Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HS-PT

Ngày 30 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Thuy.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Hải và ông Nguyễn Đức Thuỷ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhật Trung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 60/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Trần Thị H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

- Bị cáo có kháng cáo: Trần Thị H, sinh năm 1998 tại xã V, huyện B, tỉnh Hà Nam; nơi thường trú: Thôn F, xã V, huyện B, tỉnh Hà Nam; chỗ ở: Thôn D, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Dược sĩ; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Duy Q và bà Nguyễn Thị Y; chồng, con: Chưa có: tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 04/4/2024, Công an huyện B, tỉnh Hà Nam Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 7.500.000 đồng về hành vi “Bán thuốc kê đơn khi không có đơn thuốc”; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 29/01/2024 đến nay; có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 03 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, kháng nghị, Toà án cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 27/12/2023, Đoàn kiểm tra của Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh H phối hợp với Đội quản lý thị trường số A Cục quản lý thị trường tỉnh H kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của hộ kinh doanh Trần Thị H. Quá trình kiểm tra, Đoàn kiểm tra phát hiện H đang bán cho khách thuốc Clorocid TW3 Cloramphenicol 250mg, có dấu hiệu là hàng giả. Đoàn kiểm tra đã phát hiện, thu giữ và niêm phong 110 lọ thuốc Clorocid TW3 Cloramphenicol 250mg, trong 01 thùng cát tông, đồng thời chuyển toàn bộ hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H điều tra, xử lý theo quy định. Quá trình kiểm tra, Trần Thị H đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng, số máy: MG9D3LL/A, số IMEI 1: 353167665146692, số IMEI 2: 353167665357059, đã qua sử dụng, H khai nhận đây là điện thoại dùng để liên lạc mua, bán thuốc Clorocid TW3.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng tháng 11/2022, Trần Thị H có mở cửa hàng thuốc An Tâm và đăng ký kinh doanh mang tên Trần Thị H tại địa chỉ thôn D, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam.

Ngày 25/12/2023, anh Nguyễn Văn C sử dụng số điện thoại 0981.621.xxx gọi vào số điện thoại 0856.176.xxx của H đặt mua 100 lọ thuốc Clocid và đặt cọc số tiền 5.000.000 đồng, bằng hình thức chuyển khoản đến số tài khoản ngân hàng H3 mở tại Ngân hàng Q1 của H và hẹn sáng ngày 27/12/2023 C đến cửa hàng thuốc An Tâm của H để lấy thuốc Clocid. Ngay sau đó, H sử dụng tài khoản Facebook là “Hồ N” liên lạc với Nguyễn Thị H1 qua tài khoản Facebook có tên “Ha Nguyen” để đặt mua 10 gói dán sâm giảm đau, 6 lọ VitaminE T, 02 hộp Dexyril, 3 lọ VitaminE Úc, 100 lọ Clocid, 01 hộp kẹo ngậm ho lọ 400 viên kigfa thì H1 đồng ý và hẹn đến ngày 26/12/2023, H sẽ nhận được hàng do H1 gửi qua nhà xe Đ1 (số điện thoại 0918.720.xxx). Sau đó, H1 gửi hóa đơn bán hàng và số tài khoản của H1 (0963.138.587 mở tại ngân hàng M, chủ tài khoản là Nguyễn Thị H1) cho H qua ứng dụng Messenger “Hồ N” để khi nhận được hàng thì H thanh toán tiền cho H1. Trên hóa đơn bán hàng mà H1 gửi cho H có nội dung: Dược phẩm H - 9 V, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Trị giá đơn hàng là 7.302.000 đồng, trong đó 100 lọ Clocid có giá 6.500.000 đồng.

Khoảng 19 giờ ngày 26/12/2023, tại cửa hàng T1, xe ôtô BKS 18H-016.09 của nhà xe Đ1 đã giao cho H 01 thùng bìa cát tông được bọc kín. Sau đó, H mở ra bên trong có 10 gói dán sâm gói giảm đau, 06 lọ VitaminE T, 02 hộp Dexyril, 3 lọ VitaminE Úc, 01 hộp kẹo ngậm ho lọ 400 viên kigfa và 1 thùng cát tông nhỏ, bên trong có 110 lọ thuốc Clorocid TW3 Cloramphenicol 250mg. H xếp lên trên kệ cửa hàng thuốc của H: 10 gói dán sâm gói giảm đau, 06 lọ VitaminE T, 02 hộp Dexyril, 3 lọ VitaminE Úc, 01 hộp kẹo ngậm ho lọ 400 viên kigfa và 10 lọ thuốc Clorocid TW3 Cloramphenicol 250mg; còn 100 lọ thuốc Clorocid TW3 Cloramphenicol 250mg thì H để nguyên trong thùng bìa cát tông.

Khoảng 22 giờ cùng ngày, H vào mạng internet để tìm hiểu thông tin về loại thuốc Clorocid TW3 Cloramphenicol 250mg mà H vừa nhận được thì được biết loại thuốc trên Công ty Cổ phần D đã dừng sản xuất từ năm 2019, nhưng trên nhãn mác của toàn bộ số thuốc Clorocid TW3 Cloramphenicol 250mg mà H1 gửi cho H lại ghi: “NSX: 11/8/2023, HSD: 11/8/2026, nhà sản xuất: Công ty Cổ phần D” nên H mới biết đó là thuốc giả. Vì vậy, H chưa thanh toán tiền đơn hàng cho H1 và cũng không thông tin lại cho H1 biết số thuốc C1 gửi cho H là thuốc giả.

Mặc dù, biết số thuốc Clorocid TW3 Cloramphenicol 250mg là thuốc giả nhưng vì lợi nhuận nên khoảng 09 giờ 15 phút ngày 27/12/2023, khi anh C đến cửa hàng thì H vẫn giao 100 lọ thuốc Clorocid TW3 Cloramphenicol 250mg (là thuốc giả) cho anh C và bảo giá số thuốc đó là 10.800.000 đồng. Trong lúc anh C đang kiểm đếm số thuốc đã đặt mua thì anh Nguyễn Đình H2 đi đến cửa hàng thuốc của H hỏi mua 01 lọ bổ phế N, 04 viên thuốc Augmentin và thuốc ho với số tiền là 120.000 đồng. Khi thấy các lọ thuốc Clorocid TW3 Cloramphenicol 250mg mà anh C đang đếm thì anh H2 có hỏi mua thêm 03 lọ Clorocid TW3 Cloramphenicol 250mg với số tiền là 450.000 đồng. Tổng số tiền anh H2 đã thanh toán cho H là 570.000 đồng. Cùng lúc này thì Đoàn kiểm tra của Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh H phối hợp cùng Đội quản lý thị trường số A Cục quản lý thị trường tỉnh H tiến hành kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong hoạt động kinh doanh cửa hàng thuốc. Quá trình kiểm tra, ngoài 103 lọ thuốc Clorocid TW3 Cloramphenicol 250mg Hồ N đang bán cho anh C và anh H2 thì Đ kiểm tra còn phát hiện 07 lọ thuốc Clorocid TW3 Cloramphenicol 250mg Hồng đang bày trên kệ cửa hàng thuốc của H. Đoàn kiểm tra đã thu giữ 110 lọ thuốc Clorocid TW3 Cloramphenicol 250mg có SĐK: VD-25305-16, số lô sản xuất 0603, NSX: 11/8/2023, HSD: 11/8/2026, nhà sản xuất: Công ty Cổ phần D, trụ sở: A L, phường M, quận H, thành phố Hải Phòng; Nhà máy sản xuất: số B, đường C - N - A - Hải Phòng; quy cách đóng hộp: 400 viên nén. H khai nhận là 110 lọ thuốc Clorocid TW3 Cloramphenicol 250mg giả để bán cho khách.

Vật chứng thu giữ: 110 lọ thuốc thành phẩm Clorocid TW3 Cloramphenicol 250mg; SĐK: VD-25305-16; Số lô sx: 0603; NSX: 11/8/2023; HD: 11/8/2026; Nhà sản xuất Công ty CP D; Trụ sở: 16 L - M - Hồ N - Hải Phòng; Nhà máy sản xuất: số B - đường C - N - A - Hải Phòng; quy cách hộp 400 viên nén. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng, số máy: MG9D3LL/A, số IMEI 1: 353167665146692, số IMEI 2: 353167665357059, đã qua sử dụng.

Khám xét chỗ ở của Trần Thị H tại thôn D, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam: Không thu giữ đồ vật, tài sản, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Trần Thị H đã nộp số tiền 5.450.000 đồng vào tài khoản tạm gửi của Công an tỉnh H là tiền H thu lợi bất chính từ việc buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh. (Trong đó: 5.000.000 đồng là tiền anh C chuyển khoản đặt mua thuốc Clorocid trước đó và 450.000 là tiền anh Nguyễn Đình H2 mua 03 lọ thuốc Clorocid).

Tại bản Kết luận giám định số 18/KL-KTHS ngày 04/01/2024 của V - Bộ C2 kết luận:

“- Các viên nén màu trắng trong 110 (một trăm mười) lọ sản phẩm có nhãn ghi “CLOROCID TW3 Cloramphenicol 250mg”, loại 400 viên, số lô 0603, SĐK: VD-25305-16 (ký hiệu M1) gửi giám định đều có chứa hoạt chất chloramphenicol, hàm lượng trung bình 3,7 mg/viên (không đạt hàm lượng chloramphenicol 250 mg/viên như trên nhãn ghi).

