Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 53/2024/DS-PT

Ngày 03 - 6 - 2024

“V/v tranh chấp về quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phấn

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Trung

Bà Thái Thị Hồng Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 104/2022/TLPT-DS ngày 24 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp về quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2022/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 106/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1950 (chết ngày 25/10/2023) và bà Thái Thị D1, sinh năm 1954 (vợ của ông D). Bà D1 vắng mặt.

Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn D:

  1. Bà Thái Thị D1, sinh năm 1954 (vợ ông D). Vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Thái B, sinh năm 1979 (con ông D). Có mặt.
  3. Anh Nguyễn Thượng Đ, sinh năm 1984 (con ông D). Nơi cư trú: Xóm B, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà D1, anh Đ: Anh Nguyễn Thái B, sinh năm 1979 (con ông D, bà D1). Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà D1, anh B: Bà Nguyễn Thị T, Luật sư Công ty TNHH T7 – Đoàn luật sư N. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Lê Công T1, sinh năm 1983 và chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1988 (vợ của anh T1). Anh T1 có mặt, chị T2 vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Giáo Đ1, sinh năm 1959 và bà Phạm Thị K, sinh năm 1960 (vợ ông Đ1). Đều có mặt;

1

Đều cư trú tại địa chỉ: Xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh T1, chị T2: Ông Nguyễn Trọng H, luật sư Công ty L – Đoàn luật sư N. Có mặt;

- Người kháng cáo: Bị đơn anh Lê Công T1, chị Nguyễn Thị T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Giáo Đ1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện đề ngày 30/5/2022, bổ sung ngày 10/6/2022, các lời khai, hòa giải và trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn D, bà Thái Thị D1, người đại diện theo ủy quyền, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông D, bà D1 thống nhất trình bày: Ông D, bà D1 có thửa đất số 185, tờ bản đồ số 03 tại xóm A (nay là xóm F) xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An được UBND huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là Giấy CNQSD đất). Trước đó, do đất rộng nên ông D, bà D1 đồng ý cắt một phần đất hiến làm đường đi xóm A (ban đầu là đường đất, sau xóm đổ bê tông lần 1 và đến 2021 - 2022 được nâng cấp lên rộng và dày hơn so với trước đây) và đã được cấp đổi Giấy CNQSD đất nhiều lần do tách thửa chuyển nhượng cho nhiều chủ khác. Vào năm 1997, ông D, bà D1 bán một phần đất về phía Tây rộng 8,5m (sau ông D cho thêm 0,5m nữa là 09m) cho vợ chồng ông Nguyễn Giáo Đ1 và bà Phạm Thị K, bà D1 viết giấy và ông Đoàn g nhưng đã bị mất. Đến ngày 25/11/1999 thì ông D làm lại Đơn xin chuyển nhượng đất ở cho ông Đ1 với diện tích là 456m²; tứ cận được thể hiện trong Đơn là: phía Bắc giáp đường tỉnh lộ 534 (nay là Quốc lộ D), phía Nam tiếp giáp vườn của Trường C; phía Tây giáp đường liên thôn nối từ đường E đi xóm A xã N, phía Đông giáp đất của ông D, bà D1 (chứ không phải bờ tường của ông bà), kích thước đất là dài 50,6m và rộng 9m; Đơn được ông Đ1 và ông D ký tên, có UBND xã N chứng thực. Trước năm 1997, do bà D1 là giáo viên nên ông D, bà D1 có xây thêm phòng dạy học phía trước (phòng học có phần mái chìa ra khoảng 01m), còn phía sau thì xây bờ tường rào nối liền phòng dạy học để nuôi gà. Ông D, bà D1 chỉ bán theo kích thước đã viết trong hợp đồng và cũng nêu rõ trong đơn là ông Đ1 được sử dụng đất với diện tích địa giới mà ông D, bà D1 đã chuyển nhượng. Gia đình ông Đ1 xây nhà năm 1998 và qua nhiều năm sau vẫn chưa làm thủ tục tách thửa. Khi ông Đ1, bà K quyết định cho vợ chồng con gái là anh Lê Công T1 và chị Nguyễn Thị T2 phần đất đã mua thì ông D, bà D1 cũng đồng thuận tách bìa cho họ. Mặc dù kích thước đất trên thực tế có chênh lệch so với đơn bán đất năm 1999 (cạnh phía Tây giáp đường dài 55,02m và cạnh phía Bắc là 9,2m), diện tích cũng tăng lên đến 494m² (so với 456m²) nhưng ông D, bà D1 vẫn đồng ý và chấp nhận với việc sử dụng diện tích lớn hơn như vậy. Trước khi tách thửa cho anh T1, chị T2 năm 2014, ông D, bà D1 đã bán, tách 170m² thành thửa 138 (hiện do bà Trịnh Thị T3 là chủ đất liền kề). Nay anh T1, chị T3 đang sử dụng phần diện tích đất bên ngoài bờ rào của ông D, bà D1 theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ là 50,6m² để bỏ đồ sản xuất (lăng mộ) mà không chịu trả lại để ông D, bà D1 thực hiện quyền của chủ sử dụng đất. Vì vậy, ông D, bà D1 yêu cầu Toà án buộc anh T1 và chị T3 phải trả lại 50,6m² đất về phía T thửa đất số 185, theo Giấy CNQSD đất đồng thời xử lý việc cản trở quyền sử dụng đất đối với

2

anh T1, chị T3.

Bị đơn anh Lê Văn T4 và chị Nguyễn Thị T2 trình bày: Năm 1997, cha mẹ chị T2 (ông Đ1, bà K) mua một đám đất của ông D, bà D1 và vào tháng 01/1998 thì xây nhà. Năm 2004, gia đình ông Đ1 chuyển sang thửa đất đối diện cư trú và vẫn chưa làm thủ tục tách bìa với ông D, bà D1. Đến năm 2016, ông Đ1, bà K đã đổ đất nâng nền, làm thêm nhà mới nối với ngôi nhà cũ cho chị T2 buôn bán và ở lại ngôi nhà đó. Năm 2018, ông Đ1 bà K quyết định cho vợ chồng anh T4, chị T2 mảnh đất đã mua và đề nghị ông D, bà D1 tách thửa thì họ đồng ý, diện tích đất trong Giấy CNQSD đất là 494m², ranh giới phía Tây là đường và mương; ranh giới phía Đông là bờ tường rào nhà ông D và phần đất mà bà Trịnh Thị T3 mua lại của vợ chồng ông D. Nay ông D, bà D1 bán đất, tiến hành đo đạc trên thực địa thì thấy thiếu đất nên đã khởi kiện anh T4, chị T3 lấn chiếm. Anh T4, chị T3 chỉ sử dụng đúng diện tích đất trong Giấy CNQSD đất và theo mốc giới đã được ông D, bà D1 giao từ năm 1997. Do vậy, anh T4, chị T3 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D, bà D1.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Giáo Đ1 và bà Phạm Thị K trình bày: Năm 1997, vợ chồng ông Đ1, bà K mua một đám đất của ông D, bà D1 (ban đầu bán 8,5m chiều rộng, sau ông D tăng thêm cho đủ 9m); khi đó, có viết giấy nhưng do ông Đ1 làm mất nên đến ngày 25/11/1999, ông D làm đơn xin chuyển nhượng đất vườn ở cho ông Đ1, bà K. Vào tháng 1 năm 1998 ông Đ1, bà K tiến hành xây ngôi nhà đầu tiên; khi đó, ông D và địa chính xã N (anh T5) đến để xác định mốc giới cho gia đình xây, tính 9m bắt đầu từ bờ rào của nhà ông D sang; phía Tây là bờ mương đất của xóm. Khi xây ngôi nhà, ông D, bà D1 đều thống nhất, không có ý kiến gì. Sau đó, ông bà có xây thêm một ngôi nhà nữa nhưng vì nhà làm trên đất lưu không nên xã không cho xây. Do chưa có tiền dư dật nên ông Đ1, bà K chưa làm thủ tục tách bìa với ông D, bà D1. Năm 2014, ông D, bà D1 bán phần đất bên cạnh cho bà Trịnh Thị T3 (con ông D2) và bà T3 cũng làm nhà trên phần đất đã mua. Năm 2016, ông Đ1, bà K đổ đất nâng nền và làm nhà cho con gái là chị T3 buôn bán đồng thời ở trong ngôi nhà đó luôn nhưng ông D, bà D1 không có ý kiến gì. Năm 2018, ông Đ1, bà K quyết định cho vợ chồng anh T4, chị T3 mảnh đất đã mua và đề nghị ông D, bà D1 tách thửa thì họ đồng ý, diện tích đất trong Giấy CNQSD đất là 494m², ranh giới phía Tây là đường và mương. Hiện trạng mương vẫn còn trên đất. Việc vợ chồng anh T4, chị T3 sử dụng đất từ bờ tường rào nhà ông D, bà D1 là hoàn toàn đúng với thoả thuận trước đây, không hề có việc lấn chiếm nên ông Đ1, bà K không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông D, bà D1.

Bản án Dân sự sơ thẩm số 23/2022/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An quyết định: Áp dụng Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 235, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 164 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 166 của Luật Đất đai 2013; Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

3

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc anh Lê Công T1 và chị Nguyễn Thị T2 trả lại cho ông Nguyễn Văn D và bà Thái Thị D1 50,6m² đất thuộc thửa đất số 185, tờ bản đồ số 03 thuộc xóm F xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An ghi nhận tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 394372 do UBND huyện N cấp ngày 12/4/2019. Ông D bà D1 được quyền sử dụng hợp pháp đối với 50,6m² đất do anh T1, chị T2 trả lại mà không ai có quyền cản trở. Ranh giới phần đất trả lại có giới cận: Phía Đông giáp phần đất còn lại thuộc thửa đất số 185, kích thước 18,88m+4,08m+2,29m; phía Tây giáp thửa đất số 183, kích thước 25,12m; phía Nam giáp đường kích thước 1,98m; phía Bắc giáp thửa đất số 138, kích thước 1,81m;

(Sơ đồ phần đất được trả lại thể hiện có sơ đồ kèm theo).

  1. Về chi phí tố tụng: Buộc anh Lê Công T1 và chị Nguyễn Thị T2 phải hoàn lại cho ông Nguyễn Văn D và bà Thái Thị D1 số tiền 8.575.000 (Tám triệu năm trăm bảy mươi lăm ngàn) đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
  2. Về án phí: Buộc anh Lê Công T1 và chị Nguyễn Thị T2 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.

Ngày 07 tháng 10 năm 2022, vợ chồng anh Lê Công T1, chị Nguyễn Thị T2 và ông Nguyễn Giáo Đ1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại nội dung vụ án theo hướng: Bác yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Nguyễn Văn D và bà Thái Thị D1, trả lại sự công bằng cho gia đình anh T1, chị T2 và ông Đ1.

Tại phiên tòa phúc thẩm, vợ chồng anh Lê Công T1, chị Nguyễn Thị T2 và ông Nguyễn Giáo Đ1 giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các bên đương sự không hòa giải được với nhau về việc giải quyết tranh chấp.

Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án; các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

Về nội dung: Trong quá trình giải quyết vụ án, có căn cứ xác định, nguồn gốc các thửa đất đã được gia đình ông Đ1, bà K và vợ chồng anh T1, chị T2 nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông D, bà D1 từ năm 1997. Gia đình ông Đ1, anh T1 xây nhà, công trình ở ổn định từ trước đến nay không có tranh chấp. Tuy nhiên, căn cứ các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho các gia đình sử dụng liên quan có sự chồng lấn lên công trình nhà ở của nhau và chồng lấn cả đường giao thông nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự tại Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được.

Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Chấp nhận kháng cáo của anh Lê Công T1, chị Nguyễn Thị T2 và ông Nguyễn Giáo Đ1, hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung; bà D1 và các người kế

4

thừa quyền và nghĩa vụ của ông D phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm ngày 25 tháng 10 năm 2023, ông Nguyễn Văn D chết, Tòa án cấp phúc thẩm đã xác định và đưa những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông D, gồm bà Nguyễn Thị D3, anh Nguyễn Thái B và anh Nguyễn Thượng Đ (vợ và các con của ông D) vào tham gia tố tụng với tư cách là những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn D theo quy định.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không nhưng các đương sự không thỏa thuận được. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

  1. Xét kháng cáo của anh Lê Công T1, chị Nguyễn Thị T2 và ông Nguyễn Giáo Đ1, thấy rằng: Phần diện tích đất đang tranh chấp có nguồn gốc, căn cứ sổ mục kê 299 thuộc thửa đất số 1127, diện tích 1.559m² (200m² đất ở, 1.359m² đất vườn) tại xóm A (nay là xóm F), xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An được cơ quan có thẩm quyền giao cho vợ chồng ông Nguyễn Văn D, bà Thái Thị D1 sử dụng (Theo Giấy chuyển nhượng đất ở ngày 25/11/1999, vợ chồng ông D, bà D1 xác định thửa đất đã được UBND huyện N cấp Giấy CNQSD đất số 1249/QĐ-UBD ngày 28/12/1996, diện tích 1.559m²).

Căn cứ Giấy chuyển nhượng đất ngày 25/11/1999 do vợ chồng ông Nguyễn Văn D, bà Thái Thị D1 và vợ chồng ông Nguyễn Giáo Đ1, bà Phạm Thị K xác lập thì phần diện tích đất chuyển nhượng có tứ cận: Phía Bắc giáp đường 534, phía Nam giáp vườn Trường cấp 3 Nghi Lộc 2, phía Đông giáp đất của ông D, bà D1, phía Tây giáp đường liên thôn, kích thước 50,6m x 9m.

Trong quá trình giải quyết vụ án, vợ chồng ông D, bà D1; người đại diện theo ủy quyền, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông D, bà D1; vợ chồng ông Đ1, bà K và vợ chồng anh T1, chị T2 đều xác định và thừa nhận: Diện tích phần đất vợ chồng ông D, bà D1 chuyển nhượng cho vợ chồng ông Đ1, bà K từ năm 1997 và hai bên đã giao đất cho nhau. Sau khi được giao đất, năm 1998 ông Đ1, bà K đã xây dựng ngôi nhà cấp bốn áp sát bờ tường bao mà ông D xây ngăn cách đối với phần đất còn lại của gia đình mình và vợ chồng ông Đ1, bà K đã xây nhà ở ổn định từ năm 1998 (có ranh giới liền kề với phần đất còn lại của ông D, bà D1 và hiện bức tường ngăn cách đang tồn tại giữa nhà ông Đ1 xây năm 1998 và nhà của bà Trịnh Thị T3 cũng nhận chuyển nhượng từ thửa đất của ông D, bà D1) từ năm 1998. Do giấy bán đất năm 1997 thất lạc nên ngày 25/11/1999, ông Nguyễn Văn D viết lại giấy chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Giáo Đ1. Năm 2013, vợ chồng ông Đ1 cho vợ chồng anh T1, chị T3 (con gái ông Đ1) ở và vợ chồng anh T1, chị T3 tiếp tục xây dựng thêm nhà, các công trình áp sát bức tường mà ông D xây từ trước khi chuyển nhượng đất cho ông Đ1, bà K và sử dụng ổn định từ trước đến nay không có tranh chấp về ranh giới liền kề với gia đình ông D, bà D1.

5

Năm 2018, vợ chồng ông Nguyễn Văn D, bà Thái Thị D1 và vợ chồng anh Lê Công T1, chị Nguyễn Thị T2 đã tiến hành các thủ tục để tách thửa phần diện tích đất chuyển nhượng cho ông Đ1, bà K năm 1997. Căn cứ Hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 23/10/2018 được lập giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn D, bà Thái Thị D1 và vợ chồng anh Lê Công T1, chị Nguyễn Thị T2 diện tích chuyển nhượng là 494m² không ghi tứ cận phần đất chuyển nhượng nhưng, tại Biên bản kiểm tra, cắm mốc ngoài thực địa ngày 25/10/2018 (BL 73), có mặt cả ông D, anh T1 đều xác định việc cắm mốc và sơ đồ hiện trạng phần đất chuyển nhượng thửa đất không có tranh chấp, không lấn chiếm. Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện N cấp thửa đất cho vợ chồng ông Nguyễn Văn D, bà Thái Thị D1 ngày 12/6/2014 (Bl, 150) sau khi đã chuyển nhượng một phần diện tích cho bà Trịnh Thị T3 (phần thửa đất số 138, diện tích 170m²). Và tại Phiếu xác nhận kết quả hiện trạng thửa đất ngày 30/01/2018 (BL 165) cũng xác định phía Tây thửa đất là đường và mương; Giấy chứng nhận QSD đất của UBND huyện N cấp ngày 21/01/2019 cho Lê Công T1, Nguyễn Thị T2 (BL 88) sơ đồ tứ cận thửa đất có tứ cận phản ánh phía Tây giáp mương + đường, phía Bắc có đoạn giáp phần đất bà Trịnh Thị T3 có độ dài 09m. Căn cứ kết quả, thẩm định lại ngày 28/3/2023, ngày 08/6/2023 xác định thực tế phần đất liên quan đến tranh chấp (thửa đất của anh T1, chị T3 đang sử dụng), cạnh phía Đông tiếp giáp với phần đất của bà Trịnh Thị T3 và ông D, bà D1 đang còn bức tường ngăn cách làm ranh giới giữa các gia đình do ông D, bà D1 xây năm 1997 và một phần xây lại khoảng năm 2004; cạnh phía Tây là mương và đường liên thôn; trên phần đất đang còn nhà, công trình của vợ chồng ông Nguyễn Giáo Đ1, bà Phạm Thị K xây dựng năm 1998 sau khi ông D, bà D1 giao đất. Mặt khác, căn cứ thực trạng phần diện tích đất và ngôi nhà liền kề của bà Trịnh Thị T3 cũng được xây dựng sát bức tường bao mà ông D, bà D1 xây năm 1997 (hiện đang còn). Và gia đình ông Đ1, bà K, vợ chồng anh T1, chị T3 sử dụng phần diện tích nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông D, bà D1 (phần đất ngoài bức tường bao do vợ chồng ông D, bà D1 xây làm ranh giới) từ năm 1997 đến nay không có tranh chấp gì. Vợ chồng ông Nguyễn Văn D, bà Thái Thị D1 cũng không có căn cứ để chứng minh vợ chồng ông Đ1, bà K và vợ chồng anh T1, chị T3 lấn chiếm đất của ông D, bà D1 khi nào và lấn chiếm bằng cách nào. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định và cho rằng phần diện tích đất ông D, bà D1 chuyển nhượng cho ông Đ1, bà K năm 1997, phần tứ cận phía Tây giáp đường liên thôn không có mương và khu vực phía Đông thửa đất anh T1, chị T3 đang sử dụng chồng lấn lên một phần thửa đất số 138 liền kề (của bà Trịnh Thị T3) chiều rộng 1,08m, chiều dài 31,91m; sử dụng chồng lấn lên một phần thửa đất số 185 ông D, bà D1 có diện tích 50,6m² là không có căn cứ.

Bởi vậy, kháng cáo của anh Lê Công T1, chị Nguyễn Thị T2 và ông Nguyễn Giáo Đ1 là có căn cứ, cần được chấp nhận để sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn D và bà Thái Thị D1. Còn căn cứ bờ tường xây do ông D, bà D1 xây năm 1997 theo hiện trạng (theo kết quả sơ đồ đo vẽ) chưa thẳng, các bên sử dụng đất liền kề có thể điều chỉnh để xác định lại cho phù hợp, nếu không thỏa thuận được với nhau có thể khởi

6

kiện bằng vụ kiện dân sự khác.

  1. Về án phí sơ thẩm: Do sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên anh T1, chị T2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  2. Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của của ông D, bà D1 không được chấp nhận nên phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định, định giá tài sản tại Tòa án cấp sơ thẩm là 8.575.000 đồng (đã thực hiện xong).

Về chi phí thẩm định tại Tòa án cấp phúc thẩm: Bà D1 và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông D chịu toàn bộ và phải hoàn trả lại cho anh T1, chị T2 02 lần tổng số tiền là 16.000.000 đồng.

  1. Về án phí phúc thẩm: Anh T1, chị T2, ông Đ1 kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được hoàn trả lại tạm ứng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; chấp nhận kháng cáo của anh Lê Công T1, chị Nguyễn Thị T2 và ông Nguyễn Giáo Đ1, sửa Bản án sơ thẩm.

Áp dụng Điều 164 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn D và bà Thái Thị D1 về việc yêu cầu buộc anh Lê Công T1 và chị Nguyễn Thị T2 trả lại cho ông Nguyễn Văn D và bà Thái Thị D1 50,6m² đất thuộc thửa đất số 185, tờ bản đồ số 03, tại xóm F xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An ghi nhận tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 394372 do UBND huyện N cấp ngày 12/4/2019.
  2. Về án phí sơ thẩm: Miễn án phí cho ông Nguyễn Văn D, bà Thái Thị Dung

Anh Lê Công Thế và chị Nguyễn Thị T2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

  1. Về chi phí tố tụng sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn D và bà Thái Thị D1 phải chịu 8.575.000 đồng chi phí thẩm định, định giá tài sản (lần 01 đã thực hiện xong).
  2. Về án phí phúc thẩm: Hoàn trả cho anh Lê Công T6 và ông Nguyễn Giáo Đ1 mỗi người 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, theo Biên lai thu số 0005459 ngày 10/11/2022 (ông Đ1); biên lai thu số 0005460 ngày 10/10/2022 (anh T6).
  3. Về chi phí tố tụng phúc thẩm: Buộc bà Thái Thị D1 và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn D (gồm bà D1, ông B, ông Đ) phải hoàn lại cho anh Lê Công T6 và chị Nguyễn Thị T2 số tiền 16.000.000

7

đồng (mười sáu triệu đồng) đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ (lần 02, lần 03).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND huyện Nghi Lộc;
  • - Chi cục THADS huyện Nghi Lộc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Phấn

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/DS-PT ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 53/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP VỀ QSDĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger