|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2023/HNGĐ- ST
Ngày: 26/12/2023
V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bá Thành;
Bà Vũ Thị Lan Anh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 231/2023/TLST - HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp Hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2023/QĐST- DS ngày 01 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1993.
Nơi thường trú: Thôn Đại T, xã Đình T, thị xã Thuận Thành, Bắc Ninh.
(Có mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1991.
Nơi thường trú: Khu phố Văn Q, phường Trí Q, thị xã Thuận Thành, Bắc Ninh.
(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn tại Toà án thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chị Nguyễn Thị H kết hôn với anh Nguyễn Văn V ngày 26/9/2012. Trước khi kết hôn anh chị có tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Theo như chị H trình bày: Sau khi kết hôn chị về chung sống cùng anh V ngay. Vợ chồng sống hòa thuận đến khoảng tháng 7/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh V mải chơi bời dẫn đến nợ nần nhiều nên vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi nhau. Sau đó chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở Đại Trạch, Đình Tổ sinh sống và vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm giữa chị và anh V không còn, không thể tiếp tục chung sống cùng nhau được nữa vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh V.
Về con chung: Chị và anh V có 02 con chung là Nguyễn Thị Ngọc Q, sinh ngày 26/8/2013 và Nguyễn Ngọc Q1, sinh ngày 21/8/2017. Hiện nay 02 con chung đang ở với anh V. Khi vợ chồng ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cháu Q cho chị tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và công nợ: Chị xác nhận vợ chồng không có.
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã giao Thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng của Tòa án theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh Nguyễn Văn V không đến Tòa án làm việc và không khai báo. Do vậy Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt anh V theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay:
- + Chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh V và chị tự nguyện để anh V tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 con chung khi vợ chồng ly hôn.
- + Kiểm sát viên phát biểu và kết luận về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà là đúng quy định; Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Còn bị đơn là chưa đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH xử;
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn V.
Về con chung: Giao cho anh Về được chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc Q, sinh ngày 26/8/2013 và Nguyễn Ngọc Q1, sinh ngày 21/8/2017.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không đặt ra xem xét giải quyết do đương sự không yêu cầu.
Về án phí: Chị H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Sau khi nghe ý kiến đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Chị Nguyễn Thị H kết hôn với anh Nguyễn Văn V ngày 26/9/2012. Trước khi kết hôn anh chị có tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Xét thấy đây là hôn nhân hợp pháp vì tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về kết hôn.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh V là có thật và nguyên nhân theo như chị H trình bày là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xuyên xảy ra tranh cãi nhau. Từ tháng 7/2023, chị và anh V đã sống ly thân và không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh V đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị H được ly hôn với anh V.
[2] Về con chung: Trong thời gian chung sống giữa chị H và anh V có 02 con chung là Nguyễn Thị Ngọc Q, sinh ngày 26/8/2013 và Nguyễn Ngọc Q1, sinh ngày 21/8/2017. Khi vợ chồng ly hôn, chị H tự nguyện để anh V tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con chung. Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khi chị H về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, cả 02 con chung đều vẫn chung sống cùng anh V và ông bà nội, cuộc sống của các cháu vẫn đảm bảo, việc học hành ổn định vì vậy đề nghị của chị H là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận đề nghị của chị H.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3] Về tài sản chung và công nợ: Chị H xác nhận vợ chồng không có.
[4] Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình;
Căn cứ Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH xử;
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn V.
- Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn V chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung là Nguyễn Thị Ngọc Q, sinh ngày 26/8/2013 và Nguyễn Ngọc Q1, sinh ngày 21/8/2017.
Các đương sự có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và công nợ: Không có.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. (Xác nhận chị H đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0006224 ngày 17/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành).
- Quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Minh Thu |
Bản án số 53/2023/HNGĐ- ST ngày 26/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 53/2023/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H - Nguyễn Văn V
