tổn thương màng phổi phải: 04%.
- Tổn thương nhu mô phổi phải: 08%.
- Dẫn lưu màng phổi phải: 01%.
2. Kết luận:
Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Quàng Văn T1 tại thời điểm giám định là 13% (Mười ba phần trăm) theo phương pháp cộng tại thông tư.
Cơ chế gây thương tích: Thương tích như trên là do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên.
Tại Kết luận giám định dấu vết máu số: 1296/KL-KTHS ngày 04/10/2023 của Phòng K - Công an tỉnh T, kết luận:
- Trên con dao (ký hiệu A1) gửi giám định có máu người, thuộc nhóm máu A.
- Dấu vết trên các mẫu ký hiệu A2, A3 (vết máu thu tại hiện trường) là máu người thuộc nhóm máu A.
- Máu của Quàng Văn T1 (ký hiệu M) thuộc nhóm máu A.
Tại bản Cáo trạng số 53/CT-VKSTP ngày 21 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Lưu Văn H về tội Cố ý gây thương tích, quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự (Thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần tranh tụng, đại diện VKSND thành phố Tuyên Quang trình bày luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lưu Văn H về tội Cố ý gây thương tích và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ, khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp “dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự); điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lưu Văn H từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng, hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân xã T, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao nhọn bằng kim loại (loại dao gọt hoa quả), chuôi nhựa màu vàng, tổng chiều dài 20cm, lưỡi dao dài 10,2cm, chỗ rộng nhất bản lưỡi dao 2,5cm, phần sát đầu mũi dao bị cong vênh.
(Tình trạng vật chứng thể hiện như biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 31/5/2024).
Áp dụng các Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nhất trí với nội dung bản Luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo không trình bày lời bào chữa và chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện nhiệm vụ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên toà Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Bị cáo không khiếu nại, thắc mắc gì về các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lưu Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định pháp y về thương tích, biên bản xác minh, biên bản làm việc, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nhất trí với bản kết luận giám định pháp y thương tích và bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang. Bị cáo khẳng định Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội Cố ý gây thương tích là đúng người, đúng tội, không oan.
Hội đồng xét xử thấy, bị cáo Lưu Văn H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã có hành vi dùng 01 con dao nhọn bằng kim loại (loại dao gọt hoa quả), chuôi nhựa màu vàng, tổng chiều dài 20cm, lưỡi dao dài 10,2cm, chỗ rộng nhất bản lưỡi dao 2,5cm là hung khí nguy hiểm gây tổn hại về sức khỏe của anh Quàng Văn T1 13% (Mười ba phần trăm). Như vậy, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lưu Văn H phạm tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang đã truy tố.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có đơn xác nhận của chính quyền địa phương; bị hại Quàng Văn T1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
[5] Về hình phạt: Xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục, có khả năng tự cải tạo nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên chấp nhận mức án mà VKSND thành phố Tuyên Quang đề nghị áp dụng đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho anh Quàng Văn T1 số tiền 25.000.000 đồng, anh T1 không có đề nghị gì khác về dân sự, vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết.
[7] Trong vụ án này, bị cáo H còn có hành vi khi cầm con dao bỏ chạy, con dao quệt vào tay anh Nguyễn Ngọc H2, trú tại thôn N, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Hà Giang, chỗ ở tổ A, phường P, thành phố T, dẫn đến anh H2 bị đứt 02 gân tại mu bàn tay phải, ngày 29/11/2023 Nguyễn Thị Thanh H1 (là vợ bị cáo H) đã bồi thường cho anh H2 số tiền 30.000.000đồng, anh H2 không có đề nghị gì khác, ngày 30/11/2023 anh H2 có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo H. Ngoài ra khi anh Lương Văn T2, trú tại thôn I, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang (bảo vệ hội chợ) đuổi theo bị cáo H thì con dao bị cáo H đang cầm quệt vào cạnh dưới bàn tay trái của anh T2 gây rách da, chảy máu.
Ngày 28/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T trưng cầu giám định phần trăm thương tích đối với anh Nguyễn Ngọc H2 và anh Lương Văn T2, nhưng anh H2 và anh T2 có đơn từ chối giám định, anh T2 không có đề nghị gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo H. Ngày 29/11/2023 và 02/12/2023, Cơ quan điều tra tiến hành dẫn giải anh T2 và anh H2 đi giám định nhưng cả hai không chấp hành, do vậy không có căn cứ xem xét xử lý đối với bị cáo Lưu Văn H về tội Vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại Điều 138 Bộ luật Hình sự. Ngày 11/4/2024, Công an thành phố T đã xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo Lưu Văn H tại Quyết định số 001998/QĐ-XPHC bằng hình thức phạt tiền (số tiền 400.000 đồng).
[8] Đối với anh Quàng Văn T1 và anh Lê Văn P có hành vi dùng tay, chân đánh nhau. Ngày 11/4/2024, Công an thành phố T đã xử phạt vi phạm hành chính đối với anh T1 và anh P tại Quyết định số 001999, 002000/QĐ-XPHC bằng hình thức phạt tiền. Vì vậy, HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[9] Đối với hành vi đánh nhau của bị cáo Lưu Văn H, anh Quàng Văn T1, anh Lê Văn P xảy ra tại khu vực quảng trường Nguyễn Tất T5 đang tổ chức Hội chợ thương mại và du lịch tỉnh Tuyên Quang, tuy nhiên sự việc diễn ra trong thời gian ngắn đã được lực lượng Công an bảo vệ hội chợ xử lý kịp thời, hành vi của bị cáo H và các anh P, T1 chưa gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, do vậy không cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng, quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự nên không xem xét xử lý.
[10] Về vật chứng: Ngày 20/9/2023 Cơ quan điều tra tạm giữ của bị cáo Lưu Văn H 01 con dao nhọn bằng kim loại (loại dao gọt hoa quả), chuôi nhựa màu vàng, tổng chiều dài 20cm, lưỡi dao dài 10,2cm, chỗ rộng nhất bản lưỡi dao 2,5cm, phần sát đầu mũi dao bị cong vênh; đây là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ.
(Tình trạng vật chứng thể hiện như biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 31/5/2024).
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm đ, khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp “dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự); điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn H phạm tội Cố ý gây thương tích.
Xử phạt bị cáo Lưu Văn H 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm, hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/6/2024).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao nhọn bằng kim loại (loại dao gọt hoa quả), chuôi nhựa màu vàng, tổng chiều dài 20cm, lưỡi dao dài 10,2cm, chỗ rộng nhất bản lưỡi dao 2,5cm, phần sát đầu mũi dao bị cong vênh.
(Tình trạng vật chứng thể hiện như biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 31/5/2024).
3. Căn cứ: Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lưu Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Hương Giang |
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
