Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HC-ST

Ngày: 25-4-2024

V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Minh Trí
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Lập
  • Bà Kiều Thị Kim Dung
  • Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An: Ông Võ Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số 368/2023/TLST-HC ngày 11 tháng 12 năm 2023 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST-HC ngày 10 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962. Địa chỉ: Số G, Tổ H, Đường T, Khu phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.

Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Minh T - Phó chủ tịch.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Hoài T1 - Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1970. Địa chỉ: Tổ H, Đường T, Khu phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.

(Bà H, bà P có mặt, ông T, ông T1 có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa người khởi kiện có nội dung như sau:

Bà Nguyễn Thị H yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 156783 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 25/5/2011 đối với thửa đất số 115, tờ bản đồ số 19, diện tích 290,1m², tọa lạc tại khu phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.

Ngày 23/10/2023, bà làm thủ tục tách thửa cho con bà, khi đo đạc địa chính huyện C phát hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà được cấp chồng lên phần đất của bà Nguyễn Thị Kim P nên không tách thửa được. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H là không đúng hiện trạng sử dụng. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An hủy giấy chứng nhận nêu trên.

Tại văn bản số 132/UBND-NC ngày 09/01/2024 của Ủy ban nhân dân huyện C có nội dung:

Qua quá trình sao lục kiểm tra hồ sơ địa chính, hồ sơ biến động và hồ sơ lưu trữ tại Chi nhánh Văn phòng Đ tại huyện không có lưu hồ sơ cấp giấy chứng nhận đối với thửa đất số 115, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại khu phố C, thị trấn C do Ủy ban nhân dân huyện C cho bà Nguyễn Thị H. Do đó Ủy ban nhân dân huyện không có cơ sở để có ý kiến về việc cấp giấy chứng nhận đối với thửa đất nêu trên.

Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An giải quyết vụ án trên theo quy định của pháp luật. Sau khi có bản án, quyết định của Tòa án nhân dân tỉnh Long An có hiệu lực pháp luật, Ủy ban nhân dân huyện C sẽ tổ chức thực hiện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim P trình bày: Bà đang quản lý sử dụng thửa đất số 610, tờ bản đồ số 19. Giữa thửa đất số 610 của bà và thửa đất số 115 của bà H có hàng rào kiên cố, xây tường, bên trên là lưới B40, không có tranh chấp, bà H yêu cầu hủy giấy của bà H bà đồng ý.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Về nội dung: Qua xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa cho thấy, bà Nguyễn Thị H được Ủy ban nhân dân huyện C cấp quyền sử dụng thửa đất số 115, tờ bản đồ số 19, diện tích: 290,1m², loại đất: ở đô thị, tọa lạc tại khu phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An, nhưng thực tế phần đất bà đang sử dụng tại khu C có diện tích 82,8m² là một phần thửa 610, khu D có diện tích 12,5m² thuộc một phần thửa 311 và khu A có diện tích 63,9m² thuộc một phần thửa 237 là không đúng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bà đã được cấp, các khu đất được thể hiện theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính ngày 19/3/2024. Ủy ban nhân dân huyện C khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H chỉ dựa vào hồ sơ địa chính, không đo đạc và xem xét hiện trạng sử dụng đất dẫn đến cấp sai hình thể, diện tích. Đồng thời Ủy ban nhân dân huyện C không cung cấp được hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H mà cho rằng hồ sơ thất lạc. Bà H khởi kiện đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số BE 156783 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà H ngày 25/5/2011 đối với thửa đất số 115 là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng và ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

  1. Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị H yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 156783 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 25/5/2011 đối với thửa đất số 115, tờ bản đồ số 19, diện tích 290,1m², tọa lạc tại khu phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An. Đây khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.
  2. Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 23/10/2023, bà làm thủ tục tách thửa đất cho con bà, khi đo đạc địa chính huyện C phát hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà được cấp chồng lên phần đất của bà Nguyễn Thị Kim P nên không tách thửa được. Ngày 31/10/2023, bà H nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An là còn trong thời hiệu, nên Tòa án thụ lý giải quyết là đúng quy định tại Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.
  3. Về việc tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và đối thoại: Tòa án đã có thông báo cho các đương sự nhưng người bị kiện vắng mặt, người khởi kiện có đơn yêu cầu không đối thoại nên Tòa án lập biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản không tiến hành đối thoại được theo quy định của Điều 135, 137 Luật Tố tụng hành chính.
  4. Người đại diện của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện C ông Huỳnh Minh T và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện ông Nguyễn Hoài T1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 158 Luật Tố tụng hành chính, Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử vắng mặt ông T, ông T1 là phù hợp.
  5. Về hình thức và thẩm quyền ban hành quyết định:

    Ngày 25/5/2011, Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị H thửa đất số 115, tờ bản đồ số 19, diện tích: 290,1m², loại đất: ở đô thị, tọa lạc tại khu phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An là đúng quy định về hình thức, thẩm quyền, theo quy định của Luật Đất đai năm 1993.

    Tuy nhiên, Ủy ban nhân huyện C không cung cấp được hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H, nên không có căn cứ xác định trình tự, thủ tục xét cấp giấy là đúng hay sai. Đồng thời khi thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị H, đã không thực hiện kiểm tra, xác minh hiện trạng, vị trí sử dụng đất là có sai sót.

  6. Về nội dung của quyết định hành chính: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và phần trình bày của các đương sự tại phiên tòa cho thấy thực tế phần đất bà H đang sử dụng tại khu C có diện tích 82,8m² là một phần thửa 610, khu D có diện tích 12,5m² thuộc một phần thửa 311 và khu A có diện tích 63,9m² thuộc một phần thửa 237, tổng diện tích sử dụng là 314,9m², nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp chỉ có thửa 115, diện tích 290,1m². Hiện trạng trên thửa đất số 115, tờ bản đồ số 19 nền đổ đá xanh, xung quanh có cổng rào kiên cố do bà H quản lý sử dụng ổn định không tranh chấp. Trên thửa đất có 01 căn nhà tạm để nuôi gà, có 02 cây bưởi, 01 cây chùm ruột và 03 cây so đủa. Phía trước thửa đất giáp đường đan, cổng rào kiên cố. Nội dung này được thể hiện qua lời khai của bà H, bà P, biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An và M trích đo địa chính ngày 19/3/2024.

    Như vậy, có cơ sở xác định Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị H thửa đất số 115, tờ bản đồ số 19, diện tích: 290,1m², loại đất: ở đô thị, tọa lạc tại khu phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An là sai hình thể, diện tích sử dụng là trái với quy định tại Điều 2, Điều 20, Điều 73 Luật Đất đai năm 1993. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H là có căn cứ nên được chấp nhận như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.

  7. Về chi phí tố tụng và án phí:

    Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc là 17.000.000 đồng. Bà H đã nộp và tự nguyện chịu toàn bộ chi phí này nên ghi nhận là phù theo khoản 1 Điều 357, 358 Luật Tố tụng hành chính.

    Về án phí: Bà Nguyễn Thị H không phải chịu án phí. Ủy ban nhân dân huyện C phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của Điều 348 Luật Tố tụng hành chính và Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 158, Điều 348, Điều 357, Điều 358 Luật Tố tụng hành chính;

Căn cứ Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Áp dụng Điều 2, Điều 20, Điều 73 Luật Đất đai năm 1993;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.

    Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 156783 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H ngày 25/5/2011 đối với thửa đất số 115, tờ bản đồ số 19, diện tích 290,1m², loại đất ở đô thị, tọa lạc tại khu phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.

  2. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị H phải chịu 17.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc, bà H đã nộp xong.
  3. Về án phí: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - Cục THADS tỉnh Long An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Minh Trí

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Minh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HC-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 53/2024/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hai "Khiếu kiện quyết định hành chính" UBND huyện Cần Giuộc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger