|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2024/HS-ST
Ngày: 20-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Anh.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Nguyệt Hà - Chức vụ: Phó Hiệu trưởng Trường THPT chuyên Nguyễn Đình Chiểu, thành phố Sa Đéc.
- Bà Nguyễn Thanh Thảo - Chức vụ: Phó Trưởng Phòng Giáo dục & Đào tạo thành phố Sa Đéc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Kim Kiều, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13 và 20 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2024/HSST-QĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Trần Hoài N, sinh ngày 14/9/2006, tại Đồng Tháp; tên gọi khác: không; nơi cư trú: Số C, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Anh T và bà Trần Ngọc T1 (là người đại diện của bị cáo); vợ: chưa có; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo và người đại diện có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trần Hoài N:
Luật sư Võ Minh K - Thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ (có mặt).
-
Huỳnh Hữu L, sinh ngày 06/6/2007, tại Đồng Tháp; tên gọi khác: không; nơi cư trú: Số C, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn T2 và bà Lại Thị T3 (là người đại diện của bị cáo); vợ: chưa có; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 anh, em; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo và người đại diện có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Hữu L:
Luật sư Lê Thị Kim K1 - Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ.
Địa chỉ: QL80, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đ (có mặt).
Bị hại:
- Anh Nguyễn Hữu T4, sinh năm 1996.
- Anh Nguyễn Thành T5, sinh năm 1984.
- Anh Lê Hoàng D, sinh năm 1996.
Nơi cư trú: Số F, ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Đ (có mặt).
Nơi cư trú: Số A, Khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đ (có mặt).
Nơi cư trú: Số D, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đ (có mặt).
Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị T6, sinh năm 1961.
- Bà Lê Thị Lệ H, sinh năm 1966.
- Ông Huỳnh Văn C, sinh năm 1960.
- Ông Lê Văn B, sinh năm 1949.
Nơi cư trú: Số C, đường N, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ (có đơn đề nghị vắng mặt).
Nơi cư trú: Số D, đường N, Khóm E, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ (vắng mặt).
Nơi cư trú: Số C, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đ (vắng mặt).
Nơi cư trú: Số C, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ ngày 15/01/2024, Nguyễn Trần Hoài N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu vàng-đen, biển số 66P1-317.72 chở Huỳnh Hữu L đi cùng 02 người bạn tên L1, V (không rõ họ, địa chỉ) đến quán cháo vịt trên vĩa hè (phía trước hộ số 323) đường N, thuộc Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ để ăn cháo và uống rượu.
Khoảng 03 giờ, Nguyễn Hữu T4, Nguyễn Thành T5, Lê Hoàng D cũng đến và ngồi ăn uống ở bàn kế bên, cách bàn của N, L, L1, V khoảng 04m. Trong lúc đang ngồi ăn uống thì nhóm của T4, T5, D có chửi thề, nói chuyện lớn tiếng và nhìn về hướng bàn của nhóm N, L, L1, V.
Đến khoảng 03 giờ 45 phút cùng ngày, nhóm của T4, T5, D kêu tính tiền và đi ra về. Vì cho rằng nhóm của T4, T5, D nhìn đểu nhóm của mình nên N nháy mắt ra hiệu cho L cùng đánh nhóm của T4, T5, D thì L đồng ý nên cùng N đứng lên đi theo sau, còn L1 và V vẫn ngồi tại bàn.
Khi T4, T5, D đi đến nơi để xe mô tô trên vĩa hè đường N, thuộc Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ, T4 dắt xe ra, D và T5 vừa ngồi lên phía sau xe thì N lấy 01 con dao cắt chỉ trong túi quần ra đâm hướng vào người của T5, T5 né tránh được, nên mũi dao sượt vào vai D nhưng không gây thương tích. N tiếp tục đâm 01 nhát trúng vào vai trái của T4, thì T5 và D bước xuống xe, còn T4 điều khiển xe chạy xuống đường. N xông đến tiếp tục dùng tay đánh vào mặt D 01 cái, lúc này L cũng lấy trong túi quần ra 01 con dao bấm cùng N cầm dao chỉ vào mặt T5, D thách thức, rồi N dùng dao cắt chỉ chém trúng vào cánh tay phải của D 01 nhát và dùng tay đánh vào mặt T5 01 cái, thì D và T5 bỏ chạy ra đường. N và L đuổi theo đến nơi T4 đang đậu xe, N dùng dao cắt chỉ chém 01 nhát trúng vào cánh tay phải của T4, nên T4 để xe lại và bỏ chạy, thì đụng trúng vào người D đang đi đến, làm T4 ngã xuống đường. Lúc này, L đưa dao bấm cho N, N cất dao cắt chỉ vào túi quần rồi cầm dao bấm xông tới chém 01 nhát vào vùng lưng của T4 nhưng không gây thương tích, T4 tiếp tục bỏ chạy. N và L chạy về hướng giao lộ đường N - đường N để đuổi theo T5 và D nhưng không thấy nên quay lại chỗ xe của T4 thì nhìn thấy T4 đang đứng cạnh xe. N chạy đến dùng chân đạp ngã xe của T4, T4 liền bỏ chạy. Lúc này, T5 nhìn thấy N và L đạp xe của T4 nên chạy đến thì bị N dùng dao bấm đâm, chém 02 nhát trúng vào cánh tay trái, 01 nhát trúng vào ngón tay cái bên trái, 01 nhát trúng vào ngực trái, 01 nhát trúng vào hông phải của T5, thì L1 và V chạy đến can ngăn.
Sau đó, L1 và Vũ bỏ đi về, còn N và L trở lại quán lấy xe chạy đi tìm D để đánh nhưng không gặp nên quay lại nơi đánh nhau thì nhìn thấy T4, T5 đang đứng trên đường, Nam giơ dao bấm chỉ về phía T4 và T5 hăm dọa rồi tiếp tục điều khiển xe chở L về nhà N, N đưa lại dao bấm cho L cất giữ, xong L đi về nhà.
Đối với T4, T5 được đưa đến Bệnh viện Đ cấp cứu và điều trị đến ngày 17/01/2024 T4 được xuất viện, ngày 19/01/2024 T5 được xuất viện. Riêng D không nhập viện, tự điều trị tại nhà và đến Công an P, thành phố S trình báo sự việc.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã tạm giữ:
- 01 con dao tự chế (dùng cắt chỉ), cán gỗ hình tròn có quấn băng keo đen, dài khoảng 10cm, lưỡi bằng kim loại, hình tam giác, đầu nhọn, dài 02cm, đã qua sử dụng (của N).
- 01 con dao bấm, loại xếp, bằng kim loại, màu đen dài 22cm (lưỡi dao dài 10cm), đầu lưỡi dao nhọn, trên thân dao có in dòng chữ màu đỏ BrowninG, đã qua sử dụng (của L).
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu vàng-đen, số máy 5C6H005040, số khung RLCS5C6H0DY005035, biển số 66P1-317.72 và 01 chìa khóa xe, đã qua sử dụng (của L).
- 01 đoạn video clip được trích xuất từ camera của hộ số C, đường N, thuộc Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ có liên quan đến vụ án.
Tại các Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 109/KLTTCT-TTPYĐT, 110/KLTTCT-TTPYĐT, 111/KLTTCT-TTPYĐT cùng ngày 21/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ đối với:
- Nguyễn Hữu T4:
- Sẹo vết thương phần mềm vai trái, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương: 01%.
- Sẹo vết thương phần mềm mặt ngoài 1/3 trên cánh tay phải, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương: 01%.
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Hữu T4 tại thời điểm giám định là: 02%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác: Các tổn thương trên do vật sắc nhọn gây ra.
- Lê Hoàng D:
- Sẹo vết thương phần mềm mặt sau 1/3 trên cánh tay phải, kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương: 02%.
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Hoàng D tại thời điểm giám định là: 02%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác: Các tổn thương trên do vật sắc nhọn gây ra.
- Nguyễn Thành T5:
- Sẹo vết thương phần mềm mặt trước đến mặt sau 1/3 giữa cẳng tay trái, kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương: 02%.
- 04 sẹo vết thương phần mềm mặt sau 1/3 trên cánh tay trái, mặt sau ngón I bàn tay trái, ngực trái, gai chậu trước trên bên phải, kích thước nhỏ. Mỗi sẹo: 01%.
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thành T5 tại thời điểm giám định là: 06%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác: Các tổn thương trên do vật sắc nhọn gây ra.
Quá trình điều tra, Nguyễn Hữu T4, Lê Hoàng D, Nguyễn Thành T5 có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với người đã gây thương tích cho T4, D, T5.
Về trách nhiệm dân sự:
- Nguyễn Hữu T4 yêu cầu Nguyễn Trần Hoài N và Huỳnh Hữu L liên đới bồi thường chi phí điều trị 8.000.000 đồng, tổn thất tinh thần và ngày công lao động là 9.000.000 đồng, tổng cộng 17.000.000 đồng.
- Nguyễn Thành T5 yêu cầu Nguyễn Trần Hoài N và Huỳnh Hữu L liên đới bồi thường chi phí điều trị 15.000.000 đồng, tổn thất tinh thần và ngày công lao động là 20.000.000 đồng, tổng cộng 35.000.000 đồng.
- Lê Hoàng D yêu cầu Nguyễn Trần Hoài N và Huỳnh Hữu L liên đới bồi thường cho D chi phí điều trị 3.000.000 đồng, tổn thất tinh thần và ngày công lao động là 7.000.000 đồng, tổng cộng 10.000.000 đồng.
Nguyễn Trần Hoài N và Huỳnh Hữu L đồng ý liên đới bồi thường cho Nguyễn Hữu T4, Nguyễn Thành T5, Lê Hoàng D theo yêu cầu. Huỳnh Hữu L đã bồi thường cho T4 10.000.000 đồng, bồi thường cho T5 20.000.000 đồng, bồi thường cho D 5.000.000 đồng. Riêng Nguyễn Trần Hoài N chưa bồi thường. Tại phiên tòa, các bị hại yêu cầu Nguyễn Trần Hoài N tiếp tục bồi thường số tiền còn lại cho Nguyễn Hữu T4 7.000.000 đồng, Nguyễn Thành T5 giảm 5.000.000 đồng, chỉ yêu cầu N bồi thường 10.000.000 đồng và bồi thường Lê Hoàng D 5.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKSTPSÐ, ngày 12/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, đã truy tố bị cáo Nguyễn Trần Hoài N và Huỳnh Hữu L ra trước Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, để xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc trong phần tranh luận giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị:
Căn cứ các điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 2 Điều 52; các điều 17, 58, 91 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Hoài N phạm tội “Cố ý gây thương tích”, với mức án từ 13 tháng đến 18 tháng tù.
Căn cứ các điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 58, 65, 91 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Hữu L phạm tội “Cố ý gây thương tích”, với mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584 và Điều 590 của Bộ luật dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên:
Bị cáo Nguyễn Trần Hoài N và Huỳnh Hữu L liên đới bồi thường thiệt hại sức khỏe cho anh Huỳnh Hữu T7 tổng số tiền 17.000.000đ, anh Nguyễn Thành T5 tổng số tiền 30.000.000đ và anh Lê Hoàng D tổng số tiền 10.000.000đ. Bị cáo L đã bồi thường cho anh T7 số tiền 10.000.000đ, cho anh T5 số tiền 20.000.000đ và cho anh D số tiền 5.000.000đ. Nên, bị cáo N có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường số tiền còn lại cho anh T7 7.000.000đ, cho anh T5 10.000.000đ và cho anh D 5.000.000đ.
Ngoài ra,vị đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận, không bào chữa. Lời nói sau cùng, các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Luật sư Võ Minh K bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trần Hoài N: Thống nhất tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đề nghị, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, xét về nhân thân của bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức pháp luật thấp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Luật sư Lê Thị Kim K1 bào chữa cho bị cáo Huỳnh Hữu L: Đề nghị, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại xong quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đồng thời, tại phiên tòa, các bị hại đồng ý không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo L. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 155 và Điều 299 quyết định đình chỉ vụ án đối với bị cáo L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S; của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Về hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Trần Hoài N và Huỳnh Hữu L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; phù hợp với lời khai người bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở kết luận: Khoảng 03 giờ 45 phút, ngày 15/01/2024, các bị cáo Nguyễn Trần Hoài N và Huỳnh Hữu L vô cớ sử dụng dao cắt chỉ và dao bấm là hung khí nguy hiểm, tấn công gây thương tích cho anh Nguyễn Hữu T4 02%, anh Nguyễn Thành T5 06% và anh Lê Hoàng D 02%. Các bị hại yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo N và L.
Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm :
a) Dùng...hung khí nguy hiểm...;
i) Có tính chất côn đồ;
...".
[3]. Bị cáo N và L đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an ninh tại địa phương; trực tiếp xâm phạm đến quyền được bảo hộ về sức khỏe của người khác. Các bị cáo hiểu được sức khỏe, tính mạng của con người được pháp luật bảo vệ - quyền bất khả xâm phạm. Mọi hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dù bất cứ hình thức nào đều sẽ bị xử lý. Các bị cáo đều nhận thức được dao là hung khí nguy hiểm. Mặc dù, giữa các bị cáo và bị hại không quen biết và cũng không có bất kỳ mâu thuẫn gì nhưng vì muốn thể hiện bản thân, các bị cáo đã vô cớ tấn công gây thương tích cho bị hại; thể hiện bản tính coi thường pháp luật.
[4]. Các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Bị cáo N giữ vai trò chính, vừa người chủ mưu, vừa là người thực hành tích cực; ý thức của bị cáo mong muốn gây sát thương cho bị hại để thỏa mãn cơn tức giận vì cho rằng các bị hại có thái độ thách thức đối với mình. Bị cáo L là đồng phạm giúp sức tích cực, cùng ý chí và cùng hành động với bị cáo N nhằm tấn công, gây sát thương cho bị hại để thể hiện bản thân. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã thực hiện.
[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo N xúi giục bị cáo L, là người chưa thành niên phạm tội - đây là tình tiết tăng nặng, được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo L không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo N và bị cáo L phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên có tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Mặc dù trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo N có thành khẩn khai báo nhưng tỏ thái độ không ăn năn hối cải; nhất quyết không nhận mình sai và không chịu nói lời xin lỗi đối với bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo N. Riêng bị cáo L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại; các bị hại cùng yêu cầu không xử lý hình sự đối với bị cáo L nên được xét thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, do các bị cáo là người chưa thành niên nên cần áp dụng Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
[6]. Đối với quan điểm bào chữa của luật sư Võ Minh K, là người bào chữa cho bị cáo N, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là có căn cứ nên ghi nhận. Riêng đề nghị, áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử không chấp nhận như đã nhận định ở phần trên.
[7]. Đối với quan điểm bào chữa của luật sư Lê Thị Kim K1, là người bào chữa cho bị cáo L, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là có căn cứ nên ghi nhận. Riêng đề nghị, căn cứ khoản 2 Điều 155 và Điều 299 quyết định đình chỉ vụ án đối với bị cáo L là chưa hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[8]. Vì vậy, xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nêu trên; cùng phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xem xét cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo N nhằm cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo được cải tạo, giáo dục trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật. Riêng bị cáo L thực hiện hành vi phạm tội với vai trò thứ yếu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội mà chỉ cần giao cho gia đình, chính quyền địa phương giáo dục để răn đe. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo L là thỏa đáng.
[9]. Về trách nhiệm dân sự:
- Anh Nguyễn Hữu T4 yêu cầu Nguyễn Trần Hoài N và Huỳnh Hữu L liên đới bồi thường chi phí điều trị 8.000.000 đồng, tổn thất tinh thần và ngày công lao động là 9.000.000 đồng, tổng cộng 17.000.000 đồng.
- Anh Nguyễn Thành T5 yêu cầu Nguyễn Trần Hoài N và Huỳnh Hữu L liên đới bồi thường chi phí điều trị 15.000.000 đồng, tổn thất tinh thần và ngày công lao động là 20.000.000 đồng, tổng cộng 35.000.000 đồng.
- Anh Lê Hoàng D yêu cầu Nguyễn Trần Hoài N và Huỳnh Hữu L liên đới bồi thường cho D chi phí điều trị 3.000.000 đồng, tổn thất tinh thần và ngày công lao động là 7.000.000 đồng, tổng cộng 10.000.000 đồng.
Các bị cáo N và L đồng ý liên đới bồi thường theo yêu của bị hại. Theo đó, bị cáo L đã bồi thường cho anh T4 10.000.000 đồng, cho anh T5 20.000.000 đồng và cho anh D 5.000.000 đồng. Riêng bị cáo N chưa thực hiện bồi thường. Tại phiên tòa, các bị hại yêu cầu bị cáo N tiếp tục bồi thường số tiền còn lại cho anh T4 7.000.000 đồng, anh T5 tự nguyện giảm 5.000.000 đồng, chỉ yêu cầu bị cáo N bồi thường 10.000.000 đồng và bồi thường cho anh D 5.000.000 đồng. Xét thấy, đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, không trái quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[10]. Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ:
Đối với 01 con dao tự chế (dùng cắt chỉ), cán gỗ hình tròn có quấn băng keo đen, dài khoảng 10cm, lưỡi bằng kim loại, hình tam giác, đầu nhọn, dài 02cm và 01 con dao bấm, loại xếp, bằng kim loại, màu đen dài 22cm (lưỡi dao dài 10cm), đầu lưỡi dao nhọn, trên thân dao có in dòng chữ màu đỏ BrowninG, tất cả đã qua sử dụng là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu vàng-đen, số máy 5C6H005040, số khung RLCS5C6H0DY005035, biển số 66P1-317.72 và 01 chìa khóa xe, đã qua sử dụng là tài sản của Huỳnh Hữu L nhưng không liên quan đến vụ án nên cần tiếp tục quản lý để đảm bảo việc thi hành án.
Tiếp tục bảo quản, lưu hồ sơ vụ án 01 đoạn video clip được trích xuất từ camera của hộ số C, đường N, thuộc Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ có liên quan đến vụ án.
[11]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 2 Điều 52; các điều 17, 58, 91 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trần Hoài N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Hoài N mức án 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
- Căn cứ các điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 58, 65, 91 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Hữu L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Hữu L mức án 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 20/8/2024).
Giao bị cáo Huỳnh Hữu L cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố S, tỉnh Đ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, thành phố S trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp đang trong thời gian thử thách mà bị cáo phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao tự chế (dùng cắt chỉ), cán gỗ hình tròn có quấn băng keo đen, dài khoảng 10cm, lưỡi bằng kim loại, hình tam giác, đầu nhọn, dài 02cm và 01 con dao bấm, loại xếp, bằng kim loại, màu đen dài 22cm (lưỡi dao dài 10cm), đầu lưỡi dao nhọn, trên thân dao có in dòng chữ màu đỏ BrowninG, tất cả đã qua sử dụng.
Tiếp tục quản lý 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu vàng-đen, số máy 5C6H005040, số khung RLCS5C6H0DY005035, biển số 66P1-317.72 và 01 chìa khóa xe, đã qua sử dụng của Huỳnh Hữu L để đảm bảo việc thi hành án.
(Hiện vật chứng, tài sản nêu trên do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/7/2024).
Tiếp tục bảo quản, lưu hồ sơ vụ án 01 đoạn video clip được trích xuất từ camera của hộ số C, đường N, thuộc Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ có liên quan đến vụ án.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584 và Điều 590 của Bộ luật dân sự.
Công nhận sự thỏa thuận giữa các bên:
Các bị cáo Nguyễn Trần Hoài N và Huỳnh Hữu L liên đới bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh Nguyễn Hữu T4, anh Nguyễn Thành T5 và anh Lê Hoàng D. Bị cáo Huỳnh Hữu L đã bồi thường xong một phần nghĩa vụ. Do đó, bị cáo Nguyễn Trần Hoài N có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường cho:
- Anh Nguyễn Hữu T4 số tiền 7.000.000 đồng;
- Anh Nguyễn Thành T5 số tiền 10.000.000 đồng ;
- và anh Lê Hoàng D số tiền 5.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 23 và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Trần Hoài N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.100.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Huỳnh Hữu L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo, người đại diện của bị cáo; các bị hại và người bào chữa cho các bị cáo được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/8/2024).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hoàng Anh |
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo 6 tháng tù treo
