|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 52A/2024/HNGĐ-ST
Ngày 31 tháng 5 năm 2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI – TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quốc Khởi
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thành Nhạn
- Bà Cao Thị Mỹ Phượng
Thư ký phiên tòa: ông Lê Khắc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Mộng Đẹp – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 575/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”, theo quyết đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: bà Trần Ngọc Đ – sinh 1974
Địa chỉ: Khóm B, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu
Bị đơn: ông Lâm Hữu T – Sinh năm: 1977
Địa chỉ: Khóm B, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: bà Phan Ngọc T1 – Luật sư – thuộc Văn phòng L và cộng sự
(Bà Đ, bà T1 có mặt, ông T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Nguyên đơn bà Trần Ngọc Đ trình bày theo đơn khởi kiện và lời khai:
Về hôn nhân: bà Đ và ông T sống chung vợ chồng với nhau vào năm 1997 khi về sống chung vợ chồng do tự nguyện có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND phường A, thị xã G ngày 15/5/1997. Trong cuộc sống chung vợ chồng giữa bà Đ và ông T có phát sinh nhiều mâu thuẫn nên đã ly thân hơn 05 năm. Trong thời gian ly thân gia đình hai bên không có hàn gắn hôn nhân. Nay, bà Đ thấy cuộc sống chung vợ chồng với ông T không thể kéo dài, bà Đ có yêu cầu được ly hôn và không có nguyện vọng hàn gắn hôn nhân.
Về con chung: có ba người con chung tên Lâm Tường N – sinh năm 1998; Lâm Kim N1 – sinh ngày 04/6/2008 và Lâm Kim Ý – sinh ngày 27/9/2018. Khi ly hôn, đối với Tường N đã thành niên nên bà Đ không có yêu cầu. Đối người con tên Kim N1 và Kim Ý, bà Đ có yêu cầu được nuôi dưỡng và không có yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản: không có tài sản chung và nợ chung nên bà Đ không có yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
* Bị đơn ông Lâm Hữu T trình bày theo lời khai:
Ông T và bà Đ sống chung vợ chồng với nhau cách đây gần 30 năm, khi sống chung vợ chồng do tự nguyện, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại A, thị xã G ngày 15/5/1997. Trong cuộc sống chung vợ chồng giữa ông T và bà Đ không có mâu thuẫn gì, nhưng do ông T làm ăn thất bại nợ nầng nên bà Đ có yêu cầu ly hôn nên ông T không đồng ý.
Về con chung: có ba người con chung tên Lâm Tường N – sinh năm 1998; Lâm Kim N1 – sinh ngày 04/6/2008 và Lâm Kim Ý – sinh ngày 27/9/2018. Nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì con sẽ giải quyết theo quy định.
Về tài sản: ông T không có yêu cầu Tòa án xem xét về tài sản.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày:
Do bà Đ và ông T đã ly thân hơn 05 năm, trong thời gian ly thân gia đình hai bên không tổ chức hàn gắn hôn nhân, bản thân bà Đ cũng không có nguyện vọng hàn gắn hôn nhân. Ông T đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để hòa giải hàn gắn nhưng ông T vắng mặt không có lý do. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Trần Ngọc Đ có yêu cầu ly hôn với ông Lâm Hữu T.
Về con chung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin nuôi con của bà Trần Ngọc Đ đối với cháu Lâm Kim N1 – sinh ngày 04/6/2008 và Lâm Kim Ý – sinh ngày 27/9/2018.
Về tài sản: Do bà Đ và ông T không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Kiểm sát viên phát biểu:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm và Hội đồng xét xử đúng theo quy định của Bộ luật tố dân sự; Diễn biến tại phiên tòa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo luật định, nguyên đơn đã được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật.
Đối với sự vắng mặt của ông T. Do ông T đã được Tòa án triệu tập để tham gia xét xử nhưng ông T vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật Tố dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông T là đúng quy định.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tố dân sự năm 2015; các Điều 51, Điều 56, Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Ngọc Đ có yêu cầu xin ly hôn với ông Lâm Hữu T.
Về con chung: chấp nhận yêu cầu của bà Trần Ngọc Đ. Tiếp tục giao cháu Lâm Kim N1 – sinh ngày 04/6/2008 và Lâm Kim Ý – sinh ngày 27/9/2018 cho bà Đ được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các con chung tròn 18 tuổi.
Về cấp dưỡng: do bà Đ không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản: do bà Đ không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi nghiên cứu vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: bà Trần Ngọc Đ có yêu cầu khởi kiện được ly hôn với ông Lâm Hữu T. Ông T có địa chỉ tại Khóm B, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
2. Về tố tụng: Do ông Lâm Hữu T đã được Tòa án triệu tập để xét xử nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định.
3. Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: bà Đ và ông T sống chung vợ chồng với nhau vào năm 1997 khi về sống chung vợ chồng do tự nguyện có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại A, thị xã G ngày 15/5/1997. Trong cuộc sống chung vợ chồng giữa bà Đ và ông T có phát sinh nhiều mâu thuẫn và bà Đẹp xác định đã ly thân hơn 05 năm. Trong thời gian ly thân gia đình hai bên không có hàn gắn hôn nhân. Nay, bà Đ thấy cuộc sống chung vợ chồng với ông T không thể kéo dài, bà Đ có yêu cầu được ly hôn và không có nguyện vọng hàn gắn hôn nhân. Bị đơn ông T không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Đ do cuộc sống vợ chồng không có sự mâu thuẫn.
Hội đồng xét xử xét thấy: Đời sống chung vợ chồng phải xuất phát từ tình cảm yêu thương giữa các bên, sự quan tâm chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau. Nhưng giữa bà Đ và ông T có nhiều mâu thuẫn mà hai bên không thể hàn gắn được. Quá trình hòa giải tại Tòa án bà Đ cương quyết ly hôn và không đồng ý hàn gắn hôn nhân, bên cạnh đó theo biên bản xác minh tình trạng mâu thuẫn hôn nhân giữa bà Đ và ông T thì đại diện địa phương xác định: bà Đ và ông T không còn sống chung vợ chồng với nhau, ông T không còn sinh sống tại Khóm B, Phường A nhưng vẫn thường xuyên đi và về nơi Khóm B, Phường A. Trong cuộc sống các bên có mâu thuẫn gì không thì địa phương không rõ do không có trình báo. Từ đó thấy rằng, đời sống chung vợ chồng giữa bà Đ và ông T không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn và Gia chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Ngọc Đ có yêu cầu được ly hôn với ông Lâm Hữu T.
Về con chung: bà Đ và ông T có ba người con chung tên Lâm Tường N – sinh năm 1998; Lâm Kim N1 – sinh ngày 04/6/2008 và Lâm Kim Ý – sinh ngày 27/9/2018. Khi ly hôn, đối với Tường N đã thành niên nên bà Đ không có yêu cầu. Đối người con tên Kim N1 và Kim Ý, bà Đ có yêu cầu được nuôi dưỡng và không có yêu cầu cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi ly thân đến nay cháu N1 và cháu Ý do bà Đ nuôi dưỡng được đi học và phát triển ổn định nên việc tiếp tục giao cháu N1 và cháu Ý cho bà Đ được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là phù hợp nên được chấp nhận.
Về cấp dưỡng: Do bà Đ không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Do bà Đ và ông T không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí hôn sơ thẩm: bà Trần Ngọc Đ có nghĩa vụ chịu số tiền 300.000 đồng.
Xét quan điểm cũng như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là phù hợp và có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Ngọc Đ và ông Lâm Hữu T.
2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Ngọc Đ. Tiếp tục giao cháu Lâm Kim N1 – sinh ngày 04/6/2008 và Lâm Kim Ý – sinh ngày 27/9/2018 cho bà Trần Ngọc Đ được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu tròn 18 tuổi.
Về cấp dưỡng: do bà Đ không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về thăm nom chăm sóc con chung: ông T không trực tiếp nuôi con chung nhưng có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.
3. Về tài sản: Do bà Trần Ngọc Đ không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
4. Về án phí: bà Trần Ngọc Đ có nghĩa vụ chịu tiền án phí là 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà Đ đã dự nộp 300.000 đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008228 ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại Cục hành án dân sự thị Giá Rai sẽ được chuyển thu án phí. Ông Lâm Hữu T không phải chịu án phí.
5. Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Quốc K |
Bản án số 52A/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI - TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 52A/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI - TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc Đẹp - Lâm Hữu Tường