- Các mẫu ký hiệu M1 gửi giám định đều không tìm thấy các khoáng vật có độc tính (borax, chì oxide, chì cacbonat, arsenic disulfide, muối thủy ngân chlorid, sulfua, thủy ngân sulfide,....), dược liệu độc làm thuốc (các alkaloid độc có trong Cà độc dược, Mã tiền, Ô đầu và Phụ tử, ....); các thuốc an thần gây ngủ và các chất độc: Xyanua, thuốc diệt chuột (nhóm chống đông máu, các muối phốt phua, floaxetat, tetramine); hóa chất bảo vệ thực vật (thuốc trừ sâu, diệt cỏ)”.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 24/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Hà Nam kết luận về giá của tài sản tại thời điểm định giá như sau: “110 (một trăm mười) lọ thuốc Clorocid TW3 250mg; SĐK: VD-25305-16; quy cách hộp 400 viên nén; Nhà sản xuất Công ty CP D có giá là 19.272.000 đồng (Mười chín triệu, hai trăm bẩy mươi hai nghìn đồng)”.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2024/HS-ST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam đã quyết định:

Về hình sự: Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 194; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 41; Điều 47 Bộ luật hình sự.Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội “Buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh”. Xử phạt bị cáo Trần Thị H 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.

Ngoài ra, bản án còn quyết định hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 02/7/2024, bị cáo Trần Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, đề nghị xem xét việc bị cáo bị bệnh đau đầu TD đau đầu Migraine - TD hạ huyết áp tư thế, tiền sử nang màng nhện, bố bị cáo là thương binh, gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn để giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo rút yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 342, điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đình chỉ yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo. Đề nghị sửa bản án hình sự sơ thẩm, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Về hình sự: Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 194; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 41; Điều 47 Bộ luật hình sự.Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội “Buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh”. Xử phạt bị cáo Trần Thị H 02 năm 03 tháng đến 02 năm 04 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo không phải chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Thị H trong thời hạn luật định, nội dung đơn kháng cáo đảm bảo đúng quy định tại khoản 2 Điều 332 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nên được Toà án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật. Bị cáo xin rút một phần yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo nên Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu này của bị cáo.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Thị H khai nhận về hành vi của mình đúng như bản án sơ thẩm đã xác định. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Do ham lợi bất chính nên khoảng 09 giờ 20 phút ngày 27/12/2023, Trần Thị H là chủ cửa hàng thuốc An Tâm có địa chỉ tại thôn D, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam đang bán 100 lọ thuốc chữa bệnh loại Clorocid TW3 Cloramphenicol 250mg giả cho Nguyễn Văn C, bán 03 lọ thuốc chữa bệnh loại Clorocid TW3 Cloramphenicol 250mg giả cho Nguyễn Đình H2 và bày bán 07 lọ thuốc chữa bệnh loại Clorocid TW3 Cloramphenicol 250mg giả, tương đương với số lượng của hàng thật, trị giá 19.272.000 đồng, thì bị phát hiện, thu giữ.

Toà áp cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế và chính sách quản lý thị trường thuốc chữa bệnh của Nhà nước. Ngày 04/4/2024 bị cáo bị Công an huyện B, tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Bán thuốc kê đơn khi không có đơn thuốc” mặc dù không bị coi là tiền sự nhưng đây cũng là tình tiết để Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bán thuốc giả 02 lần nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nênbị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, bị cáo xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ mới thể hiện bị cáo đang bị bệnh đau đầu TD đau đầu Migraine - TD hạ huyết áp tư thế, tiền sử nang màng nhện, bố bị cáo là thương binh, gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo yên tâm chấp hành án sớm trở về với gia đình và xã hội cũng như thấy được tính nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội biết ăn năn, hối cải.

Vì các lý do nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam về phần hình phạt chính.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do Bản án sơ thẩm bị sửa nên bị cáo không phải chịu.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 342, điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Đình chỉ một phần kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam về phần hình phạt chính.

Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 194; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 41; Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị H phạm tội “Buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh”.

2. Xử phạt: Bị cáo Trần Thị H 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Thị H không phải chịu.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp;
  • - TAND huyện Bình Lục;
  • - VKSND huyện Bình Lục;
  • - Công an huyện Bình Lục;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Lục;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, Tòa hình sự, Bộ phận HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Thuy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HS-PT ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về hình sự phúc thẩm (buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh)

  • Số bản án: 53/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do ham lợi bất chính nên khoảng 09 giờ 20 phút ngày 27/12/2023, Trần Thị H là chủ cửa hàng thuốc A có địa chỉ tại thôn D, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam đang bán 100 lọ thuốc chữa bệnh loại Clorocid TW3 Cloramphenicol 250mg giả cho Nguyễn Văn C, bán 03 lọ thuốc chữa bệnh loại Clorocid TW3 Cloramphenicol 250mg giả cho Nguyễn Đình H và bày bán 07 lọ thuốc chữa bệnh loại Clorocid TW3 Cloramphenicol 250mg giả, tương đương với số lượng của hàng thật, trị giá 19.272.000 đồng, thì bị phát hiện, thu giữ. Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam về phần hình phạt chính
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger