Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐAKRÔNG

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HS-ST

Ngày: 08/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Vĩnh My

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Đức Hoành Sơn

- Bà Hồ Thị Hồng Nhung

- Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Nam Hải - Thư ký chính Tòa án nhân dân huyện Đakrông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thanh Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 50/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn N (Tên gọi khác: C), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1983, tại Đồng Nai; giới tính: Nam

Nơi cư trú: Khóm A, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1956 và bà Hồ Thị H, sinh năm 1957; vợ Châu Thị Thanh T1, sinh năm 1986; có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 12/8/2004, bị Công an huyện Đ, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính 50.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng.

Bị cáo, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

2. Nguyễn Thị L, sinh ngày 02 tháng 02 năm 1982 tại Quảng Trị; giới tính: Nữ.

Nơi cư trú: Khóm B, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn M, sinh năm 1934 và bà Lê Thị E (Đã chết); chồng Nguyễn Văn T2, sinh năm 1982; có 01 con, sinh năm 2010.

Nhân thân: Ngày 02/6/2001, bị Công an huyện Đ, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc.

Bị cáo, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

3. Nguyễn Văn T3, sinh ngày 19 tháng 9 năm 1993 tại Đồng Nai; giới tính: Nam.

Nơi cư trú: Khóm A, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1956 và bà Hồ Thị H, sinh năm 1957; vợ Đào Thị Cẩm H1, sinh năm 2004; có 01 con, sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

4. Trần Văn D, sinh ngày 28 tháng 02 năm 1987 tại Quảng Trị; giới tính: Nam.

Nơi cư trú: Khóm B, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T4, sinh năm 1936 và bà Lê Thị X, sinh năm 1945; vợ Nguyễn Thị Hoàng T5, sinh năm 1986; có 03 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 19/01/2024, bị Công an huyện Đ, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính 7.500.000 đồng về hành vi tổ chức đánh bạc.

Bị cáo, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

  • Ông Nguyễn Xuân T6, sinh năm 1977; nơi cư trú: Khóm A, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
  • Ông Nguyễn Xuân H2, sinh năm 1981; nơi cư trú: Khóm B, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
  • Anh Hồ Đức K, sinh năm 2001; nơi cư trú: Khóm A, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
  • Ông Võ Thanh H3, sinh năm 1981; nơi cư trú: Khóm B, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
  • Ông Đỗ Văn C1, sinh năm 1968; nơi cư trú: Khóm A, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
  • Ông Nguyễn Quang D1, sinh năm 1980; nơi cư trú: Khu phố F, thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong các ngày 16, 18, 19 và 21/3/2024, tại nhà ông Nguyễn Văn T (bố của N) ở khóm A, thị trấn K, huyện Đ, N nhiều lần bán số lô, đề cho nhiều người, với hình thức cá cược hai bên quy ước được thua bằng tiền Việt Nam đồng. Người chơi đến gặp trực tiếp hoặc nhắn tin đến số điện thoại 0989.973.xxx hoặc tài khoản Zalo mang tên “Chay” được đăng ký bằng số điện thoại 0989.973.xxx của N để mua số lô, đề là các số tự nhiên có hai chữ số từ 00 đến 99 hoặc ba chữ số từ 000 đến 999.

Người chơi chọn mua các loại số đặc biệt, 6 lô, 17 lô, 18 lô, đầu và đuôi. Tỷ lệ thắng cược của số đặc biệt được tính 1 x 600 lần; 06 lô được tính 1 x 100 lần; 17 lô được tính 1 x 29 lần; 18 lô được tính 1 x 5 lần; đầu, đuôi được tính 1 x 70 lần. Kết quả thắng thua được đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh miền T theo thứ tự từ ngày 16/3 đến 21/3/2024 là thành phố Đà Nẵng, Kon Tum, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, thành phố Đà Nẵng, Quảng Trị, mở thưởng lúc 17 giờ 15 phút hằng ngày.

Người chơi chọn mua các loại số đặc biệt, 10 lô, 27 lô, xiên 2, xiên 3. Tỷ lệ thắng cược của số đặc biệt được tính 1 x 600 lần; 10 lô được tính 1 x 60 lần; 27 lô được tính 1 x 33 lần; xiên hai được tính 1 x 10 lần; xiên ba được tính 1 x 40 lần. Kết quả thắng thua được đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh miền B mở thưởng lúc 18 giờ 15 phút hằng ngày.

Căn cứ vào 02 hoặc 03 chữ số cuối của kết quả xổ số kiến thiết tương ứng với yêu cầu của người chơi, mở thưởng cùng ngày để xác định thắng, thua. Quá trình điều tra xác định:

Ngày 16/3/2024, N bán số lô, đề cho L với số tiền là 970.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh miền B thắng cược số tiền là 5.000.000 đồng. Tổng số tiền N và L dùng để đánh bạc là 5.970.000 đồng.

Ngày 18/3/2024, N bán số lô, đề cho L với số tiền là 3.076.000 đồng; cho Võ Thanh H3 với số tiền là 240.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Thừa Thiên Huế, L thắng cược số tiền là 4.000.000 đồng. Tổng số tiền N dùng để đánh bạc là 7.316.000 đồng. Tổng số tiền L dùng để đánh bạc là 7.076.000 đồng.

Ngày 19/3/2024, N bán số lô, đề cho T3 với số tiền là 1.240.000 đồng; cho L với số tiền là 532.000 đồng; cho anh Nguyễn Quang D1 với số tiền là 200.000 đồng; cho anh Võ Thanh H3 với số tiền là 200.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Quảng Nam, T3 thắng cược số tiền là 5.000.000 đồng, những người khác không thắng cược. Tổng số tiền N dùng để đánh bạc là 7.172.000 đồng. Tổng số tiền T3 dùng để đánh bạc là 6.240.000 đồng.

Ngày 21/3/2024, N bán số lô, đề cho D theo tin nhắn với số tiền 4.560.000 đồng; cho anh Nguyễn Xuân T6 với số tiền 60.000 đồng và một số người khác (không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể) với số tiền 3.535.000 đồng. Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 21/3/2024, khi N đang tổng hợp số lô, đề bán được trong ngày 21/3/2024 vào một tờ giấy A4 thì bị tổ công tác Công an huyện Đ tiến hành kiểm tra, phát hiện và lập biên bản vụ việc, thu giữ, niêm phong toàn bộ tang vật. Với tổng số tiền N dùng để đánh bạc là 8.155.000 đồng; số tiền D dùng để đánh bạc là 4.560.000 đồng.

Sau khi bị phát hiện Nguyễn Văn N đã tự nguyện nộp cho cơ quan điều tra 4.535.000 tiền bán lô, đề; Trần Văn D nộp 4.560.00 đồng tiền mua lô, đề; Nguyễn Thị L nộp 1.000.000 đồng và Nguyễn Văn T3 nộp 500.000 đồng tiền thu lợi bất chính có được từ việc ghi mua lô, đề.

Cáo trạng số: 46/CT-VKSĐKR ngày 25/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông truy tố các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T3 và Trần Văn D về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 231 Bộ luật Hình sự.

*Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T3 và Trần Văn D phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với 04 bị cáo; áp dụng thêm điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với 02 bị cáo N và L; áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 đối với 02 bị cáo T3, D và khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo D. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 30 đến 35 triệu đồng, bị cáo Nguyễn Thị Liên T7 25 đến 30 triệu đồng, bị cáo Nguyễn Văn T3 từ 20 đến 25 triệu đồng, bị cáo Trần Văn D từ 20 đến 25 triệu đồng.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh đen của bị cáo N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại Iphone X, màu trắng, của bị cáo D và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Smart, loại Star, màu cam của bị cáo T3.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 10.595.000 đồng đã thu giữ tại các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T3 và Trần Văn D. Truy thu tại bị cáo Nguyễn Thị L 3.422.000 đồng và bị cáo Nguyễn Văn T3 3.260.000 đồng tiền thu lợi bất chính từ đánh bạc mà có.

- Tịch thu tiêu hủy 01 cây bút bi, màu xanh, bên trên có dòng chữ “Double A TriTouch".

* Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T3 và Trần Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trong các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ, không tham gia tranh luận gì đối với luận tội của Kiểm sát viên. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan cảnh sát điều tra Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên và Kiểm sát viên huyện Đ: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo có đủ căn cứ xác định: Vào các ngày 16, 18, 19 và 21/3/2024 các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T3 và Trần Văn D đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, đề, theo kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh miền T8 và miền B. Trong đó, bị cáo N làm cái tham gia đánh bạc 04 lần, vào các ngày 16/3/2024 là 5.970.000 đồng, ngày 18/3/2024 là 7.316.000, ngày 19/3/2024 là 7.172.000 đồng, ngày 21/3/2024 là 8.155.000 đồng; Bị cáo L tham gia đánh bạc 02 lần các ngày 16/3/2024 là 5.970.000 đồng, ngày 18/3/2024 là 7.076.000 đồng; bị cáo T3 đánh bạc 01 lần ngày 19/3/2024 với số tiền 6.240.000 đồng; bị cáo D đánh bạc 01 lần ngày 21/3/2024 với số tiền 4.560.000 đồng nhưng đang trong thời hiệu bị xử phạt hành chính về hành vi tổ chức đánh bạc. Nên hành vi của các bị cáo N, L, T3 và D tham gia mua bán, cá cược lô, đề đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này... thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị truy tố các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T3 và Trần Văn D theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy:

Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào, được thua bằng tiền mà không được Nhà nước cho phép đều bị nghiêm cấm, song vì muốn có tiền mà không phải lao động, các bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc ghi cá cược lô, đề. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm nếp sống văn hóa, ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên địa bàn, nên cần phải xử phạt nghiêm các bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục các bị cáo và có tác dụng răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên để lượng hóa hình phạt phù hợp với hành vi của từng bị cáo thực hiện, Hội đồng xét xử thấy: Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn, bị cáo N là người đứng ra làm chủ cái bán số lô, đề trong các ngày 16, 18, 19 và 21/3/2024 với tang số tiền đánh bạc mỗi ngày trên 5 triệu động; các bị cáo L, T3, D và một số người khác là người mua số lô, đề tại bị cáo N, trong đó có bị cáo L thực hiện mua lô, đề ngày 16 và 18/3/2024 có tang số tiền đánh bạc mỗi ngày trên 5 triệu đồng. Nên bị cáo N và bị cáo L phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên Tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện nộp lại số tiền phạm tội và tiền thu lợi bất chính, nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo T3 và bị cáo D phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo D có bố là người có công trong kháng chiến chống Mỹ được Nhà nước tặng Huân chương có công, nên được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đây là loại tội phạm, xâm phạm trật tự công cộng có quy định khung hình phạt tiền đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và xét thấy gia đình và bản thân các bị cáo đều có tài sản, thu nhập. Vì vậy, cần áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt tiền nghiêm đối với hành vi phạm tội của các bị cáo theo pháp luật quy định.

- Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T3 và Trần Văn D, tại Lệnh số: 42/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 04/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị.

[4] Đối với Nguyễn Xuân T6, Nguyễn Xuân H2, Hồ Đức K, Võ Thanh H3, Đỗ Văn C1, Nguyễn Quang D1 tham gia đánh bạc bằng hình thức cá cược mua số lô, đề tại bị cáo N nhưng chưa đủ tang số phải chịu trách nhiệm hình sự, Công an huyện Đ đã xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền là đúng quy định pháp luật.

[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh đen của bị cáo N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại Iphone X, màu trắng, của bị cáo D và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Smart, loại Star, màu cam của bị cáo T3, các bị cáo đã sử dụng làm phương tiện phạm tội.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 10.595.000 đồng đã thu giữ do các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T3 và Trần Văn D dùng vào phạm tội và tiền thu lợi bất chính tự nguyện nộp. Truy thu tại bị cáo Nguyễn Thị L 3.422.000 đồng [9.000.000₫ trúng đề - (970.000₫ + 3.076.000₫ +532.000đ tiền đánh đề) - 1.000.000đ tự nguyện nộp] và bị cáo Nguyễn Văn T3 3.260.000 đồng (5.000.000đ trúng đề - 1.240.000đ tiền đánh đề - 500.000đ tự nguyện nộp) tiền thu lợi bất chính từ đánh bạc mà có.

- Tịch thu tiêu hủy 01 ngòi bút bi, màu xanh, bên trên có dòng chữ “Double A TriTouch".

[6] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T3 và Trần Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T3 và Trần Văn D, phạm tội “Đánh bạc".

    - Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn N và bị cáo Nguyễn Thị L. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 35.000.000 (Ba mươi lăm triệu) đồng. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.

    - Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 35; điểm i, s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với hai bị cáo Nguyễn Văn T3, Trần Văn D. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng và bị cáo Trần Văn D 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh đen, số Imei 1: 860577045243033, Imei 2: 860577045243025 của bị cáo Nguyễn Văn N, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại Iphone X, màu trắng, số Imei: 354850092554815 của bị cáo Trần Văn D và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Smart, loại Star, màu cam, số Imei 1: 356742104801540; Imei 2: 356742104801557 của bị cáo Nguyễn Văn T3.

    - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 10.595.000 đồng đã thu giữ tại các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T3 và Trần Văn D. Truy thu tại bị cáo Nguyễn Thị L 3.422.000 (Ba triệu bốn trăm hai mươi hai nghìn) đồng và bị cáo Nguyễn Văn T3 3.260.000 (Ba triệu hai trăm sáu mươi nghìn) đồng tiền thu lợi bất chính từ đánh bạc mà có.

    - Tịch thu tiêu hủy 01 ngòi bút bi, màu xanh, bên trên có dòng chữ “Double A TriTouch".

    Các vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Đakrông theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/10/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T3 và Trần Văn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 08/11/2024.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND huyện Đakrông;
  • - Công an huyện Đakrông;
  • - THADS huyện Đakrông;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, dán án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Văn Vĩnh My

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ về đánh bạc

  • Số bản án: 53/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào các ngày 16, 18, 19 và 21 tháng 3 năm 2024 bị cáo Nguyễn Văn N là cái để các bị cáo Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T và Trần Văn D tham gia đánh lô, đề trị giá trên 5 triệu đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger