|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 53/2020/HNGĐ-ST Ngày: 23 - 9 - 2020 V/v tranh chấp “ly hôn, nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN - TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Kim Ngân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Bình
- Ông Hồ Trung Hậu
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Điền - là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long: không thuộc trường hợp tham gia phiên tòa.
Ngày 23 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 104/2020/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2020; về tranh chấp: “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2020/QĐXX-ST ngày 17 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị H, sinh năm 1985. Địa chỉ cư trú: ấp T, xã B, huyện P, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
2. Bị đơn: Anh T, sinh năm 1980. Địa chỉ cư trú: ấp T, xã B, huyện P, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/6/2020 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị H trình bày:
Chị và anh T qua quen biết, tìm hiểu nhau, được sự chấp thuận của gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương vào năm 2003. Đăng ký kết hôn ngày 29/3/2006 tại UBND xã L, huyện P (M cũ), tỉnh Vĩnh Long. Nữ trang cưới: 05 phân vàng 18K, số vàng này vợ chồng đã bán hết để chi tiêu trong gia đình, hiện nay không còn. Sau khi cưới vợ chồng về sống ở ấp H, xã B, huyện P, tỉnh Vĩnh Long. Chị và anh T có 02 con chung tên D, sinh ngày 03/7/2005 và B, sinh ngày 28/02/2008 hiện hai con sống với chị. Về tài sản chung vợ chồng chị tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết; nợ chung không có. Mâu thuẫn phát sinh dẫn đến ly hôn là do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống; do chồng ghen tuông vô cớ, anh T thường hay gây sự xúc phạm chị, thậm chí nhiều lần anh Thuận còn bạo hành, đánh chị. Chị đã cố gắng khuyên can chồng thay đổi để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng đều không thành, từ đó đời sống vợ chồng không hạnh phúc. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh T; về con chung: chị yêu cầu được quyền nuôi D, sinh ngày 03/7/2005 và B, sinh ngày 28/02/2008, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con; về quan hệ tài sản: không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị không còn yêu cầu nào khác.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 27/7/2020 cháu D trình bày: cha cháu là T, mẹ cháu là H; cha mẹ cháu ly hôn, nguyện vọng của cháu muốn được sống với mẹ.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 27/7/2020 cháu B trình bày: cha cháu là T, mẹ cháu là H; cha mẹ cháu ly hôn, nguyện vọng của cháu muốn được sống với mẹ.
- Tại phiên tòa: Chị H xác định chị và anh T ly thân khoảng 03 năm nay; tài sản chung của vợ chồng có 01 căn nhà cấp 04, vách xây tường, nóc bằng, nền gạch men ngang 4,1m dài 21m xây dựng năm 2018 trên đất của cha ruột chị là S cho nhưng ông S vẫn còn đứng tên QSD đất và 01 xe SH mode BSKS: 64K1 – 22.818 do N (là em dâu của anh T) đứng tên giấy chứng nhận dùm. Chị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn anh T, anh T có nơi cư trú thuộc huyện Bình Tân nên tranh chấp và quan hệ pháp luật thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh T vẫn vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T.
[2] Về nội dung: Chị H và anh T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn nên hôn nhân là hợp pháp. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị H yêu cầu ly hôn là có căn cứ. Về con chung, giao cháu D và cháu B cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của các cháu và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nên Tòa án không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung, các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị quyết về án phí.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị H và anh T.
- Về nuôi con chung: Giao con chung D (sinh ngày 03/7/2005) và B (sinh ngày 28/02/2008) cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về chia tài sản: Chị H không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
|
Nơi nhận: - TAND T. Vĩnh Long; - VKSND H. Bình Tân; - Chi cục THADS H. Bình Tân; - UBND xã Tân Lược, H. Bình Tân, T. Vĩnh Long; - Các đương sự; - Lưu. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Kim Ngân |
Bản án số 53/2020/HNGĐ-ST ngày 23/09/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 53/2020/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2020
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H xin ly hôn anh T vì mâu thuẩn gia đình và yêu cầu nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
