TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09/5/2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Công Trung
- 2. Ông Nguyễn Hồng Vân
Thư ký phiên tòa: Ông Trương Hữu Lộc – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Kim Chúc – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2024/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2024/QSSDT-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Bé L, sinh năm 1988; (vắng mặt có đơn)
- ĐKTT: Khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Anh Trần Minh T, sinh năm 1986; (vắng mặt)
- ĐKTT: Khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Ngô Thị Bé L trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Trần Minh T kết hôn vào năm 2007 trên cơ sở tự nguyện, và có đăng ký kết hôn tại UBND xã A (nay là thị trấn T), huyện B, tỉnh Bến Tre vào năm 2007. Thời gian đầu, anh chị sống hạnh phúc nhưng sau này thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi, dẫn đến tình cảm ngày càng rạn nứt. Đến tháng 6/2023 thì mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Gia đình hai bên có khuyên nhủ, hòa giải nhưng chị và anh T vẫn không thể hàn gắn. Hiện chị và anh T đã sống ly thân. Nay chị nhận thấy hôn nhân của chị và anh T đã không còn hạnh phúc, vợ chồng đã không còn khả năng hàn gắn nên chị yêu cầu ly hôn với anh Trần Minh T.
Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh T có 04 con chung tên Trần Minh T1, sinh ngày 28/7/2009, Trần Minh H, sinh ngày 26/7/2011, Trần Huy H1, sinh ngày 11/9/2018 và Trần Hoàng P, sinh ngày 15/6/2022. Hiện cháu T1 và cháu H đang sống cùng anh T, cháu H1 và cháu P đang sống cùng chị. Khi ly hôn, chị giao cháu T1 và cháu H cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H1 và cháu P. Đôi bên không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Trong quá trình tố tụng vụ án, bị đơn anh Trần Minh T không có văn bản thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị L và không đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
* Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát:
Về thủ tục: Thẩm phán đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, cấp tống đạt các văn bản cho đương sự, gởi thông báo thụ lý, hồ sơ đến Viện kiểm sát đúng quy định, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định về trình tự, thủ tục giải quyết của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán chấp hành đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định, đảm bảo cho các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia giải quyết vụ án nên đủ điều kiện đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Việc nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và phiên tòa xét xử vắng mặt đương sự là đúng theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị:
- + Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Thị Bé L được ly hôn với anh Trần Minh T.
- + Về con chung: Có 04 con chung tên Trần Minh T1, sinh ngày 28/7/2009, Trần Minh H, sinh ngày 26/7/2011, Trần Huy H1, sinh ngày 11/9/2018 và Trần Hoàng P, sinh ngày 15/6/2022. Giao cháu T1 và cháu H cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao cháu H1 và cháu P cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Đôi bên không cấp dưỡng nuôi con.
- + Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Bé L và anh Trần Minh T kết hôn vào năm 2007 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã A (nay là thị trấn T), huyện B, tỉnh Bến Tre. Do đó, hôn nhân của chị L và anh T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình giải quyết vụ án, chị L cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn nên yêu cầu ly hôn với anh T. Chị L và anh T cũng đã có thời gian ly thân nhưng không hàn gắn được. Anh T biết việc chị L yêu cầu ly hôn nhưng không đến Tòa chứng tỏ anh T không có thiện chí hàn gắn cùng chị L. Do đó, HĐXX xét thấy tình trạng hôn nhân của chị L và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu ly hôn của chị L là có căn cứ phù hợp với quy định khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được HĐXX chấp nhận.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống, chị L và anh T có 04 con chung tên Trần Minh T1, sinh ngày 28/7/2009, Trần Minh H, sinh ngày 26/7/2011, Trần Huy H1, sinh ngày 11/9/2018 và Trần Hoàng P, sinh ngày 15/6/2022. Hiện cháu T1 và cháu H đang sống cùng anh T, cháu H1 và cháu P đang sống cùng chị L. Xét việc chị L giao cháu T1, cháu H cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, đồng thời chị L có yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu H1 và cháu P là có cơ sở, đảm bảo được sự ổn định cho cuộc sống, việc học hành cũng như tâm sinh lý của các cháu và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu T1, cháu H. Do đó, HĐXX chấp nhận giao cháu T1 và cháu H cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, giao cháu H1 và cháu P cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng. Anh T không đến Tòa, không có ý kiến đối với vấn đề con chung và cấp dưỡng nên HĐXX không buộc chị L cấp dưỡng nuôi cháu T1, cháu H và ghi nhận chị L tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu H1, cháu P.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Không ai có yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[5] Xét quan điểm đề nghị về nội dung giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri là cùng quan điểm nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[6] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Ngô Thị Bé L phải nộp án phí hôn nhân gia đình theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận cho chị Ngô Thị Bé L ly hôn với anh Trần Minh T.
- Về con chung: Có 04 con chung tên Trần Minh T1, sinh ngày 28/7/2009, Trần Minh H, sinh ngày 26/7/2011, Trần Huy H1, sinh ngày 11/9/2018 và Trần Hoàng P, sinh ngày 15/6/2022. Anh Trần Minh T có quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Minh T1, Trần Minh H. Chị Ngô Thị Bé L có quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Huy H1 và Trần Hoàng P. Đôi bên không cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí: Chị Ngô Thị Bé L phải nộp án phí hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng biên lai thu tiền số 0000171 ngày 14/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Trần Thị Huyền Nhung |
Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI - TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 53/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI - TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tòa án chấp nhận cho chị Ngô Thị Bé L ly hôn với anh Trần Minh T. Con chung: Có 04 con chung, mỗi người nuôi 02 con chung, đôi bên không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
