Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29 – 7 – 2024

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Ngô Thị Mỹ Lợi
  2. Ông Nguyễn Văn Minh

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Kim Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

Trong ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 120/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Mai Thị M, sinh năm 1983

Địa chỉ: Số B, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ

Bị đơn: Anh Huỳnh Thanh T, sinh năm 1985

Nơi ở hiện nay: Số B, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ

Nguyên đơn; Bị đơn có đơn xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Mai Thị M trình bày:

  • - Về hôn nhân: Chị M và anh T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2015, không có tổ chức đám cưới, không có đăng ký kết hôn vì trước khi chung sống với anh T, chị M cũng đã có chồng và đã ly hôn. Hai bên chung sống đến khoảng năm 2020 phát sinh mâu thuẫn do tính tình, quan điểm sống không phù hợp, anh T ăn nhậu thường xuyên, không phụ tiếp kinh tế cùng chị M, tham gia cờ bạc, chị M khuyên không nghe. Từ đó, vợ chồng thường xuyên cự cãi, anh T chửi mắng chị M với những lời lẽ thiếu tế nhị. Nay nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với anh T, chị M yêu cầu ly hôn.
  • - Về nuôi con chung: Có 01 con tên Mai Huỳnh Tấn P, sinh ngày 26/10/2016 (hiện sống chung với chị M và anh T). Khi ly hôn chị M giao con cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị M không cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về tài sản chung: Có 02 chiếc xe máy và căn nhà số B, ấp P, xã T, thành phố S (xây dựng trên đất của cha, mẹ chị M). Khi ly hôn tài sản chung tự thỏa thuận, không tranh chấp yêu cầu giải quyết.
  • - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

* Quá trình tham gia tố tụng bị đơn anh Huỳnh Thanh T trình bày:

  • - Về hôn nhân: Anh Huỳnh Thanh T thống nhất theo lời trình bày của chị M về thời gian chung sống. Khoảng 01 năm nay vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do chị M tụ tập bạn bè ăn nhậu có khi đi tới sáng hôm sau mới về, anh T buồn vợ nên cũng đi nhậu. Từ đó, vợ chồng gây gỗ, cự cãi, có những lời lẽ thiếu tôn trọng lẫn nhau. Nay anh T xác định còn thương chị M nên không đồng ý ly hôn.
  • - Về nuôi con chung: Có 01 con tên Mai Huỳnh Tấn P, sinh ngày 26/10/2016 (hiện sống chung với chị M và anh T). Khi ly hôn anh T yêu cầu trực tiếp nuôi con, không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về tài sản chung: Có 02 chiếc xe máy và căn nhà số B, ấp P, xã T, thành phố S (xây dựng trên đất của cha, mẹ chị M). Khi ly hôn tài sản chung tự thỏa thuận, không tranh chấp yêu cầu giải quyết.
  • - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

* Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 17/6/2024, cháu M Huỳnh Tấn P có nguyện vọng được sống chung với anh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Trên cơ sở Đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của nguyên đơn Mai Thị M, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật phải giải quyết là “Tranh chấp ly hôn”. Bị đơn Huỳnh Thanh T hiện cư trú tại thành phố S nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Chị Mai Thị M, anh Huỳnh Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu của chị Mai Thị M về việc yêu cầu ly hôn anh Huỳnh Thanh T, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Chị M và anh T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2015, không có đăng ký kết hôn là vi phạm Luật hôn nhân và gia đình.

Lẽ ra, trong quá trình chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2015 đến nay, chị M và anh T phải có nghĩa vụ đăng ký kết hôn để được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp. Hơn nữa, trong quá trình chung sống với nhau như vợ chồng, giữa chị M và anh T đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, do quan điểm sống không phù hợp, hai bên thường xuyên cự cãi, gây gỗ có những lời lẽ thiếu tôn trọng lẫn nhau. Từ đó, dẫn đến tình cảm ngày càng bị tổn thương rạn nứt, không thể hòa giải, hàn gắn. Về phía anh T xác định còn thương chị M nên không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên do chị M và anh T không tuân thủ việc kết hôn theo quy định của pháp luật, nên quan hệ hôn nhân giữa anh chị không có giá trị về mặt pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Nên căn cứ Điều 14, 15 và khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị M, không công nhận chị M và anh T là vợ chồng.

[2.2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung khi ly hôn: Chị M và anh T chung sống có con chung tên Mai Huỳnh Tấn P, sinh ngày 26/10/2016 (hiện sống chung với chị M và anh T). Khi ly hôn, chị M và anh T thống nhất thỏa thuận; Giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy sự thỏa thuận về việc nuôi con chung sau ly hôn giữa chị M và anh T là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật cũng như nguyện vọng của cháu P nên Hội đồng xét xử chấp nhận; Chị M có quyền nghĩa vụ đến thăm con, không ai được quyền cản trở.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

[2.4] Về chia tài sản chung: Chị M và anh T tự thỏa thuận, không tranh chấp nên không xem xét.

[2.5] Về nợ chung: Chị M và anh T trình bày không có, không tranh chấp yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Chị M phải chịu 300.000đồng án phí về ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào các Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên Xử:

  1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Mai Thị M và anh Huỳnh Thanh T.
  2. Về nuôi con chung:
    • - Anh Huỳnh Thanh T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con tên Mai Huỳnh Tấn P, sinh ngày 26/10/2016 (hiện sống chung với chị M và anh T). Chị Mai Thị M có trách nhiệm giao con cho anh Huỳnh Thanh T nuôi dưỡng.
    • - Anh Huỳnh Thanh T không yêu cầu chị Mai Thị M cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.
    • - Chị Mai Thị M có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung: Chị Mai Thị M và anh Huỳnh Thanh T tự thỏa thuận, không tranh chấp yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  4. Về tài sản chung: Chị Mai Thị M và anh Huỳnh Thanh T trình bày không có nên không xem xét.
  5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

    Chị Mai Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm (về ly hôn). Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị M đã nộp ngày 17/6/2024 theo biên lai thu số 0007751 tại Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố S được khấu trừ toàn bộ vào án phí phải nộp.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Thị Thủy

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 53/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không công nhận quan hệ vợ chồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger