|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 53/2024/HS-ST. Ngày: 19 - 9 - 2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Quý Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Thành.
2. Ông Lê Viết Tân.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Anh Phan Anh Giáp - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Duy Đ, sinh ngày 10 tháng 7 năm 1997 tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Địa chỉ: Tổ F, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghề nghiệp: Không. Số căn cước công dân: [...], ngày cấp 11/08/2021. Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Duy H và con bà Nguyễn Thị Hồng T; vợ, con: Chưa có; tiền án: 03 Tiền án (Năm 2018, bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số: 05/2018/HSST, ngày 29/01/2018, bị cáo hấp hành xong hình phạt tù ngày 01/02/2019. Năm 2020, bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, xử phạt 01 năm tù, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số: 12/2020/HSST, ngày 17/3/2020), bị cáo hấp hành xong hình phạt tù ngày 13/11/2020. Năm 2022, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, xử phạt 02 năm tù, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số: 39/2022/HSST, ngày 30/5/2022, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/10/2023; tiền sự: Không. Nhân thân: Tháng 01 năm 2017, bị Công an thị xã H, xử phạt vi phạm hành chính số tiền: 1.500.000 đồng, về hành vi: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Quyết định số: 00485/QĐ-XPVPHC ngày 05/01/2017, bị cáo đã chấp hành. Tháng 5/2020, bị Ủy ban nhân dân phường P, thị xã H, xử phạt vi phạm hành chính số tiền: 2.500.000 đồng, về hành vi: “Xâm hại sức khỏe người khác” theo Quyết định số: 0003005/QĐ-XPVPHC ngày 14/5/2020, bị cáo chưa nộp phạt nhưng đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy đinh tại Điều 6, Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giam ngày 05/6/2024 tại Trại tạm giam công an tỉnh T. Bị cáo có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1997. Địa chỉ: Tổ F, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn C1, sinh năm 1974. Địa chỉ: Tổ G, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
2. Anh Nguyễn Duy T1, sinh năm 1971. Địa chỉ: Tổ F, phường T, Thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Võ Khắc T2, sinh năm 2000. Địa chỉ: Tổ B, phường T, TX H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
2. Anh Võ Quốc T3, sinh năm 1988. Địa chỉ: Tổ D, phường T, TX H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bản Cáo trạng số: 51/CT-VKS-Hth, ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy Đ về hành vi phạm tội:
Khoảng 19 giờ, ngày 13/5/2024, Nguyễn Duy Đ, đến quán cà phê “Ô cửa sổ”, ở Tổ F, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; thì gặp anh Nguyễn Văn C và anh Ngô Xuân D. Tại đây, Đ nói với anh C cho mượn xe mô tô biển kiểm soát: 75G1 005.34 (xe của ông Nguyễn Duy T1 là cha của anh C), đi có việc thì anh C đồng ý cho Đ mượn.
Sau khi mượn được xe, Đ chạy xe đến nhà anh Võ Quốc T3 và nhà anh Phạm L để hỏi mượn tiền nhưng không ai cho mượn. Lúc này, Đ nảy sinh ý định đem xe mô tô, biển kiểm soát: 75G1-005.34 đi cầm cố lấy tiền tiêu xài; do không biết chỗ cầm xe nên Đ hỏi Võ KhắcThanh thì được T2 chỉ đến nhà ông Nguyễn Côi . Sau đó, Đ nhờ T2 cùng đi với Đ đến nhà ông Nguyễn C1 để cầm xe mô tô thì T2 đồng ý; khi đến nhà ông C1 thì T2 đứng ngoài, còn Đ vào gặp ông C1 hỏi cầm xe, ông C1 hỏi về giấy tờ liên quan thì Đ nói không có nên ông C1 từ chối cầm cố nên Đ đi ra nói T2 đứng đợi còn Đ về lấy căn cước công dân của Đ. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Đ quay lại và đưa căn cước công dân của mình cho ông C1, ông C1 đồng ý cầm xe mô tô, biển kiểm soát: 75G1-005.34 với giá 2.000.000 đồng. Đến sáng ngày 14/5/2024, Đ đến gặp ông C1 lấy thêm 500.000 đồng, rồi tiêu xài hết (Đ không cho T2 tiền).
Ngày 29/5/2024, anh Nguyễn Văn C đã viết đơn trình báo sự việc trên đến cơ quan Công an.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Duy Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nói trên.
Vật chứng thu giữ, gồm:
- - 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter, biển kiểm soát: 75G1-005.34 màu vàng – đen, số khung: C30AY-034364, số máy: 31C3-034366;
- - 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Duy Đ.
Hiện, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã trả lại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển kiểm soát: 75G1-005.34 màu vàng – đen, cho chủ sở hữu.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 44 ngày 05/6/2024 của Hội đồng định giá UBND thị xã H, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter, biển kiểm soát: 75G1-005.34 màu vàng – đen, sử dụng vào tháng 01/2021, giá trị định giá: 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn C đã nhận lại xe, không yêu cầu bị cáo Nguyễn Duy Đ phải bồi thường thiệt hại về dân sự và đã viết đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn C1, yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 2.500.000 đồng, hiện bị cáo chưa bồi thường.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản Cáo trạng đối với bị cáo. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Đ từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tù; xử lý về dân sự, vật chứng và án phí theo quy định pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thì có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ, ngày 13/5/2024, tại phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nguyễn Duy Đ đã mượn xe mô tô biển kiểm soát: 75G1-005.34, của anh Nguyễn Văn C mục đích là đi đến nhà anh Võ Quốc T3 và anh Phạm L để mượn tiền. Vì mượn không được tiền nên bị cáo đã nẩy sinh ý định chiếm đoạt xe của anh C. Bị cáo Đ điều khiển xe mô tô đến nhà ông Nguyễn C1 cầm cố với số tiền 2.500.000 đồng; sau đó tiêu xài hết. Giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Do đó, bị cáo đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, do bị cáo Đ đã tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên đã phạm vào tình tiết định khung hình phạt là “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn trên là chính xác, đúng quy định pháp luật.
[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có nhân thân thân rất xấu bị xử phạt tù, xử phạt hành chính nhưng bị cáo vẫn không sửa chữa, khắc phục sai lầm. Hành vi bị cáo gây ra phạm vào khung hình phạt nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm ảnh hưởng đến trật tự an ninh trong xã hội. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, xét cho bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn C đã nhận lại xe không yêu cầu bị cáo Nguyễn Duy Đ phải bồi thường thiệt hại về dân sự; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Duy T1 không có yêu cầu gì. Hội đồng xét xử không xem xét.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn C1, yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 2.500.000 đồng, xét yêu cầu của ông Nguyễn C1 đúng quy định pháp luật nên chấp nhận buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Nguyễn C1 số tiền 2.500.000 đồng.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter, biển kiểm soát: 75G1-005.34 màu vàng – đen, số khung: C30AY-034364, số máy: 31C3-034366, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã trả lại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển kiểm soát: 75G1-005.34 màu vàng – đen, cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Đối với 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Duy Đ là giấy tờ hợp pháp của bị cáo Đ nên trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy Đ.
[6] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Duy Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy Đ phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Đ 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 05/6/2024.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 Bộ luật dân sự; Buộc bị cáo Nguyễn Duy Đ phải bồi thường ông Nguyễn C1 số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày Quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Bị hại anh Nguyễn Văn C đã nhận lại xe không yêu cầu bị cáo Nguyễn Duy Đ phải bồi thường gì; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Duy T1 không có yêu cầu gì. Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy Đ 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Duy Đ.
Hiện vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã H, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/08/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy.
5. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Duy Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Quý Vân |
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy Đ phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
