|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 53/2023/HSST Ngày 29-11 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Lâm Quang Tụng
2. Bà Nguyễn Thị Giang
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hà Thu, Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đức Anh - Kiểm sát viên.
* Tại điểm cầu thành phần những người hỗ trợ tổ chức phiên tòa gồm:
Những người tiến hành tố tụng:
- Ông Triệu Ngọc S- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
Những người tham gia tố tụng khác:
- Các cán bộ, chiến sỹ Trại tạm giam Công an tỉnh P.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm tổ chức tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ và 01 điểm cầu thành phần tổ chức tại Trại tạm giam công an tỉnh P đưa ra xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử: 43/2023/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Trung Đ, sinh ngày 07/8/1984 tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu D, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Không xác định; con bà Nguyễn Thị K; vợ con: không có Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Bản án số 145/2012/HSST ngày 19/6/2012, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Trung Đ 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 27/4/2013 và chấp hành xong toàn bộ nghĩa vụ dân sự.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/7/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 40 phút, ngày 21/7/2023, tại khu vực đường bê tông thuộc khu F, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ, Tổ công tác Công an xã A kiểm tra phát hiện Nguyễn Trung Đ, sinh năm: 1994, nơi thường trú: Khu D, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có một túi nilon màu trắng, miệng túi có khuy bấm bịt kín và đường kẻ màu xanh, bên trong túi nilon chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; số tiền 2.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu vàng, lắp sim số 0964.417.102; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave a màu đen biển số 19B1-564.18. Tổ công tác đã mời chính quyền địa phương, người chứng kiến đến tiến hành lập biên bản ghi nhận nội dung sự việc và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định. Cùng ngày, Công an xã A đã bàn giao hồ sơ và vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P để điều tra theo quy định.
Ngày 21/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã trưng cầu Phòng K2, Công an tỉnh P giám định chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng, miệng có khuy bấm bịt kín và có đường kẻ màu xanh thu giữ của Nguyễn Trung Đ cùng ngày. Tại Bản kết luận giám định số 978/KL-KTHS, ngày 25/7/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh P, kết luận:
“Chất rắn dạng tinh thể màu trắng gửi đến giám định là ma túy, loại Methaphetamine, có khối lượng là: 0,238gam.
*M là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Kèm theo kết luận giám định:
- - Biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định
- - Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định
H lại đối tượng giám định:
0,157 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có đóng 03 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán”.
Ngày 22/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Trung Đ tại khu D, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Trung Đ khai nhận mục đích và nguồn gốc số ma túy Đ tàng trữ như sau: Khoảng 16 giờ ngày 21/7/2023, Đ nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0978.841.xxx (Đ khai nhận số điện thoại này của một người tên là C; bạn của Đ) đến số điện thoại của Đ là 0964.417.xxx rủ Đ lên xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ để cùng sử dụng ma túy đá. Đ từ chối nhưng có xin C ma túy đá để một mình sử dụng. C đồng ý và bảo Đ đi lên khu vực xã A, huyện P. Sau đó, Đ mượn xe mô tô biển số 19B1-564.18 của Nguyễn Quốc V, sinh năm: 2000, nơi thường trú: Khu D, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (là em trai ruột của Đ) rồi một mình đi đến điểm hẹn. Khi đi đến khu vực lối vào khu công nghiệp T, huyện P thì Đ dừng xe, gọi điện thoại cho C thì có một người nam giới nghe máy và giới thiệu là người yêu của C; người nam giới này bảo Đ đi tiếp về hướng xã A, huyện P. Đ đi theo chỉ dẫn đến đoạn đường bê tông thuộc khu F, xã A, huyện P thì nhìn thấy 01 nam thanh niên vẫy Đ lại và chỉ cho Đ chỗ giấu gói ma túy rồi người này bỏ đi. Đ xuống xe đi đến vị trí mà người nam thanh niên vừa chỉ lấy được 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, Đ mở ra kiểm tra thì thấy bên trong có ma túy đá. Đ cất gói ma túy vừa lấy được vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi đi ra xe mô tô để về thì bị tổ công tác Công an xã A kiểm tra như đã nêu trên; Đ khai nhận mục đích tàng trữ ma túy đá để sử dụng.
Tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma túy của Nguyễn Trung Đ, kết quả: Đ dương tính với chất ma túy Methaphetamine. Đ khai nhận bản thân có sử dụng chất ma túy M, cụ thể: Vào chiều ngày 20/7/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Đ đã mua của một người nam giới không quen biết ở ven đường tại khu vực cầu V, thành phố V 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng (số tiền này Đ lao động mà có). Sau khi mua được ma túy Đ mang về nhà và sử dụng hết cho bản thân. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã có Công văn đề nghị Công an xã T, thành phố V xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Quá trình điều tra, Nguyễn Trung Đ đã khai nhận toàn bộ hình vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với vật chứng đã thu giữ và các tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng, đồ vật thu giữ trong vụ án:
- - Đối với số tiền 2.000.000 đồng (đây là tiền của Đ; Đ khai nhận do lao động mà có; không có mục đích sử dụng vi phạm pháp luật); hiện đang tạm giữ tại tài khoản tạm giữ của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh chờ xử lý.
- - 0,157gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có đóng 03 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán, là mẫu vật hoàn lại sau giám định;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu vàng, đã qua sử dụng lắp sim số 0964.417.102; số imei: 3557.310747.6089;
- - 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng;
Những vật chứng nêu trên được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh chờ xử lý
Xác minh về tài sản, thu nhập của bị cáo:
Xác minh tại UBND xã T, thành phố V xác định trước khi bị bắt bị cáo làm lao động tự do, thu nhập không ổn định. Bị cáo hiện đang sinh sống cùng gia đình tại ngôi nhà cấp 4 trên thửa đất số 379; tờ bản đồ số 15 có diện tích 374m² (trong đó có 300m² đất ở và 74m² đất vườn) thuộc khu D, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Ngọc K1 (là ông ngoại của bị cáo). Bị cáo có tài sản là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu vàng; số imei: 3557.310747.6089 và số tiền 2.000.000đ; ngoài ra bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị.
Thu nhập bình quân của một lao động tự do trên địa bàn xã T, thành phố V là 48.000.000 đồng/ 01 người/ 01 năm.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố.
Bản Cáo trạng số: 45/CT-VKSPN ngày 02 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Trung Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trung Đ từ 18 (Mười tám) tháng đến 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/7/2023.
Hình phạt bổ sung: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu vàng, đã qua sử dụng; số imei: 3557.310747.6089 và số tiền 2.000.000đ của bị cáo Nguyễn Trung Đ.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 0,157gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có đóng 03 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán, là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 sim điện thoại sim số 0964.417.xxx trong chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo là vật không còn giá trị sử dụng.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, bị cáo ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo đúng thời hạn do pháp luật quy định nên các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Trung Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận:
Hồi 16 giờ 40 phút ngày 21/7/2023, tại khu F, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Trung Đ đã có hành vi tàng trữ trên người 0,238gam ma túy, loại Methaphetamine, với mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an xã A phát hiện, thu giữ.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Hành vi đó cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Trung Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương.
Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nên bị cáo phải chịu hậu quả về hành vi phạm tội của mình.
Về nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội: Bị cáo là người trưởng thành nhưng do nghiện ma túy nên đã đi tìm ma tuý để sử dụng cho bản thân.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã bị Tòa án xét xử tuy đã được xóa án tích, bị cáo không lấy đó làm bài mà còn tiếp tục phạm tội. Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo nghiêm khắc bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo gây ra mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần mức hình phạt tù cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội.
- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo có tài sản là số tiền 2.000.000đ do bị cáo lao động mà có, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu vàng, đã qua sử dụng; số imei: 3557.310747.6089 bị cáo khai có sử dụng liên lạc để lấy ma túy nhưng quá trình điều tra không xác định được người bị cáo đã liên lạc nên xác định chiếc điện thoại này là tài sản của bị cáo; xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung là tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 2.000.000đ và chiếc điện thoại Iphone 6s Plus là tài sản của bị cáo là phù hợp.
[5] Về vật chứng của vụ án:
- - Ma túy là vật nhà nước cấm lưu hành, vì vậy cần tịch thu tiêu hủy: 0,157gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có đóng 03 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán, là mẫu vật hoàn lại sau giám định;
- - Đối với: 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 sim điện thoại sim số 0964.417.xxx trong chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về các vấn đề khác:
- - Về hành vi sử dụng ma túy của Đ: Tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma túy của Nguyễn Trung Đ, kết quả: Đ dương tính với chất ma túy Methaphetamine. Đ khai nhận bản thân có sử dụng chất ma túy M, cụ thể: Vào chiều ngày 20/7/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Đ đã mua của một người nam giới không quen biết ở ven đường tại khu vực cầu V, thành phố V 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng (số tiền này Đ lao động mà có). Sau khi mua được ma túy Đ mang về nhà và sử dụng hết cho bản thân. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã có Công văn đề nghị Công an xã T, thành phố V xử phạt vi phạm hành chính theo quy định là phù hợp.
- - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tiến hành xác minh chủ thuê bao 0978.841.020, xác định chủ thuê bao là chị Lê Thị Tuyết M1, sinh năm: 1995; nơi cư trú: Khu D, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Chị M1 khai nhận không đăng ký và không sử dụng sim điện thoại trên; chị M1 không biết ai là người đã sử dụng thông tin cá nhân để đăng ký và sử dụng; chị M1 không quen biết và có mối quan hệ gì với Đ. Qua nhận dạng, Đ xác nhận chị M1 không phải là người phụ nữ Đ quen biết; không phải người tên C liên hệ với Đ vào ngày 21/7/2023 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không đề cập trách nhiệm đối với chị M1 trong vụ án, là phù hợp.
- - Về nguồn gốc ma túy: Đối với người tên C là người gọi điện trao đổi cho Đ ma túy; người nam giới chỉ vị trí cất giấu ma túy cho Đ và người nam giới đã bán ma túy cho Đ vào chiều ngày 20/7/2023; quá trình điều tra không xác định được thông tin, lai lịch 03 người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không đề cập trách nhiệm trong vụ án, là phù hợp.
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave a biển số 19B1-564.18, có số máy: JA39E2097068, số khung: RLHJA3924LY054124, đã qua sử dụng; xe mô tô có đăng ký mang tên Nguyễn Quốc V, sinh năm: 2000; nơi cư trú: Khu D, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Ngày 21/7/2023, Đ mượn xe của V nói đi có việc riêng; V không biết Đ sử dụng xe mô tô để đi lấy ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại xe mô tô trên cho V, là phù hợp.
[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trung Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về vật chứng vụ án:
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Trung Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung Đ 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/7/2023.
Về hình phạt bổ sung: tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu vàng, đã qua sử dụng; số imei: 3557.310747.6089 và số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng) của bị cáo Nguyễn Trung Đ.
( Số tiền hiện tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.1053892.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Ninh mở tại kho bạc nhà nước huyện P).
- Tịch thu tiêu hủy: 0,157gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có đóng 03 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán, là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 sim điện thoại sim số 0964.417.xxx trong chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo Nguyễn Trung Đ
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/11/2023 giữa Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Ninh)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thị Thanh Huyền |
Bản án số 53/2023/HSST ngày 29/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 53/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trung Đức phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
