Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 528/2024/HS-ST

Ngày: 24/9/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                     

Nơi đăng ký HKTT: 325/29C, khu phố D, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi cư trú: 23/93/10, khu phố B, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Phụ hồ - Trình độ học vấn: Lớp 0/12.

Họ tên cha: Nguyễn Hữu T2 - Sinh năm 1959 (Còn sống).

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Hoàng O - Sinh năm 1968 (Còn sống).

Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai và chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 23/5/2024, bị Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 05 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại Điều 318 Bộ luật hình sự (Bản án số 86/2024/HSST). Bị cáo chưa thi hành án.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 04/4/2024, bị tạm giữ sau đó chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án:

Huỳnh Hồ Mỹ T và Nguyễn Hữu T1 là người sử dụng trái phép chất ma tuý, cả hai chung sống như vợ chồng tại căn nhà số B, khu phố B, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Để có ma tuý sử dụng T nảy sinh ý định đi mua ma tuý về bán kiếm lời và rủ T1 cùng tham gia, T1 đồng ý.

Cách thức mua bán như sau: Người nghiện có nhu cầu sử dụng ma tuý liên hệ với T qua tài khoản Zalo tên “Bé M”, T thoả thuận giá và hẹn địa điểm giao dịch ma tuý tại hẻm C, thuộc khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, T liên hệ với người phụ nữ có tài khoản Zalo tên “Xì Trum” (không rõ lai lịch, số điện thoại) mua ma tuý. T và T1 đến khu vực bãi đất trống thuộc khu vực chợ C thuộc khu phố A, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mua rồi đem ma tuý đến điểm hẹn bán giá cao hơn để kiếm lời. Với cách thức nêu trên, T và T1 đã 02 lần bán ma tuý. Cụ thể:

Lần 1: 19 giờ ngày 30/3/2024, T và T1 đã mua 01 gói ma tuý tổng hợp (hàng khay) và 01 viên thuốc lắc của “Xì Trum” với giá 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) và đem bán lại cho “Tài N” với giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Cả hai thu lợi bất chính số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), T giữ lại 150.000 đồng, chia cho T1 150.000 đồng và cả hai đã tiêu xài hết.

Lần 2: Vào khoảng 21 giờ 25 phút ngày 04/4/2024, T và T1 mua 01 gói ma tuý tổng hợp (hàng khay) của “Xì Trum” với giá 3.200.000 đồng (Ba triệu, hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua, T cầm gói ma tuý trong lòng bàn tay phải ngồi sau xe mô tô biển

2

số 77G1-685.79 do T1 điều khiển đi đến khu vực thuộc khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để tiếp tục bán cho “Tài Nguyễn". Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi T và T1 đi đến khu vực hẻm C thuộc khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, để bán ma tuý cho “Tài Nguyễn" nhưng chưa kịp bán thì bị Công an phường T kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Tại Cơ quan điều tra Huỳnh Hồ Mỹ T và Nguyễn Hữu T1 đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 gói nilon có chứa chất màu trắng được hàn kín, T đang cầm trong lòng bàn tay phải được niêm phong có chữ ký của T, T1 và dấu mộc của Công an phường T
  • - 01 điện thoại Iphone 11 Promax, màu vàng, số máy NWGM2LL/A, số Seri FK1CF6M6N70K là điện thoại của T sử dụng để liên lạc mua bán ma tuý.
  • - 01 xe Honda AirBlade, biển số 77G1-685.79, màu đỏ đen, số khung RLHJF4G14EY387154, số máy JF4GE5087195.

* Quá trình điều tra làm rõ:

Xe mô tô biển số 77G1-685.79 là xe có số khung: 6325KZ183042, số máy: JF63E2619915 do anh Đinh Kiều Minh T3 (sinh năm: 1990, thường trú tại xóm E, thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định) đăng ký sở hữu. Hiện tại, ông Đinh Văn Đ (sinh năm 1963, là cha ruột của anh T3) đang quản lý, sử dụng xe mô tô nêu trên.

- Đối với xe có số khung RLHJF4G14EY387154, số máy JF4GE5087195 : Kết quả tra cứu không tìm thấy dữ liệu tra cứu theo số khung, số máy nêu trên. T khai xe bị thu giữ là của bà Hồ Vân H (là mẹ của T, sinh năm 1982, thường trú tại 9/7, khu phố C, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai). Bà H khai vào khoảng tháng 08/2023 bà H mua xe của một nam thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 7.500.000 đồng, có viết giấy mua bán xe (viết tay) nhưng đã làm mất. Sau khi mua xe, bà H giao xe mô nêu trên cho T sử dụng và không biết T sử dụng để làm phương tiện đi mua bán ma tuý. Do chưa xác định được nguồn gốc xe nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ xử lý sau.

* Tại Kết luận giám định số 704/KL-KTHS ngày 11/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

Mẫu chất màu trắng niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 2,124 gam, loại Ketamine.

2. Truy tố:

Tại Cáo trạng số 500/CT-VKSBH-HS ngày 26/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo Huỳnh Hồ Mỹ T và Nguyễn Hữu T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

3

Áp dụng khoản 2, Điều 251, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Hồ Mỹ T mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Áp dụng khoản 2, Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T1 mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tuyên:

  • - Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định.
  • - Truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) thu lợi bất chính từ việc bán ma túy của T và T1.
  • - Sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 Promax, màu vàng, số máy NWGM2LL/A, số Seri FK1CF6M6N70K là điện thoại của T sử dụng để liên lạc mua bán ma tuý.
  • - Đối với người phụ nữ có tên Z “Xì Trum” (chưa rõ lai lịch) bán ma túy cho T và T4, người đàn ông có tên Z “Tài N” chưa rõ lai lịch mua ma túy của T và T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đã biết hành vi của mình là sai, kính xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm được trở về gia đình, phấn đấu trở thành người công dân tốt cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

- Những chứng cứ xác định có tội:

Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 19 giờ ngày 30/3/2024 tại hẻm C thuộc khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Huỳnh Hồ Mỹ T và Nguyễn Hữu T1 đã có hành vi 01 lần bán 01 gói

4

ma tuý tổng hợp (hàng khay) và 01 viên thuốc lắc cho đối tượng có tên Z “Tài N" (không rõ lai lịch) với giá 1.500.000 đồng (Một triệu, năm trăm nghìn đồng).

Vào lúc 23 giờ ngày 04/4/2024, tại địa điểm nêu trên, Huỳnh Hồ Mỹ T và Nguyễn Hữu T1 đem theo 2,124 gam ma túy, loại Ketamine để bán cho đối tượng có tên Z “Tài N” nhưng chưa kịp bán thì bị Công an phường T bắt quả tang cùng tang vật.

- Về tội danh:

Từ căn cứ trên, xác định các bị cáo Huỳnh Hồ Mỹ T và Nguyễn Hữu T1 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015.

Như vậy, bản cáo trạng số 500/CT-VKSBH-HS ngày 26/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm gia tăng nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự khác; gây tác hại cho sức khỏe và gây ảnh nghiêm trọng đến trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo đều là công dân đã trưởng thành, có đủ nhận thức và biết ma túy là chất gây nghiện có tác hại rất lớn cho người sử dụng và đối với xã hội. Các bị cáo cũng nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình vi phạm nên cần phải có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để cải tạo, giáo dục và có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.

- Về nhân thân:

Bị cáo T có nhân thân tốt (chưa có tiền án, tiền sự). Bị cáo T1 có nhân thân xấu.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự; Riêng bị cáo T có nhân thân tốt (chưa có tiền án, tiền sự), đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét vai trò đồng phạm của từng bị cáo trong vụ án, nhận thấy trong vụ án này bị cáo T có vai trò cao hơn bị cáo T1, bị cáo T là người rủ rê bị cáo T1 cùng thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt HĐXX cũng xem xét đến nhân thân của các bị cáo thấy rằng bị cáo T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo T1 có nhân thân xấu. Do đó các bị cáo sẽ phải chịu mức án ngang nhau.

Đối với bị cáo T1 cần tổng hợp hình phạt của bị cáo trong vụ án này cùng với Bản án số 86/2024/HSST ngày 23/5/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã có hiệu lực pháp luật để buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung.

5

Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra cũng như việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung. Đồng thời xém xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[3] Về vật chứng và các vấn đề khác:

Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định.
  • - Truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng do T và T1 thu lợi bất chính từ việc bán ma túy là phù hợp.
  • - Sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 Promax, màu vàng, số máy NWGM2LL/A, số Seri FK1CF6M6N70K là điện thoại của T sử dụng để liên lạc mua bán ma tuý là phù hợp.
  • - Đối với người phụ nữ có tên Z “Xì Trum” (chưa rõ lai lịch) bán ma túy cho T và T4, người đàn ông có tên Z “Tài N” (chưa rõ lai lịch) mua ma túy của T và T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau là phù hợp theo quy định của pháp luật.
  • - Đối với xe có số khung RLHJF4G14EY387154, số máy JF4GE5087195: Kết quả tra cứu không tìm thấy dữ liệu tra cứu theo số khung, số máy nêu trên. T khai xe bị thu giữ là của bà Hồ Vân H (là mẹ của T, sinh năm 1982, thường trú tại 9/7, khu phố C, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai). Bà H khai vào khoảng tháng 08/2023 bà H mua xe của một nam thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 7.500.000 đồng (Bảy triệu, năm trăm nghìn đồng), có viết giấy mua bán xe (viết tay) nhưng đã làm mất. Sau khi mua xe, bà H giao xe mô nêu trên cho T sử dụng và không biết T sử dụng để làm phương tiện đi mua bán ma tuý. Do chưa xác định được nguồn gốc xe nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý sau là phù hợp theo quy định của pháp luật.

[4] Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[5] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa:

- Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

6

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Áp dụng khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Hồ Mỹ T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Hồ Mỹ T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2024.

Áp dụng khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 86/2024 ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 12 (Mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2022 đến ngày 24/11/2022 tại Bản án số 86/2024/HSST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong số 704/KL – KTHS ngày 11/4/2024 của Phòng K.
  • - Sung ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại Iphone 11 Promax, màu vàng, số máy NWGM2LL/A, số Seri FK1CF6M6N70K là tài sản của Huỳnh Hồ Mỹ T.
  • (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).
  • - Buộc mỗi bị cáo phải nộp lại 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền thu lợi bất chính để sung ngân sách nhà nước.

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Các bị cáo được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan THAHS TP.Biên Hòa.
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Các bị cáo;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

 

7

- Lưu hồ sơ, văn phòng.

Trần Thị Thúy

8

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 528/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (mua bán trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 528/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tiên - Tịnh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger