Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/DS-PT

Ngày: 10-7-2024

V/v “Tranh chấp quyền

sử dụng đất và ranh giới đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Quang;

Các Thẩm phán: Ông Lê Trúc Lâm và ông Ngô Chịu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên: Ông Nguyễn Văn Sáu - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 42/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và ranh giới đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 03/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 80/2024/QĐ-PT ngày 10/6/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N – sinh năm 1962; ủy quyền cho bà Nguyễn Minh H – sinh năm 1991; cùng trú tại: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
  2. Bị đơn:
    1. Vợ chồng ông Võ Đình B – sinh năm 1964 và bà Đỗ Thị Kim L – sinh năm 1964; cùng trú tại: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Bà L ủy quyền cho ông B. Có mặt.
    2. UBND xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên – Người đại diện theo pháp luật: ông Trương Thái H1 – Chủ tịch, ủy quyền cho ông Võ Minh H2 - Phó Chủ tịch. Có mặt.
  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị Q – sinh năm 1959; Có mặt.
    2. Ông Phan Xuân H3 – sinh năm 1963; Có mặt.
    3. Ông Huỳnh Ngọc T – sinh năm 1964; Vắng mặt.
    4. Cùng trú tại: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.

    5. Vợ chồng ông Nguyễn Anh T1 – sinh năm 1988 và bà Đoàn Thị Bích P – sinh năm 1987; Trú tại: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  4. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị N; bản tự khai và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền chị Nguyễn Minh H như sau:

Diện tích thửa đất số 439, tờ bản đồ 71, địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên có 400m² đất ở nông thôn và 2.246,4m² đất trồng cây hàng năm khác, của bà Nguyễn Thị N đã được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH560572, cấp ngày 18/9/2006. Nguồn gốc thửa đất là của bà Nguyễn Thị Q, năm 2002 bà Q chuyển nhượng lại cho vợ, chồng bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn B1 (ông B1 là chồng bà N đã chết). Ông Võ Đình B nhà ở kề bên đã lấn chiếm đất, làm thay đổi ranh giới. Quá trình thẩm định diện tích đất, chị H con bà N phát hiện thửa đất 442 đất 5% của UBND xã X quản lý và thửa đất 440 của ông Huỳnh Ngọc T cũng có sự thay đổi về ranh giới so với bản đồ thửa đất trước đây. Do đó, bà N và chị H yêu cầu vợ chồng ông B và UBND xã X phải trả lại diện tích đất và ranh giới đã lấn chiếm. Riêng bà N và chị H không yêu cầu khởi kiện đối với thửa đất ông Huỳnh Ngọc T.

Bị đơn ông Võ Đình B trình bày như sau:

Nguồn gốc Thửa đất 483, tờ bản đồ 71, diện tích 2.156m², trong đó đất ở 400m² và 1.756m² đất trồng cây hàng năm khác là của gia đình tôi có từ năm 1978, đã được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CA 372294, số vào sổ: CH01704, cấp ngày 14/4/2016. Nguồn gốc đất nhà ở của vợ chồng ông B1, bà N (tức bà Đ) là đất nhà ở của bà Nguyễn Thị Q chuyển nhượng lại. Giáp ranh thửa đất của hai gia đình có hàng rào cây xanh và một số cây cổ thụ như cây dúi, cây keo, bụi tre (trúc). Năm 2021 bà N làm đơn khiếu nại tôi đến UBND xã X về việc tôi lấn đất, UBND xã X giải quyết không thành, nhưng bà N không làm đơn khởi kiện đến Tòa để tiếp tục giải quyết và cũng không chịu rút đơn khiếu nại. Do đó, tôi đã làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân để giải quyết, tuy nhiên tôi xét thấy mình không có lấn chiếm đất nên đã rút đơn khởi kiện. Sau đó bà N làm đơn phản tố, nên hôm nay tôi cũng yêu cầu Tòa án xem xét, kiểm tra lại tôi có lấn chiếm đất của bà N hay không.

Bị đơn UBND xã X trình bày:

Diện tích đất 3.285m², thửa số 442, tờ bản đồ số 71 là đất 5% UBND xã X quản lý, giáp ranh với thửa đất 439 của bà Nguyễn Thị N. Hiện nay thửa đất 5% của xã cho ông Phan Xuân H3 trú tại: Thôn L, xã X, huyện Đ thuê, canh tác. Từ khi đo đạc bản đồ địa chính năm 2006 cho đến nay ranh giới hai thửa đất sử dụng ổn định không có sự biến động, không có đơn thư hoặc khiếu nại. Đối với nội dung Bà Nguyễn Thị N làm đơn khiếu nại về việc ông Võ Đình B lấn chiếm đất, UBND xã X đã đến hiện trường đo đạc, xác minh. Hiện trạng các thửa đất vẫn còn bờ rào cây xanh và những

cây lâu năm, nên tiến hành hòa giải nhưng gia đình bà N không chấp nhận, nhưng cũng không làm đơn khởi kiện đến Tòa để giải quyết và cũng không chịu rút đơn khiếu nại. Mục đích là để gây khó khăn cho việc ông B làm thủ tục gia hạn sử dụng đất trồng cây hàng năm khác. Sau khi Tòa án thụ lý đã tiến hành đo đạc, thẩm định thì diện tích đất của bà N không giảm mà vẫn tăng hơn 03m² so với diện tích đất Nhà nước đã cấp cho bà N. Về sơ đồ ranh giới thì có một số điểm khác so với bản đồ đã cấp cho bà N vào năm 2006 và 2016, là do sai số của người đo vẽ giữa các lần chỉnh lý. Tuy nhiên, việc thay đổi một số điểm theo sơ đồ thửa đất, không làm ảnh hưởng đến diện tích đất của bà Nguyễn Thị N đã được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Q trình bày:

Nguyên thủy thửa đất 439, tờ bản đồ 71, diện tích 2.646,4m² hiện nay Nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận cho gia đình bà N là của gia đình tôi. Năm 2002 tôi chuyển nhượng lại cho vợ chồng bà N. Vừa qua UBND xã X có mời tôi làm việc, về việc bà N khiếu nại ông B lấn chiếm đất. Tôi đã đến tại hiện trường, hiện tại hai thửa đất không có gì thay đổi so với thửa đất trước đây tôi chuyển nhượng cho vợ chồng bà N. Giáp ranh giữa các thửa đất vẫn còn hàng rào cây xanh và một số gốc cây dúi, gốc cây keo, cây dầu lai. Hôm nay tôi xác định, ông Võ Đình B không có lấn chiếm đất nhà ở của bà Nguyễn Thị N.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phan Xuân H3 trình bày:

Thửa đất số 442, tờ bản đồ 71, diện tích đất 3.285m², là đất 5% của UBND xã X quản lý, tôi đã thuê lại để canh tác trồng hoa màu, hàng năm nộp thuế cho UBND xã. Quá trình canh tác trồng hoa màu, tôi không có lấn chiếm làm thay đổi, ranh giới giữa hai thửa đất có hàng rào cây xanh và một số cây cổ thụ hiện nay vẫn còn. Nhà của bà N ở kề bên, nếu hàng năm có sự lấn chiếm thì gia đình bà N đã khiếu nại không phải đến hôm nay mới khiếu nại. Còn việc theo sơ đồ hai thửa đất có sự chênh lệch về ranh giới thì do người đo, vẽ chứ tôi không có biết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Ngọc T trình bày:

Thửa đất số 440, tờ bản đồ 71; tọa lạc tại: Rộc N, thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; diện tích: 893m² loại đất trồng cây hàng năm khác là của gia đình tôi, đã được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất của tôi giáp ranh với thửa đất số 439, tờ bản đồ số 71 của bà Nguyễn Thị N. Quá trình quản lý, sử dụng tôi không có làm thay đổi hiện trạng, ranh giới giữa hai thửa đất hiện vẫn còn bờ rào cây xanh. Diện tích đất của tôi hiện nay đã chuyển nhượng lại cho vợ chồng chị Đoàn Thị Bích P vào năm 2023.

Lời trình bày của chị Đoàn Thị Bích P:

Thửa đất số 440, tờ bản đồ 71, địa chỉ: R, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên, diện tích: 893m² loại đất trồng cây hàng năm khác đã được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/9/2006 cho ông Huỳnh Ngọc T. Tháng 6/2023 ông T đã chuyển nhượng lại cho vợ chồng tôi. Từ khi nhận chuyển nhượng đến nay, tôi canh tác không hề lấn chiến đất của bà N, ranh giới hai thửa đất vẫn còn hàng rào cây xanh có từ lâu.

Lời xác nhận của người làm chứng ông Nguyễn Văn C, Nguyễn Ngọc H4, Huỳnh Văn T2 có trong hồ sơ và tại phiên tòa:

Các ông C, H4, Từng xác định không có bà con thân thích với vợ chồng ông B và gia đình bà N, các ông là những người dân sinh sống tại địa phương ở xã X trước năm 1975, biết rõ nguồn gốc đất của bà Nguyễn Thị Q trước đây, nay bán lại cho bà Nguyễn Thị Đ1 (tức bà N). Ranh giới giữa hai nhà bà N và ông B có hàng rào ranh giới hẳn hoi, có những cây đã trồng trước đây hiện nay vẫn còn như Cây T3, cây dúi, cây lồng mức. Chúng tôi khẳng định ông B không có lấn chiếm đất của bà N.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 03/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên đã quyết định:

Căn cứ khoản 9, Điều 26, Điều 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175, 246 BLDS năm 2015; Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N, ủy quyền cho con gái là chị Nguyễn Minh H, khởi kiện về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và ranh giới đất” với vợ chồng ông Võ Đình B, bà Đỗ Thị Kim L và UBND xã X.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quy định về quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 05/5/2024 nguyên đơn do người đại diện theo ủy quyền Nguyễn Minh H kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Bị đơn: Đề nghị giữ nguyên như bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Thửa đất số 439, tờ bản đồ 71, địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện Đ,

tỉnh Phú Yên, được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH560572, cấp ngày 18/9/2006 cho bà Nguyễn Thị N có diện tích 2.646,4m², trong đó: 400m² đất ở nông thôn và 2.246,4m² đất trồng cây hàng năm khác. Kết quả đo đạc thực tế ngày 22/02/2023 thì đất có diện tích 2.649,4m². Mặt khác, theo lời khai của bà Nguyễn Thị Q là người chuyển nhượng đất cho bà N xác định ranh giới thửa đất lúc bà chuyển nhượng cho bà N so với bây giờ không có gì thay đổi. Cấp sơ thẩm bác yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ làm thay đổi bản chất vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 bác đơn kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến các bên đương sự, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục kháng cáo: nguyên đơn bà Nguyễn Thị N kháng cáo và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong hạn luật định là kháng cáo hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  2. [2] Về nội dung kháng cáo của nguyên đơn:

    Thửa đất số 439, tờ bản đồ 71, địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên, được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH560572, cấp ngày: 18/9/2006 cho bà Nguyễn Thị N có diện tích 2.646,4m², trong đó: 400m² đất ở nông thôn và 2.246,4m² đất trồng cây hàng năm khác. Quá trình thẩm định, đo đạc đối chiếu bản đồ trích lục thửa đất của bà Nguyễn Thị N, do Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ cung cấp với mảnh trích đo xem xét thẩm định tại chỗ lập ngày 22/02/2023 có diện tích thực tế là 2.649,4m², chênh lệch tăng 03m². Mặt khác, bà Nguyễn Thị Q là chủ đất cũ đã chuyển nhượng cho vợ chồng bà Nguyễn Thị N xác định: Hiện trạng thửa đất của bà N trước đây với các thửa đất những người xung quanh đều có hàng rào cây xanh và một số cây cổ thụ như: Gốc cây dúi, cây keo, bờ rào cây xanh không có gì thay đổi so với trước khi chuyển nhượng, ông Võ Đình B và những thửa đất giáp ranh không có lấn chiếm đất nhà ở của bà Nguyễn Thị N. Điều này cho thấy bản án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N là có căn cứ.

    Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ, Hội đồng xét xử phúc thẩm không thể thỏa mãn với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

  3. [3] Về chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định, đo đạc số tiền là 2.240.000đồng; chi phí định giá số tiền: 3.200.000đồng; tổng cộng là 5.440.000đồng bà Nguyễn Thị N phải chịu, đã nộp đủ.
  1. [4] Về án phí: Bà Nguyễn Thị N kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, nhưng là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 03/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N phải chịu nhưng là người cao tuổi nên được miễn.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Đà Nẵng;
  • - TAND huyện Sơn Hòa;
  • - Đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện Sơn Hòa;
  • - P.TTNV&THA;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/DS-PT ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất và ranh giới đất

  • Số bản án: 53/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và ranh giới đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn Nguyễn Thị N và bị đơn Võ Đình B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger