Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10/03/2025

“V/v: Tranh chấp ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mộng Hà.

- Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên – Nguyên Phó chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.
  2. Ông Trần Văn Chánh- Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thuỳ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa: Bà Trần Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 2196/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXX-ST ngày 09/01/2025; Quyết định hoãn phiên Toà số 102/2025/QĐST-DS ngày 10/02/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1984

Địa chỉ thường trú: 361/11/7T, Tổ B, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ liên hệ: Hẻm C, Phan Bội C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Trương Văn K, sinh năm 1977

Địa chỉ thường trú: 361/11/7T, Tổ B, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bà D có đơn xin xét xử vắng mặt, ông K vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn bà Nguyễn Thị D trình bày: Bà và ông Trương Văn K xây dựng gia đình với nhau vào năm 2003 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vợ chồng chung sống vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm nguyên nhân là do tính tình không hợp, quan điểm bất đồng. Vợ chồng đã cố gắng ngồi lại để khắc phục nhưng không có kết quả. Xét tình cảm không còn nên bà xin ly hôn.

Về con chung: Có 02 cháu tên là Trương Anh K1, sinh ngáy: 18/01/2004, Trương Anh T, sinh ngày: 13/07/2012. Ly hôn Cháu K1 đã trưởng thành, có khả năng lao động được. Bà D xin nuôi cháu T, tạm thời không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Ông K vắng mặt trong suốt quá trình Toà án giải quyết vụ kiện.

* Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn, chấp hành đúng các thủ tục theo quy định pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng các thủ tục theo quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Diễm.

Về con chung: Có 02 cháu tên là Trương Anh K1, sinh ngáy: 18/01/2004, Trương Anh T, sinh ngày: 13/07/2012. Ly hôn đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu T cho bà D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, tạm thời ông K không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông K được quyền đi lại thăm con không ai cản trở. Vì quyền lợi của trẻ khi cần thiết ông bà được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung + nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bà D phải nộp theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng : Bà Nguyễn Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Trương Văn K đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2016, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà D, ông K là phù hợp.

[2] Về thẩm quyền xét xử: Ông Trương Văn K có sinh sống tại địa chỉ C, tổ B, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ điều 28, 35, 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2016 Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị D và ông Trương Văn K tự nguyện tìm hiểu, sống chung với nhau vào năm 2003, trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên xác định quan hệ hôn nhân của bà D, ông K là hợp pháp. Nay bà D xin ly hôn, Tòa án căn cứ vào Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

[4] Về yêu cầu xin ly hôn của bà D: Bà D xin ly hôn với ông K với lý do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hoà hợp dẫn đến vợ chồng thường hay gây gỗ với nhau. Xét tình cảm không còn nên bà xin ly hôn.

Về phía ông K vắng mặt trong suốt quá trình Toà án giải quyết vụ kiện.

Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương thì địa phương không nắm được mâu thuẫn giữa bà D và ông K. Tuy nhiên từ khi thụ lý vụ kiện, Toà án đã triệu tập ông K rất nhiều lần làm việc, hoà giải, công khai chứng cứ, xét xử nhưng ông K vẫn vắng mặt không có lý do. Điều này cho thấy bản thân ông K đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân của mình nên cho dù có hàn gắn đoàn tụ ông bà cũng không mang lại hạnh phúc cho nhau. Nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà D. Cho bà D được ly hôn với ông K là phù hợp.

[5] Về con chung: Có 02 cháu tên là Trương Anh K1, sinh ngáy: 18/01/2004, Trương Anh T, sinh ngày: 13/07/2012. Ly hôn bà D có nguyện vọng nuôi con. Toà án cũng đã tham khảo ý kiến của cháu T thì được biết cháu có nguyện vọng được sống với mẹ. Do ông K vắng mặt trong suốt quá trình Toà án giải quyết vụ kiện nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà D, giao cháu T cho bà D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.

[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà D không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[7] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

[8] Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Bà D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[9] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, Điều 203, khoản 3 điều 228; 235, 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2016;

- Áp dụng điều 51, 53, 54, 56, 57, 131 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

1. Tuyên xử: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Diễm . Bà Nguyễn Thị D được ly hôn với ông Trương Văn K.

2. Về con chung: Có 02 cháu tên là Trương Anh K1, sinh ngáy: 18/01/2004, Trương Anh T, sinh ngày: 13/07/2012. Ly hôn cháu K1 đã trưởng thành, có khả năng lao động được nên không đặt ra xem xét. Giao cháu T cho bà D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm thời ông K không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông K được quyền đi lại thăm con không ai cản trở. Vì quyền lợi của trẻ khi cần thiết ông bà được quyền xin thay đổi vị trí nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị D phải nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0000794 ngày 26/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Đồng Nai (2);
  • -VKSND thành phố Biên Hòa (2);
  • -THA Dân sự thành phố Biên Hòa (1);
  • TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (1);
  • -Cơ quan cấp giấy kết hôn (1)
  • -Đương sự (2)
  • -Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mộng Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 53/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà D yêu cầu ly hôn với ông K
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger