|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 53/2024/HS-ST Ngày: 29/5/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Lịnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Danh Hoàng Duyên
2. Ông Trần Trương Hiển
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:
Bà Lữ Thị Minh Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Trung K (tên gọi khác: B), sinh ngày 23 tháng 6 năm 1986 tại xã P, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi thường trú: ấp C, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hùng C, sinh năm 1966 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Q; có vợ là Vũ Thị Hồng H, sinh năm 1995 và 02 người con, sinh năm 2013 và năm 2015; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giữ: không; bị tạm giam ngày 07/12/2023 đến nay (có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Dương Đức V, sinh ngày 09 tháng 6 năm 1976 tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú hiện nay: làng B, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn L, sinh năm 1952 và bà Bùi Thị Thanh B1, sinh năm 1952; có vợ là Phạm Thị T, sinh năm 1983 và 04 người con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giữ: ngày 05/3/2024; bị tạm giam ngày 08/3/2024 đến nay (có mặt tại phiên tòa).
3. Họ và tên: Lê Đăng C1, sinh ngày 04 tháng 01 năm 1985 tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; Nơi cư trú hiện nay: làng Ú, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đăng C2, sinh năm 1962 và bà Phạm Thị T1, sinh năm 1966; có vợ là Lê Thị Minh S, sinh năm 1988 và 02 người con, sinh năm 2009 và năm 2015; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: ngày 29/3/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xử phạt 42 tháng tù về tội tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy theo Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2011/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 21/5/2013, đã xóa án tích; bị tạm giữ: ngày 05/3/2024; bị tạm giam ngày 08/3/2024 đến nay (có mặt tại phiên tòa).
4. Họ và tên: Lê Phúc K1, sinh ngày 18 tháng 12 năm 1996 tại xã H, huyện U, tỉnh Kiên Giang; Nơi thường trú: ấp V, xã H, huyện U, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: nhân viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H1, sinh năm 1965 và bà Phạm Thị H2, sinh năm 1960; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giữ: không; bị tạm giam: không (có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị Kim S1, sinh năm 1988 - Vợ bị cáo C1 (Có mặt)
Cư trú: làng Út 1, xã Ia Hrung, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai - Anh Dương Đức D, sinh năm 2001 - Con bị cáo V (Có mặt)
Cư trú: làng B, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 23 giờ 30 phút, ngày 03/7/2023, Công an xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang kết hợp với Công an thành phố P tiến hành kiểm tra hành chính tại Nhà nghỉ S2 thuộc ấp C, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang phát hiện tại Phòng 102 do Lê Phúc K1 thuê ở, thu giữ 01 khẩu súng và 45 viên đạn. K1 khai nhận đây là súng và đạn của Nguyễn Trung K gửi cất giấu giúp.
Quá trình điều tra xác định hành vi của các bị cáo như sau:
Vào khoảng giữa tháng 03/2022, Dương Đức V cùng Lê Đăng C1 đi vào rừng huyện I, tỉnh Gia Lai nhặt quả ươi. Trong lúc V, C1 nghỉ dừng chân tại một lán hoang thì V và C1 thấy 01 khẩu súng và 01 hộp đạn để dưới cây khô gần lán. Vịnh nhặt khẩu súng và đạn đưa cho C1 mang về nhà cất giấu, khi ai có nhu cầu mua thì bán, C1 đồng ý.
Vào ngày 12/7/2022, Nguyễn Trung K đến nhà Dương Đức V tại Làng B, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai). Do có nhu cầu mua súng để săn bắn, K hỏi V có biết ai bán súng giới thiệu cho K mua 01 khẩu súng hơi về săn bắn chim. Vịnh nói Lê Đăng C1 có ý định bán 01 khẩu súng săn, nếu K muốn mua thì đến tìm C1 để xem, K đồng ý đến gặp C1 hỏi mua súng. Đến ngày 13/7/2022, K nhờ Dương Đức D (con trai của V) điều khiển xe máy chở K đến nhà C1 (D không biết việc K đi mua súng). Khi đến nơi, D ra quán ngồi uống nước, K cùng C1 đi ra phía sau nhà để xem súng, K ngỏ ý hỏi mua, C1 đồng ý bán 01 khẩu súng cùng 48 viên đạn giá 5.000.000đ. Kiên thanh toán bằng hình thức chuyển khoản, từ tài khoản "Nguyễn Trung K" 6390100056789 Ngân hàng M đến tài khoản 62110000997038 của Ngân hàng thương mại Cổ phần Đ1 do C1 cung cấp. Khi thanh toán xong, C1 giao súng, đạn cho K (để trong balo màu đen), K ra ngoài được D chở về nhà V. Số tiền bán súng và đạn có được, C1 chia cho V 2.500.000đ, C1 hưởng 2.500.000đ. Sau khi có được súng và đạn, K nhờ V chở đi tìm nơi thử súng, K lắp 01 viên đạn vào khẩu súng ngắm vào gốc cây, bóp cò, súng nổ 01 lần; K tiếp tục lấy súng ra lắp đạn vào bắn thử thêm 02 lần ở những địa điểm khác nhau.
Sau đó, K mang súng và đạn về cất giấu tại góc cửa ra vào Phòng số 101 Nhà nghỉ S2 (ở ấp C, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang). Đến khoảng tháng 11/2022, K mang súng và đạn để trong túi vải màu trắng gửi phòng 102 nơi Lê Phúc K1 đang ở, K1 đồng ý. Đến tháng 3/2023, K qua phòng K1 lấy khẩu súng tháo rời thành hai phần ra lau chùi, lúc này K1 thấy và biết đó là khẩu súng nhưng vẫn đồng ý cho K tiếp tục cất giấu ở phía bên phải cửa phòng 102. Khoảng tháng 5/2023, K tiếp tục lấy khẩu súng ra lau chùi, K1 thấy súng nhưng vẫn đồng ý cho K cất giấu tại phòng 102. Đến ngày 03/7/2023, lực lượng chức năng đến kiểm tra phát hiện thu giữ 01 khẩu súng và 45 viên đạn trong phòng 102.
* Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) khẩu súng tự chế dài khoảng 90cm, có bán súng bằng gỗ dài 35cm, màu nâu đen, nòng súng bằng kim loại màu đen, dài 55cm được tháo rời thành hai phần, súng không có ký hiệu, số hiệu.
- 45 (Bốn mươi lăm) viên đạn bằng kim loại dài 2,5cm, vỏ đạn màu vàng, đầu đạn màu đen, đít đạn có ký hiệu T (44 viên), 01 viên đít đạn có ký hiệu X.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro, màu vàng của Nguyễn Trung K và 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel, màu đen của Lê Đăng Chi d vào việc phạm tội.
* Tại Kết luận giám định số: 4655/KL-KTHS ngày 21/7/2023, Phân viện Khoa học hình sự Bộ C3 tại Thành phố H, kết luận:
- - Khẩu súng gửi giám định là súng tự chế thủ công, sử dụng để bắn với loại đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,5)mm. Không đủ cơ sở xác định khẩu súng trên đã được sử dụng để bắn đạn nổ. Hiện tại súng có đủ bộ phận, lắp ráp đúng vị trí và bắn được đạn nổ. Khẩu súng nêu trên là vũ khí có tính năng, tác dụng của vũ khí quân dụng và thuộc nhóm vũ khí quân dụng.
- - 45 (bốn mươi năm) viên đạn gửi giám định là đạn thể thao chưa bắn, cỡ (5,6 x 15,5)mm, không phải là vũ khí quân dụng hoặc tương đương vũ khí quân dụng.
* Việc xử lý vật chứng:
- - Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh K đã giao Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh K quản lý, bảo quản 01 (một) súng tự chế bằng kim loại dài 90cm, theo Lệnh nhập kho vật chứng số: 11/NTL ngày 17/4/2024 của Kho vật chứng thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh K.
- - Các vật chứng còn lại đã giao Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang quản lý chờ kết quả xét xử vụ án.
Tại bản Cáo trạng số: 18/CT - VKS-P1, ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang truy tố:
- - Nguyễn Trung K về tội “Mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự;
- - Dương Đức V, Lê Đăng C1 về tội “Mua bán, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự;
- - Lê Phúc K1 về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến:
- - Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Trung K, Dương Đức V, Lê Đăng C1, Lê Phúc K1.
- - Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- - Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Đức V từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- - Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đăng C1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- - Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Phúc K1 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng.
- - Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng như sau:
- Tịch thu giao Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh K quản lý 01 (một) khẩu súng tự chế bằng kim loại dài 90cm (đã giao xong).
- Tịch thu tiêu hủy:
- - 30 (Ba mươi) viên đạn còn lại sau giám định.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro, màu vàng của Nguyễn Trung K và 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel, màu đen của Lê Đăng Chi d vào việc phạm tội.
- + Buộc mỗi bị cáo Dương Đức V, Lê Đăng C1 phải nộp lại 2.500.000đ thu lợi từ hành vi phạm tội, để sung ngân sách Nhà nước.
* Các bị cáo Nguyễn Trung K, Dương Đức V, Lê Đăng C1, Lê Phúc K1 có ý kiến : Thừa nhận bản thân đã thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng như truy tố của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận bản thân đã thực hiện hành vi tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng như truy tố của Viện kiểm sát, cụ thể: khoảng tháng 03/2022, Dương Đức V và Lê Đăng C1 vào rừng nhặt được 01 khẩu súng và hộp đạn tại huyện I, tỉnh Gia Lai, V kêu C1 mang khẩu súng về nhà cất giấu, khi nào có người mua thì mình bán. Đến tháng 7/2022, Nguyễn Trung K đến nhà V chơi và có hỏi V biết ai bán súng bắn chim chỉ cho K mua. K nhờ D chở đến nhà Lê Đăng C1 mua 01 khẩu súng và 48 viên đạn, giá 5.000.000đ; C1 chia đôi số tiền bán súng và đạn với V mỗi người được hưởng 2.500.000đ. Sau khi mua được súng và đạn, K mang đi tìm nơi bắn thử 03 lần ở những địa điểm khác nhau, sau đó mang về cất giấu tại phòng 101 nhà nghỉ S2 thuộc ấp C, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Đến tháng 11/2022, K mang súng và đạn qua gửi tại phòng 102 của Lê Phúc K1 đang ở cùng nhà nghỉ S2, được K1 đồng ý. Từ tháng 02/2023 đến tháng 5/2023, K qua phòng K1 lấy súng ra lau chùi 02 lần, K1 biết đó là súng nhưng cũng đồng ý cho K cất giấu tại phòng nơi K1 đang ở. Đến ngày 03/7/2023, lực lượng chức năng kiểm tra phát hiện thu giữ 01 khẩu súng và 45 viên đạn. Qua giám định khẩu súng trên là vũ khí có tính năng, tác dụng của vũ khí quân dụng và thuộc nhóm vũ khí quân dụng.
Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; lời khai người có liên quan; kết luận giám định.... Từ đó có đủ cơ sở để kết luận hành vi các bị cáo thực hiện cấu thành tội mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự. Cụ thể: Dương Đức V và Lê Đăng C1 nhặt được súng, đạn đem về cất giấu sau đó bán cho Nguyễn Trung K, nên V và C1 đã có hành vi tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng; Nguyễn Trung K mua súng, đạn từ V và C1 sau đó bắn thử rồi đem về cất giấu, nên K đã có hành vi mua bán, sử dụng, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng; Lê Phúc K1 biết vật dụng trong túi mà K đem cất giấu trong phòng trọ của mình là súng, đạn nhưng vẫn chấp nhận cho cất giấu, nên K1 đã có hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.
[3] Xét vai trò, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo thấy rằng, hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự của Nhà nước. Hành vi các bị cáo thực hiện tiềm ẩn nguy cơ đe dọa đến tính mạng, sức khỏe người khác và gây ra các hậu quả xấu khác cho xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nên phải bị xử lý theo quy định.
Trong vụ án này bị cáo K, V, C1 giữa vai trò chính, thực hiện nhiều hành vi cấu thành tội phạm; bị cáo K1 đồng phạm giúp sức cho K đối với hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng với vai trò không đáng kể, cụ thể:
V và C1 cùng đồng phạm về hành vi tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng là nhặt được súng, đạn rồi cùng thống nhất đem về cất giấu, khi có người đến mua thì hai bị cáo cũng thống nhất bán lấy 5.000.000đ chia mỗi người hưởng 2.500.000đ.
K mua súng, đạn từ V và C1, sau đó trực tiếp sử dụng (bắn thử) rồi đem về phòng trọ của mình cất giấu, một thời gian sau lại đem cất giấu tại phòng trọ của Lê Phúc K1.
Khan ban đầu không biết vật dụng trong túi mà K đem gởi tại phòng trọ của mình là súng, đạn nhưng sau đó K lấy súng ra lau chùi thì K1 nhìn thấy biết đó là súng mà vẫn chấp nhận cho để ở phòng mình.
[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng: Các bị cáo V, C1 và K1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Riêng bị cáo K thực hiện hành vi sử dụng trái phép vũ khí quân dụng 03 lần ở ba địa điểm khác nhau, nên có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo K tự nhận hành vi sử dụng trái phép vũ khí quân dụng lần thứ 2, thứ 3 mặc dù không bị phát hiện, nếu bị cáo không tự khai nhận thì không có căn cứ để xử lý đối với những lần này, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tự thú quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Bị cáo V có mẹ ruột (bà Bùi Thị Thanh B1); bị cáo C1 có ông nội (ông Lê Đức Đ); bị cáo K có ông ngoại (ông Nguyễn Trọng G) là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, hạng Ba; bị cáo V, C1 đến cơ quan Công an đầu thú hành vi phạm tội và đã tác động gia đình tự nguyện nộp lại đủ số tiền thu được từ hành vi phạm tội; bị cáo K1 phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức không đáng kể, lệ thuộc vào bị cáo K, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, quyết định xử phạt các bị cáo một mức hình phạt tù tương xứng với vai trò, tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của từng bị cáo, để có thời gian giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời cũng nhằm răn đe cảnh tỉnh chung. Riêng bị cáo K1 xét thấy phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức không đáng kể, lệ thuộc vào bị cáo K, không có tình tiết tăng nặng; có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng, ổn định nên không cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù ngay mà cho bị cáo được hưởng án treo, giao chính quyền địa phương quản lý, giáo dục thử thách thời gian cũng đảm bảo.
Đối với Dương Đức D và Lê Thị Kim S1, kết quả điều tra không có cơ sở xác định họ biết hành vi tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng của các bị cáo V, C1 và K, đồng thời cũng không có cơ sở xác định họ đồng phạm với các bị cáo này, nên không xử lý.
[5] Về biện pháp tư pháp và xử lý vậy chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS, Hội đồng xét xử sẽ quyết định về biện pháp tư pháp và xử lý các vật chứng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đã nêu trên.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội “Mua bán, sử dụng, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”; bị cáo Dương Đức V và Lê Đăng C1 phạm tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”; bị cáo Lê Phúc K1 phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
1. Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K 02 (hai) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam (ngày 07/12/2023).
2. Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Dương Đức V 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 05/3/2024).
- Xử phạt bị cáo Lê Đăng C1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 05/3/2024).
4. Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Phúc K1 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/5/2024).
Giao bị cáo Lê Phúc K1 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện U, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo K1 có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
5. Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu, giao cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh K quản lý 01 (một) khẩu súng tự chế bằng kim loại dài 90cm (đã bàn giao theo biên bản lập ngày 17/4/2024).
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro, màu vàng, ốp lưng nhựa màu đen, đã qua sử dụng, số máy MLL83VN/A, số IMEL: 35 717750 664866 1, số IMEL2: 35 717750 696097 5, của Nguyễn Trung K dùng vào việc phạm tội (Được quản lý trong một gói niêm phong có chữ ký xác nhận của Điều tra viên Trần Trung V1, bị can Nguyễn Trung K và đóng dấu mộc tròn đỏ của Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh K, ký hiệu NP-03).
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel, màu đen - vàng ánh kim, mặt lưng sau bị nứt, đã qua sử dụng, số IMEL 1: 355632046024155, số IMEL 2: 35563204634159, của Lê Đăng Chi d vào việc phạm tội (Được quản lý trong một gói niêm phong có chữ ký xác nhận của Giám định viên Thái Minh H3, đóng dấu mộc tròn đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh K).
- Tịch thu tiêu hủy: 30 (Ba mươi) viên đạn cở (5,6 x 15,5)mm (Được quản lý trong một gói niêm phong có chữ ký xác nhận của Điều tra viên Trần Trung V1, bị can Nguyễn Trung K và đóng dấu mộc tròn đỏ của Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh K, ký hiệu NP-02).
(Hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang đang quản lý theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/4/2024). - Buộc bị cáo Dương Đức V nộp 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) thu lợi từ hành vi phạm tội, để sung ngân sách Nhà nước (Gia đình bị cáo V đã nộp vào Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang 2.700.000đ để thi hành số tiền phải nộp nêu trên và tiền án phí hình sự sơ thẩm, theo Biên lai thu tiền số 0005570 ngày 27/5/2024).
- Buộc bị cáo Lê Đăng C1 nộp 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) thu lợi từ hành vi phạm tội, để sung ngân sách Nhà nước (Gia đình bị cáo C1 đã nộp vào Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang 2.700.000đ để thi hành số tiền phải nộp nêu trên và tiền án phí hình sự sơ thẩm, theo Biên lai thu tiền số 0005571 ngày 27/5/2024).
6. Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo Nguyễn Trung K, Dương Đức V, Lê Đăng C1 và Lê Phúc K1 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29/5/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Văn Lịnh |
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng (illegal trade, storage, and use of military weapons)
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng (Illegal trade, storage, and use of military weapons)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trung Kiên tàng trữ vũ khí quân dụng bị bắt
