|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 528/2024/HS-ST
Ngày: 10-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Hải Long
2. Bà Nguyễn Thị Kim Dung
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Khúc Thị Thúy Nga, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 171/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 458/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Đoàn Hoàng M, sinh năm 2001.
ĐKHKTT và nơi cư trú: Tổ B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Mạnh H và bà Dư Thị H1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Bản án hình sự phúc thẩm số 22/2017/HSPT ngày 30/3/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản” (ra trại ngày 26/9/2018, đóng án phí và nghĩa vụ dân sự ngày 28/6/2017, đã được xóa án tích).
- Bản án hình sự sơ thẩm số 167/2023/HSST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đang chấp hành án).
- Ngày 13/4/2016, Công an quận N, thành phố Hải Phòng xử phạt hành chính với hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản” (đã hết thời hiệu).
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam T3 – Bộ C1 theo Quyết định thi hành án số 287/2023/QĐ-CA ngày 03/11/2023 của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; có mặt tại phiên tòa;
D chỉ bản số [...] lập ngày 22/11/2023 tại Phòng PA09 – Công an thành phố H.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- - Anh Đặng Văn T, sinh năm 2004; nơi cư trú: Số nhà A, tổ G, thôn T, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt tại phiên tòa;
- - Anh Trần Quang Đ, sinh năm 2003; nơi cư trú: Thôn C, xã K' D, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; vắng mặt tại phiên tòa;
- - Anh Lê Các K, sinh năm 1996; nơi cư trú: Khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 10/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp nhận, giải quyết tin báo về tội phạm của bà Trần Thị P, sinh năm 1967, nơi cư trú: số B làng Y, phường Y, quận T, thành phố Hà Nội trình báo về việc con trai là Nguyễn Tiến D1, sinh năm 1989 bị lừa đưa sang Campuchia bán cho công ty C2 lao động, đòi tiền chuộc. Sau đó, gia đình bà P đã chuyển tiền chuộc anh D1 về Việt Nam.
Quá trình điều tra, xác định như sau:
Do không có việc làm, ngày 25/7/2022, anh Đặng Văn T (sinh năm 2004; nơi thường trú: Số A, tổ G, thôn T, xã Q, C, Đắk Lắk) và anh Trần Quang Đ (sinh năm 2003; nơi thường trú: Thôn C, xã K, huyện Đ, Gia Lai) đến một trung tâm giới thiệu việc làm ở quận F, thành phố Hồ Chí Minh (không nhớ rõ tên, địa chỉ) để tìm việc. Tại đây, anh T và anh Đ gặp Bùi Đoàn Hoàng M và anh Lê Các K (sinh năm 1996; nơi thường trú: L, X, Sông C, Phú Yên). Để lôi kéo anh T, Đ, K sang Campuchia lao động, M trao đổi M đã làm công việc văn phòng, hưởng lương vài chục triệu đồng ở Campuchia, nếu đi thì M sẽ lo chi phí, anh T, Đ, K đồng ý. M dùng điện thoại của anh K chụp ảnh căn cước công dân của các anh T, Đ, K và chụp ảnh 03 người này (đứng hàng ngang) gửi qua M1 “Vuong Tu Thien” cho Phan Chánh T1 (sinh năm 2001; nơi thường trú: Thôn P, xã N, N, Khánh Hòa) đang ở Campuchia, đồng thời yêu cầu anh T, Đ, K lập tài khoản T2 để trao đổi với tài khoản T2 có tên: “Thiên - @vuongtuthiendzz” của đối tượng T1. Anh T lập tài khoản Telegram bằng số điện thoại 0347.140.xxx, sau đó M liên hệ cho T1 để T1 kết bạn với tài khoản Telegram của anh T, liên hệ với anh T khi nào đến Campuchia thì gọi cho T1 cử người đón.
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 25/7/2022, M thuê xe ô tô đưa các anh T, Đ, K từ Trung tâm giới thiệu việc làm ở quận F, thành phố Hồ Chí Minh đi về hướng cửa khẩu M5, tỉnh Tây Ninh, qua nhiều chặng chuyển xe. Đến gần khu vực biên giới cửa khẩu M5, M xuống xe quay lại thành phố Hồ Chí Minh còn các anh T, Đ, K tiếp tục đi Campuchia theo sự bố trí, sắp xếp của T1.
Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 25/07/2022, các anh T, Đ, K đến khu vực cửa khẩu M5, tỉnh Tây Ninh, được chở xe máy đưa qua rừng cao su khoảng 15km, rồi đi vào một căn nhà bỏ hoang. Tại đây, anh T nhắn tin cho đối tượng T1 thông báo 03 người đã đến gần biên giới Campuchia, T1 yêu cầu anh T khi nào qua biên giới thì gọi điện cho T1 để cử người đón. Anh T, Đ, K được 01 người đàn ông (khoảng 30 tuổi, không rõ nhân thân) dẫn đi bộ qua một cánh đồng mía khoảng 15km sang Campuchia (không xác định được vị trí) rồi được 01 người đàn ông Campuchia đón lên xe ô tô 7 chỗ đi đến ngôi nhà hai tầng, sơn màu xám ở Campuchia, cách biên giới khoảng 30km.
Đến khoảng 09 giờ 00 phút ngày 26/7/2022, lái xe người Campuchia đưa các anh T, Đ, K đến công ty của người Trung Quốc ở thành phố P, Campuchia giao cho một người đàn ông Trung Quốc (không rõ nhân thân) và 01 người đàn ông Việt Nam khoảng gần 30 tuổi (không rõ nhân thân). Hai người này giao các anh T, Đ, K cho đối tượng Phan Chánh T1 là người quản lý của công ty để sắp xếp công việc.
Khoảng trưa ngày 26/7/2022, T1 xác nhận đã đón được các anh T, Đ, K đưa vào công ty làm việc thì M nhắn tin gửi số tài khoản 050028434518 mang tên Bui Ngoc M2 tại Ngân hàng S2 (STB) để Trực chuyển khoản 69 triệu đồng theo thoả thuận ban đầu cho M2. M2 đã nhận được 69 triệu đồng thông qua T1 nhờ chuyển khoản từ tài khoản số [...] tại Ngân hàng TMCP C3 mang tên TRAN SANG.
Ngày 27/7/2022, T1 hướng dẫn các anh T, Đ, K cách sử dụng máy vi tính, điện thoại di động thông minh kết nối Internet, tạo tài khoản Facebook, giả nữ giới để nhắn tin mời gọi người khác tham gia vào các App nạp tiền, đầu tư rồi chiếm đoạt tiền của khách.
Khoảng tháng 8/2022, anh K bị điều chuyển sang công ty khác (không biết tên, địa chỉ công ty) của người Trung Quốc, công việc như cũ. Do anh K không làm được việc theo yêu cầu nên liên hệ gặp người phiên dịch ở công ty thì được trao đổi muốn về thì phải mất số tiền 100 triệu đồng tiền chuộc; Anh K được liên lạc Z với anh ruột là Lê Văn S nhờ chuyển khoản tiền chuộc (vào tài khoản V2 số [...] mang tên Lê Thị Hoài A) mới cho anh K về.
Ngày 12/9/2022, anh S đã sử dụng tài khoản Ngân hàng V3 số 1030724526 và tài khoản Ngân hàng Đ3 số 0109482362 đều mang tên Lê Văn S chuyển số tiền trên vào tài khoản mang tên Lê Thị Hoài A, chuyển tiền xong, anh K nhắn cho anh S và đã được cho về.
Ngày 13/9/2022, anh K đến cửa khẩu M5, tỉnh Tây Ninh thì bị Đồn Biên phòng Cửa khẩu M5, Tây Ninh xử phạt hành chính về hành vi: Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định của pháp luật. Anh K hẹn anh S đến cửa khẩu M5, Tây Ninh đón, khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, anh S đón anh K tại cửa khẩu M5 về Phú Yên.
Khoảng giữa tháng 9/2022, các anh T, Đ bị đưa sang công ty khác (không biết tên, địa chỉ Công ty) của người Trung Quốc ở tỉnh Poipet, Campuchia làm việc, công việc vẫn như cũ, đối tượng quản lý tên H2 (khoảng 25 tuổi, người Việt Nam) giao chỉ tiêu hàng tháng phải lừa được 5.000 USD, nếu không sẽ bị bỏ đói, đánh đập. Anh T, anh Đ làm việc tại công ty đến khoảng giữa tháng 10/2022 thì Cảnh sát Campuchia đến kiểm tra, sau đó anh T, anh Đ được cho về. Anh T, anh Đ bắt xe ra cửa khẩu M5, Tây Ninh và bị Bộ phát hiện. Ngày 17/10/2022, anh Đ bị xử phạt hành chính về hành vi: Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, ngày 26/7/2022 Bùi Đoàn Hoàng M còn lôi kéo anh Trần Tuấn V, sinh năm 1988, trú tại: thôn A, A, K, Hưng Yên sang Campuchia trái phép để lao động nhưng anh V đã từ chối không đi.
Tại Cơ quan điều tra, các anh T, Đ, K đều khai nhận: Tháng 7/2022 các anh T, Đ, K đến Trung tâm giới thiệu việc làm tại quận F, thành phố Hồ Chí Minh để tìm việc làm. Tại đây các anh T, Đ, K gặp Bùi Đoàn Hoàng M và được M giới thiệu, lôi kéo sang Campuchia làm việc với mức lương vài chục triệu đồng/tháng. Do muốn công việc với mức lương cao nhưng không có hộ chiếu, giấy tờ xuất cảnh hợp pháp sang Campuchia nên các anh T, Đ, K đồng ý để Bùi Đoàn Hoàng M và Phan Chánh T1 tổ chức trốn sang Campuchia lao động.
Anh Trần Tuấn V khai: chiều ngày 26/7/2022, trên xe khách từ bến xe M đi ra Hà Nội anh V gặp Bùi Đoàn Hoàng M (Minh tự giới thiệu tên là D2, khoảng gần 20 tuổi, quê Hải Phòng). M nói chuyện đã từng làm việc tại Campuchia và lôi kéo anh V sang Campuchia làm phiên dịch với mức lương 30 triệu đồng/tháng. Nếu anh V muốn làm việc M có thể liên hệ với quản lý của công ty xin cho anh V vào làm. Sau đó, anh V đã kết bạn với tài khoản Facebook có tên “Hoàng D3” của M để tiện liên lạc và gửi ảnh căn cước công dân, ảnh chân dung của anh V cho M để xin việc. Trong thời gian này từ khoảng ngày 28/7/2022 đến ngày 09/8/2022, anh V và M nhiều lần liên lạc với nhau qua ứng dụng Facebook, M nhiều lần thúc giục anh V đi sang Campuchia cùng với M nhưng ngày 09/8/2022 anh V thông báo lại với M là không đi được và từ đó đến nay không liên lạc với M nữa.
Bùi Đoàn Hoàng M khai nhận đã cùng Phan Chánh T1 tổ chức cho các anh Đặng Văn T, Lê Quang Đ1, Lê Các K trốn sang Campuchia lao động trái phép và M được hưởng lợi 69 triệu đồng. Ngoài ra, M còn khai có qua một người không rõ lai lịch để hỏi tìm giúp cho anh Nguyễn Tiến D1 công việc khi D1 đang ở Campuchia, không biết, liên quan gì đến việc D1 bị bắt ép lao động và đòi tiền chuộc phù hợp lời khai của D1 nên không đề cập xử lý.
Cơ quan điều tra đã tổ chức cho các anh Đặng Văn T, Trần Quang Đ, Lê Các K và Trần Tuấn V nhận dạng qua bản ảnh, kết quả: anh T, Đ, K, V đều nhận ra M là người đã rủ và đưa các anh trốn sang Campuchia và tổ chức cho Bùi Đoàn Hoàng M nhận dạng các anh T, Đ, K, V, kết quả: M nhận dạng được anh T, Đ2, K là người M đưa trốn sang Campuchia.
Quá trình xác minh tại Cục Q - Bộ C1 và Cục C4 cung cấp:
- Nguyễn Tiến D1, Phan Chánh T1 nêu trên có thông tin cấp hộ chiếu và L.
- Bùi Đoàn Hoàng M, Đặng Văn T, Trần Quang Đ, Lê Các K nêu trên chưa có thông tin cấp hộ chiếu và xuất nhập cảnh Việt Nam.
Đồn Biên phòng cửa khẩu Quốc tế M5 cung cấp: Ngày 13/9/2022 xử phạt Lê Các K và ngày 17/10/2022, xử phạt Trần Quang Đ cùng về hành vi "Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất, nhập cảnh theo quy định của pháp luật". Đối với Đặng Văn T không có thông tin xuất nhập cảnh qua Cửa khẩu Quốc tế M5 và chưa bị Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế M5 xử phạt vi phạm hành chính.
Xác minh tại Ngân hàng TMCP S2 – Phòng G xác định thông tin chủ tài khoản 060039547670 mang tên anh Thạch Sa R, sinh ngày 08/9/1984; HKTT tại Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Xác minh tại Ngân hàng T4 thông tin số tài khoản 19037162794010 là anh Nguyễn Hoàng V1, sinh năm 1980, trú tại tổ E, khu phố P, phường G, T, Tây Ninh.
Xác minh tại Ngân hàng TMCP C3 xác định thông tin chủ tài khoản 103876563107 mang tên Lê Thị Hoài A, sinh ngày 18/9/1991; HKTT tại Q, Q, T, Đồng Nai.
Xác minh tại Ngân hàng TMCP S2 xác định thông tin chủ tài khoản 050028434518 mang tên anh Bùi Ngọc M3, sinh ngày 12/10/1984; HKTT tại 3/125 Kp Nội Ô, thị trấn G, Tây Ninh.
Xác minh tại Ngân hàng TMCP C3 (V4) xác định thông tin chủ tài khoản 101876295168 mang tên anh Trần S1, sinh ngày 16/5/1991; HKTT tại T, A, TX H, tỉnh Đồng Tháp.
Xác minh tại Ngân hàng TMCP Q1 (M6) thông tin số tài khoản 0989243841 mang tên Phan Chánh T1, sinh năm 2001, HKTT: Phong Ấp, Ninh Bình, TX N, Khánh Hòa.
Kết quả xác minh tại các Ngân hàng: T4, S3, V5, MB có các giao dịch chuyển tiền phù hợp nội dung như trên.
Về các đối tượng liên quan khác trong vụ án:
*Anh Thạch Sa R khai: là Giám đốc Công ty TNHH T5, trụ sở tại số A đường số A, phường A, quận F, thành phố Hồ Chí Minh. Anh R không nhớ và không nhận ra ảnh của 05 đối tượng gồm: anh Đặng Văn T, anh Trần Quang Đ, anh Lê Các K, Bùi Đoàn Hoàng M và Phan Chánh T1. Qua tra cứu hệ thống dữ liệu lưu trữ Công ty T5 xác định các anh Đặng Văn T, Trần Quang Đ, Lê Các K có đến Công ty T5 nhờ môi giới xin việc làm nhưng Công ty không giới thiệu những người này đi làm việc nên hệ thống không hiển thị thời gian cụ thể những người này đến xin việc. Anh R thừa nhận ngày 25/7/2022 có sử dụng tài khoản số [...] nhận số tiền 2.000.000 đồng, tuy nhiên nhận từ ai, số tài khoản nào anh R không nhớ. Mục đích nhận số tiền này vì khi các anh T, Đ, K đến nhờ Công ty xin việc thì Công ty phải trả tiền hoa hồng cho các xe đưa các anh T, Đ, K tìm việc làm. Anh R không biết việc Bùi Đoàn Hoàng M tổ chức cho các anh T, Đ, K trốn sang Campuchia.
Bùi Đoàn Hoàng M khai nhận phù hợp với nội dung trên và trình bày: Quá trình tìm kiếm việc làm tại Trung tâm G1 ở quận F, thành phố Hồ Chí Minh. Do M và anh K đã ăn, sống tại đây một vài ngày chưa tìm được việc, không có tiền trả nên ông chủ yêu cầu phải trả 2.000.000 đồng qua tài khoản số [...] tại S3, tên tài khoản Thạch Sa R1. M nói lại với Trực việc trên, ngày 25/7/2022 T1 đã chuyển 2.000.000 đồng vào tài khoản tên Thach Sa R2. M không trao đổi với Thạch Ra Rót về việc tổ chức cho các anh T, Đ, K trốn sang Campuchia nên không xử lý Thạch Sa R.
*Anh Nguyễn Hoàng V1 khai: sử dụng tài khoản số 19037162794010 từ tháng 3/2021, không cho ai thuê hay mượn tài khoản. Anh V1 làm nghề giao hàng, sử dụng tài khoản Ngân hàng này để nhận tiền của khách phục vụ cho việc giao nhận hàng, anh V1 không quen biết Bùi Đoàn Hoàng M, Đặng Văn T, Trần Quang Đ, Lê Các K.
*Chị Lê Thị Hoài A khai: không biết, không đăng ký, quản lý sử dụng tài khoản Ngân hàng số [...] tại Ngân hàng C3 và không biết ai đăng ký, sử dụng tài khoản này. Chị Hoài A khai bị mất chứng minh nhân dân số [...] khoảng năm 2017 và đã làm lại chứng minh nhân dân.
*Anh Bùi Ngọc M3 và vợ là Trương Thị Phương M4 khai: cùng quản lý cửa hàng Internet “Phương Mai” tại Ô 1 H, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh, sử dụng chung số tài khoản 050028434518 tại Ngân hàng S3, có làm dịch vụ nhận, chuyển tiền. Khoảng tháng 7/2022 có nam thanh niên khoảng 21 tuổi, nói giọng B (không rõ tên, địa chỉ) đến chơi game và nhờ nhận hộ 69 triệu đồng chuyển khoản, phí nhận tiền là 100.000 đồng. Vợ chồng chị M4 không trao đổi, thoả thuận gì liên quan đến việc đưa, nhận số tiền này nên không đề cập xử lý.
*Đối với người có tài khoản tên Trần S1: kết quả xác minh đối tượng và người thân vắng mặt tại địa phương, không rõ làm gì.
*Đối với Phan Chánh T1: xác minh tại nơi cư trú xác định T1 vắng mặt tại địa phương, không rõ Trực làm gì, ở đâu.
*Đối với Bùi Thị N: xác minh vắng mặt tại địa phương nơi cư trú, không rõ đối tượng làm gì, ở đâu.
Đối với Phan Chánh T1, người sử dụng tài khoản Ngân hàng tên Trần S1, đối tượng Bùi Thị N (nhận tiền chuộc D1) hiện đều vắng mặt tại địa phương, không rõ đi đâu, làm gì. Ngoài ra, Bùi Đoàn Hoàng M, Đặng Văn T, Trần Quang Đ, Lê Các K không xác định được nơi làm việc, địa điểm tại Campuchia. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để Ủy thác tư pháp xác minh thông tin Phan Chánh T1 khi ở Campuchia và việc các anh T, Đ, K làm việc tại đây. Tuy nhiên việc này không làm ảnh hưởng, thay đổi bản chất vụ án, Cơ quan điều tra tách tài liệu liên quan đến các đối tượng để tiến hành điều tra, xác minh sau.
Cáo trạng số 126/CT-VKSHN-P1 ngày 29/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Bùi Đoàn Hoàng M về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài” theo quy định tại khoản 1 Điều 349 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Bùi Đoàn Hoàng M thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và luận tội cho rằng: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên toà có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng truy tố bị cáo Bùi Đoàn Hoàng M về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài” theo quy định tại khoản 1 Điều 349 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 349; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Bùi Đoàn Hoàng M từ 24 - 30 tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”. Tổng hợp với mức hình phạt 18 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 167/2023/HSST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là từ 42 - 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2023.
- Về hình phạt bổ sung, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước đối với điện thoại di động thu giữ mà bị cáo sử dụng trong quá trình phạm tội và tuyên truy thu số tiền thu lợi bất chính 69.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án các anh Đặng Văn T, Trần Quang Đ và Lê Các K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy các anh T, Đ, K đã có lời khai và ý kiến trong quá trình điều tra, sự vắng mặt của các anh T, Đ, K không gây trở ngại đến việc xét xử, giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3]Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Bùi Đoàn Hoàng M thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn, hối cải, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 25/7/2023, Bùi Đoàn Hoàng M đã thỏa thuận với đối tượng Phan Chánh T1 (người Việt Nam đang làm việc tại Campuchia) thuê xe ô tô chở các anh Đặng Văn T, Trần Quang Đ và Lê Các K từ Trung tâm giới thiệu việc làm ở quận F, thành phố Hồ Chí Minh đến khu vực cửa khẩu M5 để trốn sang Campuchia lao động trái phép, M được hưởng lợi số tiền 69 triệu đồng.
Hành vi của bị cáo Bùi Đoàn Hoàng M đã cấu thành tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 349 Bộ luật Hình sự.
Do đó, có đủ cơ sở để xác định Cáo trạng số 126/CT-VKSHN-P1 ngày 29/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Bùi Đoàn Hoàng M về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài” theo quy định tại khoản 1 Điều 349 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân và các tình tiết có ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của bị cáo Bùi Đoàn Hoàng M, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Đoàn Hoàng M là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an và an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì hám lợi vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.
Bị cáo Bùi Đoàn Hoàng M có 02 tiền án (01 tiền án đã xóa án tích và 01 tiền án đang chấp hành án), 01 tiền sự (đã hết thời hiệu) thể hiện bị cáo có nhân thân xấu và có ý thức coi thường pháp luật. Mặc dù bị cáo đã nhiều lần được các cơ quan pháp luật giáo dục, cải tạo nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn phạm tội.
Bị cáo Bùi Đoàn Hoàng M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn để trừng trị, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và góp phần đấu tranh, phòng chống tội phạm.
[5]Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất vụ án và hoàn cảnh gia đình của bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]Bị cáo Bùi Đoàn Hoàng M được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành án vào hình phạt tù, cứ mỗi ngày bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành án được tính trừ một ngày tù.
[7]Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo màu nâu đỏ thu giữ của Bùi Đoàn Hoàng M là phương tiện bị cáo sử dụng để liên lạc trong quá trình phạm tội, cần tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
- Quá trình tổ chức cho các anh Đặng Văn T, Trần Quang Đ và Lê Các K trốn đi nước ngoài, bị cáo Bùi Đoàn Hoàng M đã thu lợi bất chính số tiền 69.000.000 đồng, cần truy thu số tiền này để sung vào ngân sách Nhà nước.
[8]Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo Bùi Đoàn Hoàng M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Đoàn Hoàng M phạm tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”
Áp dụng khoản 1 Điều 349; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Bùi Đoàn Hoàng M 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”. Tổng hợp với mức hình phạt 18 (Mười tám) tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 167/2023/HSST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Đoàn Hoàng M.
2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự
- Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) Điện thoại di động có chữ ViVo màu nâu đỏ đã qua sử dụng Imei 1: 865635046102379; Imei 2: 865635046102361, bị vỡ màn hình, vỡ vỏ máy, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan An ninh điều tra - Công an thành phố H và Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội ngày 22/3/2024)
- Buộc bị cáo Bùi Đoàn Hoàng M nộp số tiền 69.000.000 (Sáu mươi chín triệu) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
3. Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Bùi Đoàn Hoàng M phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo Bùi Đoàn Hoàng M có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 10/9/2024.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Tâm |
Bản án số 528/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự về tội tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài
- Số bản án: 528/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 25/7/2023, Bùi Đoàn Hoàng M đã thỏa thuận với đối tượng Phan Chánh T1 (người Việt Nam đang làm việc tại Campuchia) thuê xe ô tô chở các anh Đặng Văn T, Trần Quang Đ và Lê Các K từ Trung tâm giới thiệu việc làm ở quận F, thành phố Hồ Chí Minh đến khu vực cửa khẩu M5 để trốn sang Campuchia lao động trái phép, M được hưởng lợi số tiền 69 triệu đồng.
