Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 53/2024/HS-ST

Ngày 29-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Lê Hoài Thủy;

Thẩm phán thành viên: ông Nguyễn Văn Trung;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Bùi Văn Thảng – Thạc sỹ quản lý giáo dục;

ông Trần Văn Tuyến;

bà Phan Thị Gái.

- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Kiều Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Hữu Q, sinh ngày: 25/5/2008, tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú và chỗ ở: thôn E, xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Lê Hữu C, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm 1990; vợ, con chưa có.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/4/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: ông Lê Hữu C, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm 1990; cùng địa chỉ: thôn E, xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị là bố, mẹ của bị cáo; ông C có mặt, bà V vắng mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: ông Nguyễn Lương C1 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q; có mặt.

- Bị hại: anh Nguyễn Văn Q1, sinh ngày 15/01/2008; địa chỉ: khóm A, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị (hiện đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1985 và bà Phan Thị T, sinh năm 1989; cùng địa chỉ: khóm A, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

- Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn S, bà Phan Thị T: ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1983; địa chỉ: khóm A, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn S, bà Phan Thị T:

  • + Ông Trần Đại N1 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q; vắng mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị Thu S1 – Văn phòng L1; địa chỉ: G H, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

  • + Anh Trần Văn L, sinh năm 2006; địa chỉ: khóm A, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
  • Người đại diện hợp pháp của anh Trần Văn L: bà Phan Thị T1, sinh năm 1978; địa chỉ: khóm A, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
  • + Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 2006; địa chỉ: khóm A, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
  • Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Văn P: ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1983; địa chỉ: khóm A, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 07/4/2023, do có mâu thuẫn với Lê Hữu Q từ trước nên Nguyễn Văn Q1, sinh ngày 15/01/2008 (trú tại thị trấn K, huyện Đ) rủ Nguyễn Văn P, sinh ngày 10/6/2006, Trần Văn L, sinh ngày 22/10/2006 (cùng trú tại thị trấn K) và Lê Văn T2, sinh ngày 03/11/2006 (trú tại xã T, huyện Đ) đến Trường Tiểu học V1 (xã B, huyện Đ) tìm Q để đánh và được cả ba đồng ý. Khoảng 11 giờ 30 cùng ngày, Q nghe được thông tin trên, nên trước khi đi học Q lấy 01 cây dao (dài 21,4 cm, lưỡi làm bằng kim loại màu đen, sóng dao hình răng cưa dài 10,6 cm, cán làm bằng nhựa màu đen dài 10,8 cm) bỏ vào cặp mang theo đến trường với mục đích nếu bị đánh thì sẽ lấy ra để chống trả.

Khoảng 13 giờ cùng ngày, P điều khiển xe mô tô 74K1-062.47 chở Q1; T2 điều khiển xe mô tô 79FA-8115 chở L đến Trường Tiểu học V1 để tìm Q. Khoảng 15 giờ cùng ngày, thấy học sinh nghỉ học, nhóm của Q1 đi vào trường. Lúc này, Q thấy nhóm của Q1 đi vào, nên đi đến nhà xe lấy dao trong cặp bỏ vào túi quần phía sau bên phải. Do thấy có cô giáo đang ở trong trường nên nhóm của Q1 đi ra ngoài cổng đợi. Khi thấy cô giáo đi về, nhóm Q1 tiếp tục đi vào nhà xe để đánh Q. Khi đến, Q1 dùng mũ bảo hiểm của mình ném, nhưng Q tránh được và dùng tay đánh 01 cái vào người Q rồi Q1 lùi lại. L xông vào dùng mũ bảo hiểm đánh 01 cái vào đầu và 01 cái vào vai Q. Vì sợ bị nhóm Q1 tiếp tục xông vào đánh, nên Q đi lùi ra phía sau, đồng thời tay phải lấy dao từ túi quần ra đâm qua, đâm lại về phía trước để hù dọa và chống trả. Lúc này, Q1 đi vòng ra phía sau lưng, dùng tay đánh vào vai của Q 01 cái, nhưng không gây thương tích gì. Q quay người về phía đối diện, tay phải cầm dao đâm mạnh một phát vào phần ngực trái của Q1. Khi Q rút dao ra thì lưỡi dao bị gãy và rơi xuống sân, còn cán dao thì Q vứt xuống sân trường. Thấy vậy, PT2 chạy đến, dùng tay đấm mỗi người 02 cái vào lưng của Q. Q chạy ra hướng sân trường thì L đuổi theo dùng mũ bảo hiểm đánh 01 cái vào lưng. Q đẩy L ra rồi chạy đến Công an xã B đầu thú. Q1 được mọi người đưa đến Trạm y tế xã B cấp cứu nhưng đã tử vong.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 399/KL-KTHS ngày 18/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: nguyên nhân chết của anh Nguyễn Văn Q1 là mất máu cấp do vết thương đứt tâm thất trái.

Quá trình điều tra thu giữ vật chứng, gồm:

  • 01 đôi dép màu đen; 01 áo khoác tay dài màu xanh; 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng, kích thước (67x45)cm; 01 lưỡi dao bằng kim loại màu đen, sóng dao hình răng cưa, dài 9,5 cm, 01 cán dao và một phần lưỡi dao gắn chặt vào nhau, dài 11,9 cm; 02 mũ bảo hiểm màu đen; 01 quai mũ bảo hiểm màu đen; 01 chiếc dép phải.
  • 01 xe mô tô 74K1- 062.47 hiện đã giao cho Công an huyện Đ, tỉnh Quảng Trị xử lý theo thẩm quyền;
  • 01 máy điện thoại di động VIVO màu xanh dương, bên trong có gắn 02 thẻ sim gồm 01 sim V2, hiện đã trả lại cho chủ sỡ hữu.
  • 01 máy điện thoại di động S2 A12, màu xanh, bên trong có gắn 01 thẻ sim Viettel của Lê Hữu Q.

- Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu gia đình Lê Hữu Q bồi thường thiệt hại tổng số tiền là 109.300.000 đồng (Trong đó, tiền tổn thất tinh thần 74.500.000 đồng; mai táng 34.800.000 đồng).

Cáo trạng số: 57/CT-VKS-P2 ngày 15/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Lê Hữu Q, về tội: “Giết người” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Hữu Q về tội “Giết người”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 101 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 04 đến 05 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: buộc đại diện hợp pháp của bị cáo phải bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 109.300.000 đồng (trong đó: tiền tổn thất tinh thần 74.500.000 đồng; mai táng 34.800.000 đồng).

Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 đôi dép màu đen; 01 áo khoác tay dài màu xanh, (60 x 40)cm; 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng kích thước (67 x 45)cm; 01 lưỡi dao bằng kim loại màu đen, dài 9,5cm, nơi rộng nhất 1,9cm; 01 cán dao và một phần lưỡi dao gắn chặt vào nhau, dài 11,9cm; 01 mũ bảo hiểm màu đen, kích thước (27,5 x 19)cm; 01 mũ bảo hiểm màu đen, kích thước (28 x 19,5)cm; 01 quai mũ bảo hiểm màu đen, kích thước (35 x 2)cm; 01 chiếc dép phải, kích thước (25,5 x 9)cm là những vật chứng không có giá trị sử dụng.
  • Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo; từ khi bị bắt cho đến nay bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo xin gửi lời xin lỗi đến gia đình bị hại.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: về tội danh và hình phạt: đề nghị HĐXX xem xét hành vi của bị cáo phạm tội “Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” quy định tại khoản 1 Điều 126 của BLHS và căn cứ khoản 2 Điều 12 BLHS; khoản 2 Điều 298 BLTTHS tuyên miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: đồng ý với thỏa thuận của người đại diện hợp pháp của bị hại.

Ý kiến của người đại diện hợp pháp của bị hại: đề nghị xét xử theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đại diện bị hại: đồng ý với cáo trạng truy tố của đại diện Viện kiểm sát và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đưa ra là phù hợp. Về trách nhiệm dân sự: buộc gia đình bị cáo sớm bồi thường khoản chi phí 109.300.000 đồng (trong đó, tiền tổn thất tinh thần 74.500.000 đồng; mai táng 34.800.000 đồng) cho gia đình bị hại.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trên cơ sở lời khai nhận tội của bị cáo Lê Hữu Q tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định:

Bị cáo Lê Hữu QNguyễn Văn Q1 có mâu thuẫn với nhau từ trước, ngày 07/4/2023, Q biết trước nhóm của Nguyễn Văn Q1 tìm đến Trường Tiểu học V1 để đánh Q nhưng Q không lựa chọn giải pháp khác để giải quyết mâu thuẫn mà đã chuẩn bị 01 cây dao làm hung khí để chống trả. Khi bị nhóm của Q1 tấn công, mặc dù không bị thương tích gì và trong điều kiện có thể nhờ sự giúp đỡ của thầy cô, bạn bè hoặc bỏ chạy nhưng Q đã dùng dao đã chuẩn bị từ trước đâm vào ngực Q1 làm Q1 tử vong. Bị hại Q1 là người dưới 16 tuổi (15 tuổi 2 tháng 23 ngày) nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung giết người dưới 16 tuổi.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, điều luật có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo theo điểm b khoản 1 Điều 123 BLHS là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

Đối với hành vi của Nguyễn Văn P, Trần Văn LLê Văn T2 do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an tỉnh Q đã ra quyết định xử lý vi phạm hành chính.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đến Công an xã B đầu thú; người bị hại cũng có một phần lỗi nên xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hội đồng xét xử thấy: hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của người khác, gây mất trật tự, trị an trên địa bàn nên cần xử lý nghiêm minh. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến nhân thân, hoàn cảnh phạm tội cũng như các yếu cấu tố khác của vụ án; bị cáo có tuổi đời còn trẻ, tại thời điểm phạm tội bị cáo 14 tuổi 10 tháng 13 ngày nên cần áp dụng chính sách hình phạt đối với người phạm tội dưới 16 tuổi quy định tại Điều 101 của BLHS để xử phạt bị cáo nhưng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo là người trên 15 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi không có tài sản riêng nên bố, mẹ bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường. Quá trình điều tra, truy tố đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Hữu Q là ông Lê Hữu C, bà Nguyễn Thị Cẩm V (bố mẹ của bị cáo) đồng ý bồi thường số tiền 109.300.000 đồng (trong đó: tiền tổn thất tinh thần 74.500.000 đồng; mai táng 34.800.000 đồng) cho ông Nguyễn Văn S và bà Phan Thị T (bố mẹ của bị hại) nên cần xem xét chấp nhận.

[6] Về vật chứng:

  • Đối với các vật chứng: 01 đôi dép màu đen; 01 áo khoác tay dài màu xanh, (60 x 40)cm; 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng kích thước (67 x 45)cm; 01 lưỡi dao bằng kim loại màu đen, dài 9,5cm, nơi rộng nhất 1,9cm; 01 cán dao và một phần lưỡi dao gắn chặt vào nhau, dài 11,9cm; 01 mũ bảo hiểm màu đen, kích thước (27,5 x 19)cm; 01 mũ bảo hiểm màu đen, kích thước (28 x 19,5)cm; 01 quai mũ bảo hiểm màu đen, kích thước (35 x 2)cm; 01 chiếc dép phải, kích thước (25,5 x 9)cm là những vật chứng không có giá trị cần tịch thu, tiêu hủy.
  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[7] Tiếp tục áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 47a/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 21/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị đối với bị cáo Lê Hữu Q.

[8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,


QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Hữu Q phạm tội “Giết người”.
    Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 2 Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo: Lê Hữu Q 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
  2. Về trách nhiệm dân sự: căn cứ khoản 1 Điều 48 BLHS; Điều 584, khoản 2 Điều 586, Điều 591 của BLDS, buộc ông Lê Hữu C và bà Nguyễn Thị Cẩm V liên đới bồi thường cho ông Nguyễn Văn S và bà Phan Thị T số tiền 109.300.000 (Một trăm linh chín triệu ba trăm nghìn) đồng (theo phần mỗi người phải bồi thường 54.650.000 đồng).
    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS xử lý như sau:

    * Tịch thu, tiêu hủy:

    • 01 (một) đôi dép màu đen, dạng dép xỏ ngón;
    • 01 (một) áo khoác tay dài màu xanh, dài 60cm, rộng 40cm, có lô gô “TB" chồng lên nhau, bên trên áo có nhiều chất bẩn màu nâu đỏ, mặt trước áo trái, cách đường giữa (dây kéo) 19cm, cách đường gấu áo 29cm, có vết rách vải 03cm, bờ mép sắc gọn;
    • 01 (một) áo sơ mi dài tay, màu trắng, kích thước (67x45)cm;
    • 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại màu đen, sóng giao hình răng cưa, dài 9,5cm, nơi rộng nhất 1,9cm;
    • 01 (một) cán dao và một phần lưỡi dao gắn chặt vào nhau, dài 11,9cm;
    • 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, kích thước (27,5x19)cm;
    • 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, kích thước (28x19,5)cm;
    • 01 (một) quai mũ bảo hiểm màu đen, kích thước (35x2)cm;
    • 01 (một) chiếc dép phải, dạng dép lê, đế màu đen, quai dép sọc trắng đen, kích thước (25,5x9)cm.

    * Trả lại cho bị cáo:

    01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh, số imei: 354890/38/451517/3, bên trong máy có gắn 01 thẻ sim Viettel có số seri: 8984048000028597642, bên góc trái trên màn hình và dưới màn hình bị nứt vỡ, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong máy nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành.

    (Các vật chứng trên hiện có tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06 tháng 9 năm 2023)

  4. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Lê Hữu Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • VKSND CC tại Đà Nẵng;
  • VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • Công an tỉnh Quảng Trị;
  • Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị;
  • Bị cáo;
  • Người TGTT;
  • Lưu: Hồ sơ, TỔ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lê Hoài Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự sơ thẩm (giết người)

  • Số bản án: 53/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Giết người)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Hữu Q phạm tội giết người
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger