Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ AN NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HS-ST

Ngày: 29 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Quang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thanh Liêm

Bà Trương Thị Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Dân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Thoại - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1773/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024, đối với

1. Bị cáo: Ngô Văn Á sinh ngày 10 tháng 5 năm 1990 tại thị xã A, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn N, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Điều dưỡng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn B sinh năm 1943 và bà Đỗ Thị T sinh năm 1951; vợ: Hà Thị Mỹ D sinh năm 1993; có 02 người con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2021; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 04/8/2022, bị Công an xã N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000đ, đã nộp phạt xong; bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

2.Bị hại:

2.1. Chị Nguyễn Thị H Vi sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn X, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, có mặt;

2.2. Chị Lê Thị D1 sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn X, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, có mặt;

2.3. Bà Phan Thị Thu T1 sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Ngô Văn B sinh năm 1943; nơi cư trú: Thôn N, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt.

4. Người làm chứng:

Anh Phạm K sinh năm 1984; nơi cư trú: Khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Văn Á là nhân viên điều dưỡng Trung tâm Y tế thị xã A, tỉnh Bình Định. Á thường xuyên đánh bạc dẫn đến nợ nần. Để có tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân, Á nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của nhiều người. Từ năm 2021 đến năm 2023, Á đã thực hiện 03 vụ chiếm đoạt tài sản, cụ thể:

Vụ 01: Năm 2021, Nguyễn Thị Hiền V (sinh năm 1993, ở thôn X, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định) là nhân viên hợp đồng tại Trung tâm y tế thị xã A làm hồ sơ thi tuyển biên chế ngành y tế tỉnh Bình Định. V quen biết với Phạm K (tên thường gọi là N, sinh ngày 02/10/1984, ở khu vực T, phường N, thị xã A) hiện đang làm nhân viên tại Phòng khám B1 ở khu V, phường N, thị xã A, V nghĩ Khá có khả năng lo thi đỗ biên chế, nên xin số điện thoại và liên lạc hỏi K có nhận lo thi đậu biên chế không? Nếu có thì giá bao nhiêu? Vì muốn giúp V, K nói để hỏi lại và trả lời sau. Sau đó, K gặp Ngô Văn Á đặt vấn đề với Á là có nhận lo thi biên chế cho V được không? Giữa Á với K có mối quan hệ quen biết ngoài xã hội (trước đó Á có nói với K là có khả năng lo thi đậu biên chế). Quá trình đặt vấn đề thì ngoài việc nhờ lo cho V thì K có nhờ lo cho Lê Thị D1 nữa. Lúc này, Á biết rõ bản thân không có khả năng lo thi biên chế nhưng do đang cần tiền tiêu xài cá nhân và trả nợ, Á nói dối với K là lo được với số tiền 160.000.000 đồng, nhưng Á lấy trước 30.000.000 đồng, còn K muốn lấy trước bao nhiêu thì lấy, khi nào có kết quả thì lấy đủ. Sau đó, K nói lại cho V biết nhận lo với số tiền 160.000.000 đồng và yêu cầu V đưa trước 60.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, K cất giữ 30.000.000 đồng, còn 30.000.000 đồng mang đến nhà đưa cho trực tiếp cho Á. Á lấy tiền tiêu xài chứ thực tế không có giúp đỡ V và cũng không có nói cho K biết. Trước khi thi vòng 1 kỳ thi tuyển biên chế ngành y tế năm 2021, V liên lạc với K thì được K cho biết là đã đưa tiền cho Á để nhờ lo biên chế. V liên hệ với Á thì được Á đưa ra thông tin gian dối là đảm bảo chắc chắn thi đậu, nhưng vòng 1 là V tự thi, sau đó mới lo được. Do là đồng nghiệp với nhau và V biết Á có chú tên Ngô Văn H1 làm Phó giám đốc sở Nội vụ tỉnh B, nên tin tưởng Á có thể lo thi được biên chế. Tuy nhiên, sau khi có kết quả thi vòng 2 của kỳ thi tuyển biên chế ngành y tế năm 2021 thì V không đỗ. V liên lạc với Á thì Á tiếp tục nói dối với V còn 04 suất biên chế bổ sung để lo cho V 01 suất nhằm mục đích tiếp tục chiếm đoạt tiền của V. Đồng thời, Á yêu cầu V chuyển thêm 30.000.000 đồng để xin suất bổ sung biên chế, số tiền trên được tính vào số tiền thỏa thuận ban đầu. V tin tưởng nên sử dụng internet banking chuyển khoản số tiền 30.000.000 đồng từ số tài khoản 58110000869817 của V mở tại ngân hàng B2 đến số tài khoản 58110000712753 của Á mở tại ngân hàng B2. Đến tháng 12/2022, Á tiếp tục nói dối với V là đã có Quyết định biên chế và yêu cầu chuyển đủ số tiền còn lại như thỏa thuận nhưng bớt 10.000.000 đồng. V yêu cầu Á cho xem Quyết định tuyển dụng trước mới chuyển tiền thì Á nói dối là đã thấy quyết định rồi nhưng không chụp hình lại được. Để chiếm đoạt số tiền còn lại, Á liên tục hối thúc V phải chuyển đủ tiền. Vì tin tưởng, nên ngày 04/12/2022 V sử dụng internet banking chuyển đến tài khoản của Á 02 lần, với tổng số tiền 60.000.000 đồng (mỗi lần chuyển khoản 30.000.000 đồng). Tuy nhiên, sau đó V không nhận được quyết định biên chế nên hỏi Á thì Á dùng nhiều lí do khác nhau để trì hoãn, kéo dài thời gian. Đến tháng 7/2023, Á yêu cầu V nói với K chuyển số tiền 30.000.000 đồng mà K còn giữ cho Á. Lúc này, V mới biết K đang giữ 30.000.000 đồng, nên V liên lạc với K đề nghị K chuyển số tiền trên cho Á. Khá nghi ngờ Á không lo được cho V nên nói V: “em coi lại chứ thằng Á nó lo không được nữa đâu” nhưng V không nghe, yêu cầu K chuyển đủ tiền cho Á nhưng K không đồng ý chuyển cho Á mà chuyển trả cho V 30.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, V tiếp tục sử dụng internet banking chuyển số tiền 30.000.000 đồng đến tài khoản của Á. Tổng cộng Á nhận của V số tiền 150.000.000 đồng, Á dùng chơi cờ bạc, trả nợ và tiêu xài cá nhân hết. Sau khi V chuyển đủ tiền cho Á nhưng vẫn không thấy có quyết định biên chế nên hỏi Á thì Á nói là không lo được và hứa hẹn trả tiền cho V nhiều lần nhưng vẫn không trả. V làm đơn tố cáo gửi cơ quan chức năng.

Vụ 02: Tháng 9/2022, bà Phan Thị Thu T1 (sinh năm 1971, ở thôn T, xã N, thị xã A) có con Huỳnh Đức T2 (sinh năm 2001) là sinh viên Trường Đại học Công nghiệp 4 Thành phố H nằm trong diện khám sức khoẻ nghĩa vụ quân sự năm 2023. Do T2 chưa học xong nên gia đình bà T1 muốn xin hoãn thực hiện nghĩa vụ quân sự 1 năm. Trong một lần ngồi uống cà phê thì bà T1 gặp Ngô Văn Á. Qua nói chuyện, Á biết bà T1 đang muốn xin lo hoãn thực hiện nghĩa vụ quân sự cho con, nên Á nói dối là có thể lo khám sức khoẻ nghĩa vụ quân sự không đạt với giá 30.000.000 đồng. Sau đó, Á chủ động đến nhà bà T1 nói dối là Á có tham gia đoàn khám sức khoẻ nghĩa vụ quân sự. Bà T1 biết Á làm ở Trung tâm y tế thị xã A nên đã tin tưởng và đưa tiền mặt 30.000.000 đồng cho Á tại nhà. Đến ngày khám tuyển, T2 về địa phương thực hiện khám sức khỏe theo quy định và trúng tuyển nghĩa vụ quân sự. Tháng 01/2023, T2 tham gia nhập ngũ tại Lữ đoàn T5 273 Gia Lai. Sau đó, bà T1 hỏi Á vì sao đã lo khám sức khoẻ không đạt rồi nhưng vẫn lên đường nhập ngũ. Á nói dối là đã sử dụng số tiền trên lo rồi nhưng ở T, Á không biết và tiếp tục nói dối bà T1 giờ lo để đơn vị trả T2 về địa phương, nhưng sẽ tốn kém hơn. Bà T1 tiếp tục tin tưởng Á có thể lo được nên đồng ý. Sau đó, Á liên tục gọi điện thoại yêu cầu bà T1 đưa tiền để lo cấp xã, thị xã và đơn vị của T2, nhưng thực tế là để chiếm đoạt. Tin tưởng là thật, bà T1 đã nhờ chị Nguyễn Thị Huyền T3 (sinh năm 1983 ở cùng thôn) sử dụng tài khoản ngân hàng chuyển khoản 04 lần đến số tài khoản của Á: 58110000712753 mở tại Ngân hàng B2 với số tiền 120.000.000 đồng. Sau khi chuyển tiền xong, bà T1 vẫn không thấy T2 về, nên liên tục gọi điện hỏi Á thì Á hứa hẹn và nói dối ngày mai T2 sẽ về. Đồng thời, do cần tiền để trả nợ nên Á tiếp tục đến nhà bà T1 nói dối là đưa 2.000.000 đồng để mua rượu gửi cho lãnh đạo đơn vị của T2. Bà T1 tiếp tục đưa tiền cho Á. Như vậy, tổng cộng Ngô Văn Á đã chiếm đoạt của bà T1 số tiền 152.000.000 đồng rồi sử dụng toàn bộ số tiền trên để chơi game đánh bạc trên mạng và trả nợ, tiêu xài cá nhân.

Vụ 03: Cuối năm 2022, Ngô Văn Á biết được thông tin chị Lê Thị D1 (sinh năm 1992, ở thôn X, xã P, huyện T) là nhân viên hợp đồng tại Trung tâm y tế thị xã A (Á và D1 có quen biết nhau) đang nộp hồ sơ thi biên chế ngành y tế tỉnh Bình Định nên nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của D1. Á chủ động liên hệ với D1 và nói Á có thể lo thi đậu biên chế với số tiền 100.000.000 đồng. D1 nói không có tiền. Để D1 tin tưởng, Á nói sẽ bỏ tiền ra để lo trước cho D1 rồi D1 sẽ trả lại. Lúc này, D1 nghĩ Á có chú và bà chị làm ở Sở Nội vụ tỉnh B nên có thể giúp được thì đồng ý. Sau đó, Á yêu cầu D1 đưa trước một khoản tiền để Á đi lo công việc. Tin tưởng là thật nên D1 đã sử dụng số tài khoản 5810870031 ngân hàng B2 chuyển khoản đến số tài khoản 58110000712753 ngân hàng B2 của Á 03 lần, mỗi lần 10.000.000 đồng, tổng cộng 30.000.000 đồng vào các ngày 12/01/2023, 19/01/2023, 19/02/2023 để Á lo công việc. Đến cuối tháng 02/2023, để D1 tin tưởng, Á thông báo D1 đã thi đậu biên chế vào ngành y tế nhưng đây là thông tin nội bộ nên chưa công bố, chưa có danh sách và yêu cầu chuyển đủ 100.000.000 đồng. Diễm tưởng là thật nên ngày 28/02/2023, D1 tiếp tục chuyển khoản đến số tài khoản 58110000712753 cho Á số tiền 50.000.000 đồng với nội dung “LE THI DIEM chuyen tien lo bien che tc 80 con 20” (tức Lê Thị D1 chuyển tiền lo biên chế tổng cộng 80 triệu, còn 20 triệu). Sau đó, Á tiếp tục nói D1 chuyển đủ số tiền mà Á đã bỏ ra để lo cho D1 nên ngày 12/3/2023, D1 tiếp tục chuyển khoản số tiền 20.000.000 đồng đến số tài khoản 58110000712753 cho Á với nội dung: “LE THI DIEM chuyen tien lo bc 100tr” (tức Lê Thị D1 chuyển tiền lo biên chế tổng cộng 100.000.000 đồng). Tất cả những lần Á nhận tiền của D1 thì Á sử dụng để trả nợ và tiêu xài cá nhân hết. Đến đầu tháng 4/2023, Sở y tế tỉnh B niêm yết, công bố danh sách thí sinh trúng tuyển biên chế ngành y tế tỉnh Bình Định, D1 phát hiện không có tên mình nên gọi điện thoại hỏi Á thì Á trả lời do D1 thi điểm thấp quá, để Á lo phúc khảo cho D1 và nói D1 cứ yên tâm. Chị D1 biết mình đã bị lừa đảo chiếm đoạt tiền, nên liên tục đòi lại tiền nhưng Á hứa hẹn nhiều lần không trả nên làm đơn tố cáo hành vi của Á.

- Vật chứng thu giữ:

  • - 35 tờ giấy A4 ghi nhận nội dung tin nhắn qua mạng xã hội trong điện thoại của chị Nguyễn Thị Hiền V với Ngô Văn Á cho chị V giao nộp;
  • - 59 tờ giấy A4 ghi nhận nội dung tin nhắn qua mạng xã hội Zalo giữa Lê Thị D1 với tài khoản “A. Án” do chị D1 giao nộp;
  • - 01 thẻ nhớ micro SD màu đen dung lượng 1GB bên trong có 01 tệp âm thanh tên “Án-2303171505(1).amr” dung lượng 129 KB, thời lượng 01 phút 21 giây ghi nội dung cuộc gọi giữa Phan Thị Thu T1 với Ngô Văn Á liên quan đến hành vi phạm tội của Á do bà T1 giao nộp.

- Về trách nhiệm dân sự:

Bị can Ngô Văn Á cùng với ông Ngô Văn B (cha ruột) đã bồi thường 01 phần hậu quả cho các bị hại Nguyễn Thị Hiền V, số tiền 20.000.000 đồng, Phan Thị Thu T1 số tiền 52.000.000 đồng, Lê Thị D1 số tiền 30.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 40/CT-VKSAN ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn đã truy tố bị cáo Ngô Văn Á về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Ngô Văn Á phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; xử phạt bị cáo Ngô Văn Á từ 07 năm đến 08 năm tù;

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, lưu giữ toàn bộ vật chứng trong vụ án gồm:

  • - 35 tờ giấy A4 ghi nhận nội dung tin nhắn qua mạng xã hội trong điện thoại của chị Nguyễn Thị Hiền V với Ngô Văn Á cho chị V giao nộp;
  • - 59 tờ giấy A4 ghi nhận nội dung tin nhắn qua mạng xã hội Zalo giữa Lê Thị D1 với tài khoản “A. Án” do chị D1 giao nộp;
  • - 01 thẻ nhớ micro SD màu đen dung lượng 1GB bên trong có 01 tệp âm thanh tên “Án-2303171505(1).amr” dung lượng 129 KB, thời lượng 01 phút 21 giây ghi nội dung cuộc gọi giữa Phan Thị Thu T1 với Ngô Văn Á liên quan đến hành vi phạm tội của Á do bà T1 giao nộp.

Về trách nhiệm bồi thường: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Ngô Văn Á phải có trách nhiệm bồi thường cho những người sau:

  • - Bị hại Nguyễn Thị Hiền V 130.000.000đ;
  • - Bị hại Lê Thị Diễm 70.000.000đ;
  • - Bị hại Phạm Thị Thu T4 100.000.000đ

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung cáo trạng, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định đó. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Ngô Văn Á khai nhận hành vi phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định: Bị cáo Ngô Văn Á là nhân viên điều dưỡng Trung tâm y tế thị xã A đã nảy sinh mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ nhu cầu cá nhân. Từ năm 2021 đến tháng 7/2023, bị cáo đã chủ động liên hệ với chị Nguyễn Thị Hiền V và nhận tiền của chị V qua chuyển khoản nhiều lần với số tiền 150.000.000đ hứa sẽ lo cho chị V được tuyển dụng vào biên chế ngành y; với thủ đoạn tương tự từ cuối năm 2022 đến tháng 3/2023 bị cáo đã nhận tiền của chị Lê Thị Diễm q chuyển khoản ngân hàng nhiều lần với số tiền 100.000.000đ với lời hứa sẽ lo cho chị D1 được tuyển dụng vào biên chế ngành y. Ngoài ra, từ tháng 9/2022 đến tháng 01/2023 bị cáo đã tiếp cận bà Phạm Thị Thu T4 có con trong diện khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự cần hoãn thực hiện nghĩa vụ quân sự bị cáo sẽ lo cho con bà T4 không phải đi nghĩa vụ quân sự. Bà T4 tin tưởng bị cáo nên đã nhiều lần đưa tiền và chuyển khoản qua hệ thống ngân hàng theo yêu cầu của bị cáo với số tiền 152.000.000đ. Bị cáo Ngô Văn Á đã nhận tiền 03 bị hại với tổng số tiền 402.000.000đ để sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân.

[3] Xét tính chất của vụ án và hành vi của bị cáo Ngô Văn Á, thấy rằng: Lời khai nhận hành vi và thủ đoạn của bị cáo phù hợp với các lời khai các bị hại, chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Ngô Văn Á là một viên chức nhà nước, khi thực hiện hành vi đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác trong khi bị cáo có đủ năng lực hành vi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo Ngô Văn Á gây nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản người khác một cách trái pháp luật, đã chiếm đoạt các bị hại với số tiền 402.000.000đ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Ngô Văn Á đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tính tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000đ đến dưới 500.000.000đ” nên đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Bị cáo Ngô Văn Á có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Ngô Văn Á có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục một phần hậu quả, “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, bị cáo có 02 con còn ở tuổi chưa thành niên, bị cáo thuộc diện gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Nhân thân bị cáo Ngô Văn Á có tiền sự bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc đã nộp phạt xong.

[5] Xét và ấn định hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo Ngô Văn Á thực hiện hành vi phạm tội có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của nhiều người, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản với số tiền lớn để phục vụ nhu cầu cá nhân trong khi bị cáo là một viên chức nhà nước không biết tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức mà đi vào con đường phạm tội nên cần phải ấn định bị cáo một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian dài tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân lương thiện có ích cho xã hội.

[6] Đối với Phạm K là người có mối quan hệ quen biết với bị cáo Ngô Văn Á và bị hại Nguyễn Thị Hiền V, Lê Thị D1 nhưng Phạm K không đưa ra thông tin gian dối hay giúp sức bị cáo Á chiếm đoạt tài sản của chị V, chị D1 đồng thời Phạm K cũng không có hưởng lợi ích từ hành vi phạm tội của bị cáo Á, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với Phạm K với vai trò đồng phạm với bị cáo Á là có cơ sở.

[7] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo Ngô Văn Á đã chiếm đoạt của người bị hại và đã cùng ông Ngô Văn B khắc phục hậu quả trả lại cho bị hại một phần tài sản, nên buộc bị cáo Ngô Văn Á còn phải có trách nhiệm trả lại tiền đã chiếm đoạt chưa bồi thường cho những người như sau:

  • - Trả cho chị Nguyễn Thị Hiền V 130.000.000đ;
  • - Trả cho chị Lê Thị Diễm 7;
  • - Trả cho bà Phạm Thị Thu T4 100.000.000đ.

Ông Ngô Văn B không yêu cầu bị cáo Ngô Văn Á hoàn trả tiền đã cùng bị cáo bồi thường thiệt hại, nên miễn xét.

[8] Về vật chứng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã thu giữ chứng cứ từ bị hại cung cấp được lưu lại hồ sơ vụ án, nên miễn xem xét xử lý.

[9] Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Ngô Văn Á phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu 15.000.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự

Căn cứ Điều 135, Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn Á phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngô Văn Á 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam ngày 08/01/2024.
  3. Về bồi thường thiệt hại:
    • - Buộc bị cáo Ngô Văn Á phải trả cho chị Nguyễn Thị Hiền V 130.000.000đ (một trăm ba mươi triệu đồng);
    • - Buộc bị cáo Ngô Văn Á phải trả cho chị Lê Thị Diễm 7 (bảy mươi triệu đồng);
    • - Buộc bị cáo Ngô Văn Á phải trả cho bà Phạm Thị Thu T4 100.000.000đ (một trăm triệu đồng)
  4. Về án phí:
    • 4.1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Ngô Văn Á phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng);
    • 4.2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  6. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
    • 6.1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
    • 6.2. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định;
  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND TX. An Nhơn;
  • - Chi cục THADS thị xã An Nhơn;
  • - Công an TX. An Nhơn;
  • - Cơ quan THAHS Công an thị xã An Nhơn
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 53/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Văn Ẩn phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger