trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Q
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/DS- ST

Ngày 20 tháng 5 năm 2024

V/v “T/c hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Viên

2. Ông Tạ Văn Thắng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Thẩm tra viên chính.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Cúc – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 74/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/QĐST-HPT ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng Q, địa chỉ: Tầng 1 (tầng trệt) và Tầng 2, toà nhà Sailing Tower, số 111A Pasteur, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: ông Hàn Ngọc Vũ – chức vụ: Tổng giám đốc; người đại diện theo uỷ quyền: ông Trần Thành Công – chức vụ: Giám đốc Thu hồi nợ trực tiếp và xử lý nợ - Trung tâm quản lý nợ Ngân hàng bán lẻ 2 – Khối ngân hàng bán lẻ VIB theo Giấy uỷ quyền số 107083.22 ngày 03/10/2022; người được uỷ quyền lại: ông Đồng Phú Việt, theo giấy uỷ quyền số: 085463.23 ngày 29 tháng 6 năm 2023 (ông Việt có mặt)

* Bị đơn: Anh Đào Văn M, sinh năm 1985 và chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990, đăng ký thường trú: xóm 9, thôn P, xã S, huyện Q, thành phố Hà Nội.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1953; cháu Đào Thị Y, sinh năm 2009; cháu Đào Quốc B, sinh năm 2011 và cháu Đào Như Quỳnh, sinh năm 2018; Đều ở địa chỉ: xóm 9, thôn P, xã S, huyện Q, thành phố Hà Nội; (người đại diện theo pháp luật của cháu Y, cháu B và cháu Q là anh M, chị H – Bố, mẹ đẻ);

Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt liên tiếp lần 2 tại phiên tòa không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 29 tháng 6 năm 2023 của nguyên đơn, cũng như bản tự khai và các biên bản hòa giải, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Duy Khánh trình bày:

Ngân hàng Q (sau đây gọi tắt là VIB) đã ký với ông Đào Văn M và bà Nguyễn Thị H theo Hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:

Hợp đồng tín dụng số 2760892.21 ngày 19/03/2021 với nội dung: VIB cho ông Đào Văn M và bà Nguyễn Thị H vay số tiền 509.000.000 đồng; sửa chữa nhà không làm thay đổi kết cấu tại địa chỉ thôn P, xã S, huyện Q, thành phố Hà Nội; thời hạn vay: 60 tháng, từ ngày 30/03/2021 đến 29/03/2026.

* Tài sản bảo đảm: để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi và lãi quá hạn của Bên vay với Ngân hàng, Bên vay đã ký kết Hợp đồng thế chấp sau:

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 387; tờ bản đồ số: 2; địa chỉ: thôn P, xã S, huyện Q, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 114643; số vào sổ cấp GCN: CS-QO 05298 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố Hà Nội cấp ngày 19/8/2019 cho ông Đào Văn M.

Ngày 29/03/2021, VIB đã giải ngân cho ông Đào Văn M và bà Nguyễn Thị H theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2760892(1).21 ngày 29/03/2021 với số tiền 509.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với HĐTD.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Đào Văn M và bà Nguyễn Thị H đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại HĐTD đã ký. Vì vậy, VIB đã chuyển khoản vay thành khoản nợ quá hạn từ ngày 15/02/2023. VIB đã nhiều lần đôn đốc, gửi thông báo và làm việc nhưng đến nay ông Đào Văn M và bà Nguyễn Thị H vẫn không nghiêm túc thực hiện.

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, để tránh những thiệt hại phát sinh từ tranh chấp trên, VIB kính đề nghị Tòa án nhân dân huyện Q giải quyết các yêu cầu sau:

  1. Buộc ông Đào Văn M và bà Nguyễn Thị H phải trả cho VIB toàn bộ số tiền gốc, tiền lãi và các loại phí phát sinh theo hợp đồng tín dụng nêu trên tạm tính đến ngày 28 tháng 6 năm 2023 là: 345.493.859 đồng, trong đó: Nợ gốc: 321.394.681 đồng, nợ lãi trong hạn là: 21.118.885 đồng, nợ lãi quá hạn là: 2.980.293 đồng.
  2. Buộc ông Đào Văn M và bà Nguyễn Thị H phải trả cho VIB các khoản nợ lãi, phí phát sinh với mức lãi suất thỏa thuận theo các hợp đồng tín dụng kể từ ngày 28 tháng 6 năm 2023 cho đến khi tất toán các khoản vay.
  3. Trong trường hợp ông Đào Văn M và bà Nguyễn Thị H không thanh toán được toàn bộ nghĩa vụ trả nợ, thì VIB có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 387; tờ bản đồ số: 2; địa chỉ: Thôn P, xã S, huyện Q, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 114643; số vào sổ cấp GCN: CS-QO 05298 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố Hà Nội cấp ngày 19/8/2019 cho ông Đào Văn M.

Nếu số tiền thu được từ việc phát mại tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán toàn bộ nghĩa vụ của ông Đào Văn M và bà Nguyễn Thị H tại VIB, thì VIB có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản khác và nguồn thu nhập hợp pháp của ông Đào Văn M và bà Nguyễn Thị H để thu hồi nghĩa vụ còn lại của ông Đào Văn M và bà Nguyễn Thị H tại VIB.

- Về án phí: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm.

Quá trình giải quyết vụ án: Bị đơn là ông Đào Văn M, bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị Nhuần đều được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do và không thể hiện quan điểm giải quyết vụ án.

Trong quá trình thụ lý và giải quyết Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ và niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc triệu tập lấy lời khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải của đương sự; Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ; Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa. Do các đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án, vì vậy Tòa án không hòa giải được cho các đương sự.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa phát biểu quan điểm:

+ Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự trong việc nộp đơn khởi kiện, cung cấp tài liệu chứng cứ, nộp tạm ứng án phí và trình bày yêu cầu của mình. Chấp hành đúng nội quy phiên tòa theo Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, Điều 72; Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày 26 tháng 4 năm 2024 bị đơn vắng mặt lần thứ nhất, Tòa án đã hoãn phiên tòa lần thứ 1. Phiên tòa được mở lại vào ngày ngày 20 tháng 5 năm 2024 theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

+ Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ Điều 26; Điều 35, Điều 39; khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ các Điều 317, 318, 319, 320, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; căn cứ Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; căn cứ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về “Giao dịch bảo đảm”; căn cứ Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; căn cứ vào Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: buộc ông M, bà Hạnh phải thanh toán cho VIB tổng số tiền tạm tính đến ngày 20/5/2024 theo Hợp đồng tín dụng số 2760892.21 ngày 19/03/2021 là 414.986.680 đồng; bị đơn tiếp tục phải chịu lãi suất theo lãi được thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng số 2760892.21 ngày 19/03/2021 cho đến khi trả hết nợ.

Đối với Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số công chứng 01658.21, quyển số: 03 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 19/3/2021 tại Văn phòng công chứng Vạn Xuân. Ông M, bà Hạnh đã tự nguyện dụng tài sản của mình để đảm bảo cho khoản vay tại Ngân hàng. Hợp đồng thế chấp nêu trên được giao kết theo đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu án phí; Bị đơn phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định pháp luật.

Nguyên đơn; Bị đơn; Người liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: đây là vụ án yêu cầu thanh toán số nợ tín dụng theo Hợp đồng tín dụng số 2760892.21 ngày 19/03/2021 được ký giữa VIB với ông Đào Văn M và bà Nguyễn Thị H, mục đích vay: sửa chữa nhà. Do vậy, xác định đây là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn là ông M, bà Hạnh có địa chỉ tại xã S, huyện Q, thành phố Hà Nội. Do bị đơn không thanh toán được khoản nợ cho Ngân hàng khi đến hạn trả nợ từ ngày 15/02/2023, Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện cho khách hàng trả nợ nhưng bị đơn không trả được nợ. Vì vậy, ngày 29 tháng 6 năm 2023, VIB đã khởi kiện ông M, bà Hạnh đến Tòa án nhân dân huyện Q, đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông M, bà Hạnh phải thanh toán trả Ngân hàng toàn bộ khoản nợ gốc và lãi phát sinh theo theo Hợp đồng tín dụng số 2760892.21 ngày 19/03/2021. Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Q thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền và còn thời hiệu.

Quá trình giải quyết vụ án, trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố nên Tòa án không có căn cứ để xem xét.

Trong vụ án này: Hợp đồng tín dụng; Hợp đồng thế chấp; giao dịch dân sự giữa các đương sự được thực hiện khi Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực, vì vậy vụ án được áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết.

[2] Về nội dung: căn cứ theo Hợp đồng tín dụng số 2760892.21 ngày 19/03/2021 được ký giữa VIB với bị đơn; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 01658.21, quyển số: 03 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 19/3/2021 tại Văn phòng công chứng Vạn Xuân giữa Bên vay và Ngân hàng. Theo đó VIB đã giải ngân cho ông M, bà Hạnh tổng số tiền là: 509.000.000 đồng thông qua khế ước nhận nợ kèm theo hợp đồng tín dụng. Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, tính đến ngày 20/5/2024, ông M và bà Hạnh đã trả nợ được cho VIB số tiền: 272.732.163 đồng, trong đó: nợ gốc: 186.605.319 đồng; nợ lãi trong hạn: 84.202.870 đồng; nợ lãi quá hạn: 923.974 đồng. Ông M, bà Hạnh đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 15/02/2023. Vì vậy, VIB đã chuyển Toàn bộ nợ của ông M, bà Hạnh sang nợ quá hạn theo quy định. Và từ thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến nay ông M, bà Hạnh không trả bất cứ khoản tiền nợ gốc và lãi nào cho VIB.

[3] Tại phiên tòa hôn nay, VIB xác nhận bị đơn còn nợ số tiền tính đến ngày 20/5/2024 là 414.986.680 đồng, trong đó: nợ gốc: 321.394.681 đồng; nợ lãi trong hạn: 22.793.875 đồng; nợ lãi quá hạn: 70.798.124 đồng.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Hợp đồng tín dụng số 2760892.21 ngày 19/03/2021 và Khế ước nhận nợ được các bên ký kết có hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật. Trong hợp đồng này, các bên tự nguyện giao kết thực hiện hợp đồng và cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung hợp đồng, tại thời điểm ký hợp đồng các bên đều có đầy đủ năng lực về hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm và không trái đạo đức xã hội. Do đó, xác định đây là hợp đồng hợp pháp có hiệu lực thi hành đối với các bên và phù hợp với các quy định của Luật các tổ chức tín dụng và Bộ luật dân sự năm 2015.

Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng số 2760892.21 ngày 19/03/2021 và Khế ước nhận nợ, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán kể từ ngày 15/02/2023 nên VIB khởi kiện buộc bị đơn phải thanh toán cho VIB số tiền còn nợ tính đến ngày ngày 20/5/2024 là 414.986.680 đồng, trong đó: nợ gốc: 321.394.681 đồng; nợ lãi trong hạn: 22.793.875 đồng; nợ lãi quá hạn: 70.798.124 đồng.

Xét thấy việc thỏa thuận lãi trong hạn, lãi quá hạn trong các hợp đồng tín dụng là đúng pháp luật và phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với quy định tại Điều 100 và Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng nên được chấp nhận; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015. Do đó, việc VIB khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải thanh toán trả Ngân hàng số tiền nợ trên là có căn cứ và được chấp nhận.

[4] Đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của VIB: Xét yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị đơn không thanh toán trả cho Ngân hàng nợ gốc và nợ lãi thì VIB có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thi hành án. Hội đồng xét xử thấy: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 01658.21, quyển số: 03 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 19/3/2021 tại Văn phòng công chứng Vạn Xuân được ký giữa bên vay và VIB. Tài sản thế chấp là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 387; tờ bản đồ số: 2; địa chỉ: thôn P, xã S, huyện Q, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 114643; số vào sổ cấp GCN: CS-QO 05298 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố Hà Nội cấp ngày 19/8/2019 cho ông Đào Văn M.

Như vậy, việc ký kết hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ giữa bị đơn, VIB là hoàn toàn tự nguyện không trái các quy định của pháp luật và bị đơn cũng tự nguyện thế chấp tài sản của mình để bảo đảm cho khoản vay tại Ngân hàng vào ngày 19/3/2021 tại Văn phòng công chứng Vạn Xuân, xác nhận thế chấp vào ngày đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 23/3/2021 tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Q. Việc ông M, bà Hạnh ký hợp đồng thế chấp là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc và các bên tham gia ký kết có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Vì vậy có đủ căn cứ để xác nhận các hợp đồng thế chấp nêu trên có giá trị pháp lý. Yêu cầu của VIB đề nghị Tòa án tuyên khi án có hiệu lực pháp luật mà bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ thì VIB có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý các tài sản bảo đảm để đảm bảo thi hành án là có căn cứ nên được chấp nhận.

[5] Do bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đưa ra yêu cầu độc lập nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác trong trường hợp các đương sự có yêu cầu theo quy định của pháp luật.

[6] Về án phí sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Nguyên đơn; Bị đơn; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;

- Vì các căn cứ nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26; Điều 35, Điều 39; khoản 1 Điều 147, Điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ các Điều Điều 317, 318, 319, 320, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; căn cứ Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; căn cứ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về “Giao dịch bảo đảm”; căn cứ Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; căn cứ vào Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Q.
    • - Buộc ông Đào Văn M và bà Nguyễn Thị H phải trả cho Ngân hàng Q tổng số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 2760892.21 ngày 19/03/2021 tạm tính đến ngày 20 tháng 5 năm 2024 là: 414.986.680 đồng, trong đó: nợ gốc: 321.394.681 đồng; nợ lãi trong hạn: 22.793.875 đồng; nợ lãi quá hạn: 70.798.124 đồng.
    • Kể từ ngày 21 tháng 5 năm 2024, ông Đào Văn M và bà Nguyễn Thị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc chậm trả cho đến ngày thực tế thanh toán hết nợ cho Ngân hàng Q theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận tại theo Hợp đồng tín dụng số 2760892.21 ngày 19 tháng 3 năm 2021 mà hai bên đã ký.
    • Trường hợp hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của nguyên đơn cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho nguyên đơn cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của nguyên đơn cho vay.
  2. Trường hợp ông Đào Văn M và bà Nguyễn Thị H không trả được nợ, Ngân hàng Q có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 387; tờ bản đồ số: 2; địa chỉ: thôn P, xã S, huyện Q, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 114643; số vào sổ cấp GCN: CS-QO 05298 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố Hà Nội cấp ngày 19/8/2019 cho ông Đào Văn M. Tài sản bảo đảm được xử lý theo diện tích, kích thước thực tế tại thời điểm xử lý tài sản.

Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp nêu trên sẽ được thanh toán toàn bộ nợ trong các hợp đồng tín dụng nêu trên, nếu có dư Ngân hàng Q phải trả lại cho bên thế chấp, nếu thiếu thì bên vay tiền tiếp tục phải trả cho Ngân hàng Q số tiền còn thiếu.

  1. Do bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đưa ra yêu cầu độc lập nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác trong trường hợp các đương sự có yêu cầu theo quy định của pháp luật.
  2. Về án phí sơ thẩm:
    • - Ông Đào Văn M và bà Nguyễn Thị H phải chịu 20.599.467 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Ngân hàng Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.000.000 đồng theo biên lai thu số 0000766 ngày 10 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Q, thành phố Hà Nội.
  3. Quyền kháng cáo: án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày 20 tháng 5 năm 2024. Bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm về những vấn đề liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Q;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Q;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Ngọc Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/DS- ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 53/2024/DS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Q (sau đây gọi tắt là VIB) đã ký với ông Đào Văn M và bà Nguyễn Thị H theo Hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau: Hợp đồng tín dụng số 2760892.21 ngày 19/03/2021 với nội dung: VIB cho ông Đào Văn M và bà Nguyễn Thị H vay số tiền 509.000.000 đồng; sửa chữa nhà không làm thay đổi kết cấu tại địa chỉ thôn P, xã S, huyện Q, thành phố Hà Nội; thời hạn vay: 60 tháng, từ ngày 30/03/2021 đến 29/03/2026. * Tài sản bảo đảm: để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi và lãi quá hạn của Bên vay với Ngân hàng, Bên vay đã ký kết Hợp đồng thế chấp sau: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 387; tờ bản đồ số: 2; địa chỉ: thôn P, xã S, huyện Q, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 114643; số vào sổ cấp GCN: CS-QO 05298 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố Hà Nội cấp ngày 19/8/2019 cho ông Đào Văn M. Ngày 29/03/2021, VIB đã giải ngân cho ông Đào Văn M và bà Nguyễn Thị H theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2760892(1).21 ngày 29/03/2021 với số tiền 509.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với HĐTD. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Đào Văn M và bà Nguyễn Thị H đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại HĐTD đã ký. Vì vậy, VIB đã chuyển khoản vay thành khoản nợ quá hạn từ ngày 15/02/2023. VIB đã nhiều lần đôn đốc, gửi thông báo và làm việc nhưng đến nay ông Đào Văn M và bà Nguyễn Thị H vẫn không nghiêm túc thực hiện.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger