|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 528/2024/DS-PT
Ngày: 26-8-2024
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất,
yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Lan Anh |
| Các thẩm phán: | Ông Vũ Viết Văn |
| Bà Ngô Tuyết Băng |
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hương - Thẩm tra viên chính
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:
Bà Trịnh Thu Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 185/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 151/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 344/2024/QĐ-PT ngày 16 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phan Thị H, sinh năm 1968. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Ông Phan Bá K, sinh năm 1958. Vắng mặt.
Bà Lại Thị L, sinh năm 1964. Vắng mặt.
Địa chỉ: C, khu C, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
- Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1978; Có mặt.
- Ông Nguyễn Mạnh H1 (chồng bà O), sinh năm 1978; Có mặt.
Địa chỉ: Tổ C, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà O, ông H1: Luật sư Phan Minh T - Văn phòng L7, Đoàn luật sư thành phố H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đỗ Thị T1 (Hoàng Thị Hồng T2), sinh năm 1979; Có mặt.
- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1978 (chồng bà T2); Có mặt.
- Bà Trương Thị C, sinh năm 1951 (mẹ bà T2); Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn H, xã B, huyện T, thành phố Hà Nội.
- Ông Phùng Đình T3, sinh năm 1955; Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội.
Nơi cư trú: Số G T, H, H, quận H, thành phố Hà Nội.
- Cụ Chu Thị S, sinh năm 1927 (mẹ ông Cấn Văn T4); Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện T, thành phố Hà Nội.
- Bà Nguyễn Thị Minh T5, sinh năm 1964 (vợ ông T4); Vắng mặt.
- Anh Cấn Đình L1, sinh năm 1990 (con ông Cấn Văn T4); Vắng mặt.
- Chị Cấn Diệu L2, sinh năm 1995 (con ông Cấn Văn T4); Vắng mặt.
- Ông Đỗ Văn M, sinh năm 1961 (chồng bà H);
Địa chỉ: Thôn S, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phan Thị H (Giấy ủy quyền ngày 08/3/2023).
Do có kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Mạnh H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:
* Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phan Thị H trình bày:
Ngày 01/8/2011, bà có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 34, tờ bản đồ số 03, diện tích 360m²; địa chỉ: Thôn I, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội của ông Phan Bá K và bà Lại Thị L. Nguồn gốc thửa đất bà nhận chuyển nhượng của ông K, bà L là đất của chị Đỗ Thị T1 được UBND xã T giao đất làm nhà ở và sản xuất tại G Tề nay thuộc thôn I, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội. Thửa đất có diện tích 360m², gíá chuyển nhượng 1.550.000.000 đồng (một tỷ năm trăm năm mươi triệu đồng). Bà đã giao cho ông K, bà L 1.100.000.000 đồng, còn lại 450.000.000 đồng khi nào được UBND xã kê khai để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà sẽ trả nốt. Ông K, bà L đã viết cho bà giấy thỏa thuận về việc mua bán đất và giao cho bà quản lý thửa đất và giấy tờ gốc của thửa đất gồm: 01 biên bản cắm đất làm nhà ở và sản xuất ghi ngày 01/7/1994 (bản sao chứng thực xã); 01 Giấy ủy quyền lập ngày 29/01/2010 (bản chính). Còn bản gốc “Biên bản cắm đất làm nhà ở và sản xuất” ghi ngày 01/7/1994, ông K, bà L giữ lại khi nào bà trả hết tiền thì ông K, bà L giao cho bà.
Khoảng năm 2015, khi đó bà đang đi lao động tại Hàn Quốc thì ông Phan Bá K có gọi điện cho bà nói cần tiền và bảo bà trả nốt số tiền 450.000.000 đồng, nếu không trả được thì ông K sẽ đem giấy tờ gốc của thửa đất đã bán cho bà là “Biên bản cắm đất làm nhà ở và sản xuất” để thế chấp vay tiền. Do thời điểm đó kinh tế của bà khó khăn và bà không có ở Việt Nam nên bà đã đồng ý cho ông K đem giấy tờ gốc đó để đi vay tiền với điều kiện chỉ được vay đúng số tiền bà còn nợ là 450.000.000 đồng. Sau đó, ông K đã cắm giấy tờ đất đó cho bà Nguyễn Thị O ở H, Hà Nội vay số tiền 450.000.000 đồng.
Kể từ ngày 01/8/2011 cho đến nay bà là người trực tiếp quản lý sử dụng thửa đất và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Năm 2017, UBND xã T làm thủ tục thống kê đất đai để phục vụ cho việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà đã đăng ký kê khai quyền sử dụng đất tại UBND xã T. Theo đúng thỏa thuận ngày 15/11/2017, bà đã trả cho ông K, bà L số tiền 450.000.000 đồng, ông K đã nhận đủ số tiền 450.000.000 đồng và hứa với bà sau 30 ngày thì trả bà bản gốc “Biên bản cắm đất làm nhà ở và sản xuất” ghi ngày 01/7/1994 để bà làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến tháng 11/2017, bà không thấy ông K, bà L trả cho bà bản gốc giấy tờ của thửa đất nên bà đã làm đơn lên UBND xã T để giải quyết. Sau đó, thì bà O và ông H1 có đề nghị Công an huyện T giải quyết việc ông K bán đất cho hai người, ngày 02/12/2019 Công an huyện ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
Nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà và vợ chồng ông Phan Bá K, bà Lại Thị L; Hợp đồng chuyển nhượng đất giữa chị Đỗ Thị T1 và vợ chồng ông Phan Bá K, bà Lại Thị L về việc chuyển nhượng thửa đất diện tích 360m² tại địa chỉ: Khu V Gò Bà T, thôn I, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội là hợp pháp.
- Công nhận cho bà được quyền sử dụng hợp pháp thửa đất số số 34, tờ bản đồ số 03 (bản đồ đo đạc địa chính), diện tích đo thực tế là 472,6m²; địa chỉ: Khu V Gò Bà T, thôn I, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Thửa đất có nguồn gốc của bà Đỗ Thị T1 được UBND xã T (nay thuộc xã T) cấp ngày 01/7/1994.
- Yêu cầu bà Nguyễn Thị O, ông Nguyễn Mạnh H1 giao trả bà bản gốc Biên bản cắm đất làm nhà ở và sản xuất lập ngày 01/7/1994.
Đối với yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Mạnh H1, bà thấy không có căn cứ. Vì ông K không bán đất cho bà O, mà chỉ thế chấp để vay tiền nên đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu của bà O, ông H1.
* Bị đơn là ông Phan Bá K trình bày:
Khoảng năm 2010, vợ chồng ông có mua thửa đất số 34, tờ bản đồ số 03, diện tích 360m² địa chỉ: Thôn 1, xã T, huyện T, Hà Nội của ông Phùng Đình T3 với giá 530.000.000 đồng. Khi giao dịch chuyển nhượng ông Phùng Đình T3 có nói cho ông biết nguồn gốc thửa đất này là của bà Đỗ Thị T1 (có địa chỉ xã B, huyện T) được UBND xã T cấp, sau đó bà T1 chuyển nhượng cho ông T4 ở thôn T, xã P. Ông T3 có cho ông xem giấy tờ gốc của thửa đất (“Biên bản cắm đất làm nhà ở và sản xuất”) và Giấy chuyển nhượng đất giữa bà T1 và ông T4. Do ông không nhận chuyển nhượng trực tiếp từ chủ đất (bà T1) nên ông có yêu cầu ông T3 phải làm giấy tờ mua bán trực tiếp từ chủ đất là bà T1.
Sau khi thỏa thuận xong thì ông có đặt cọc cho ông T3 50.000.000 đồng, khi nào ông T3 làm xong giấy chuyển nhượng từ chủ cũ sang tên cho vợ chồng ông thì ông trả nốt tiền (ông đặt cọc cho ông T3 ngày 25/01/2010). Sau đó, khoảng 4 ngày thì ông T3 đã làm xong thủ tục giấy tờ chuyển nhượng từ bà T1 chủ đất sang tên vợ ông là bà Lại Thị L. Do thửa đất này chưa xác định được có nằm trong quy hoạch hay không nên cán bộ xã T hướng dẫn làm Hợp đồng ủy quyền mục đích nếu nằm trong quy hoạch thì bên mua (vợ chồng ông) sẽ được hưởng tiền bồi thường hỗ trợ khi thu hồi đất cho nên ông đã đồng ý làm theo thủ tục Hợp đồng ủy quyền với nội dung bà T1 ủy quyền cho bà L được toàn quyền sử dụng thửa đất trên. Ngày 29/01/2010 ông T3 bảo vợ chồng ông đến UBND xã T để ký Hợp đồng chuyển nhượng. Tại buổi hôm đó có mặt ông T3, vợ chồng ông và đại diện UBND xã T. Ông T3 đã đưa cho vợ chồng ông 03 bản “Giấy ủy quyền” ghi ngày 29/01/2010 trong đó: Có 01 bản có chữ ký gốc của ông Đào Xuân V (cán bộ địa chính xã T), ông Nguyễn Văn N (Phó chủ tịch xã), ông Hoàng Thế L3 (bố của bà T1) và bà Đỗ Thị T1; 02 bản phô tô nhưng chưa đóng dấu (Bà T1 và ông L3 đã ký vào giấy ủy quyền trước). Bà Lại Thị L đã ký vào 03 bản Giấy ủy quyền xong thì UBND xã đóng dấu và giao cho ông 01 bản chính (chữ viết, chữ ký gốc), còn hai bản còn lại chỉ có chữ ký gốc của bà L còn các chữ ký, chữ viết là phô tô và đóng dấu đỏ thì giao cho bên chuyển nhượng là bà T1 và 01 bản lưu tại UBND xã T.
Năm 2011, ông đã chuyển nhượng thửa đất trên cho bà H với giá 1.550.000.000 đồng, vợ chồng ông có viết giấy chuyển nhượng cho bà H. Bà H đã thanh toán cho ông số tiền là 1.100.000.000 đồng tiền mặt, còn lại 450.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận khi nào bà H làm thủ tục kê khai làm sổ đỏ thì ông sẽ giao lại cho bà H “Biên bản cắm đất làm nhà ở và sản xuất” bản gốc và bà H trả nốt số tiền còn lại (hai bên không thỏa thuận thời gian cụ thể). Tháng 9 năm 2015, do cần tiền nên ông đã gọi cho bà H để yêu cầu bà H thanh toán nốt số tiền còn lại (450.000.000 đồng). Thời điểm đó bà H đi Hàn Quốc không có nhà nên ông thỏa thuận qua điện thoại với bà H là ông sẽ sử dụng “Biên bản cắm đất làm nhà ở và sản xuất” (bản gốc) để thế chấp vay số tiền 450.000.000 đồng và bà H đồng ý cho ông thế chấp giấy tờ gốc của thửa đất để vay đúng số tiền mà bà H còn nợ ông. Sau đó, ông đã thế chấp “Biên bản cắm đất làm nhà ở và sản xuất” (bản gốc) của thửa đất này cho bà Nguyễn Thị O để vay số tiền 450.000.000 đồng, chị O yêu cầu ông phải đưa đến xem đất và gặp chủ đất. Sau đó, ông đã đưa bà O đến nhà anh T6 ở xã Đ để nhờ anh T6 đưa bà O và ông đến nhà bà T1 để bà T1 xác nhận thửa đất này đã bán cho ông để bà O tin tưởng nhận thế chấp. Khi anh T6 đưa ông và bà O đến nhà bố mẹ bà T1 thì chỉ gặp bố mẹ bà T1 chứ không gặp được bà T1.
Tại nhà bà T1, ông có giới thiệu với ông L3 (bố đẻ bà T1) ông là K và nhờ ông L3 xác nhận là đất của bà T1 đã bán cho ông. Sau đó, luật sư của bà T1 đã tiếp xúc và trao đổi với ông L3 như thế nào ông không biết, ông có thấy luật sư của bà O đưa cho ông L3 bản Hợp đồng, nội dung như thế nào ông không biết vì ông không được xem. Mục đích của ông đưa bà O đến gặp gia đình bà T1 để bà O biết thửa đất ông thế chấp cho bà O là của ông đã mua để bà O tin tưởng và cho ông vay tiền. Ông có nói với bà O là làm thế nào thì làm để đảm bảo cho việc bà O cho ông vay tiền chứ ông không thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất cho bà O. Vì nếu ông bảo bà T1 làm hợp đồng chuyển nhượng sang tên cho bà O thì ông phải đưa trả bà T1 Giấy ủy quyền lập ngày 29/01/2010 mà bà T1 đã viết cho vợ ông, có xác nhận của UBND xã T để hủy bỏ. Tại nhà bố mẹ bà T1 thì bố mẹ bà T1 xác nhận với bà O là đất này của ông bà (bố mẹ bà T1) cho bà T1 sau đó chuyển nhượng đến giờ ông K là chủ thửa đất. Ông chỉ đưa bà O đến gặp gia đình bà T1 (bố mẹ bà T1) để làm xác nhận ông là chủ đất một lần, ngoài ra ông không đến lần nào nữa. Bà T1 ông chưa gặp bao giờ, đến thời điểm hiện tại ông cũng chưa gặp bà T1.
Tháng 12/2016, ông có đem ra trả bà O 150.000.000 đồng, bà O nhận hôm sau bà O đã chuyển số tiền đó vào tài khoản của Công ty T9 (công ty của gia đình bà O) và bà O chụp giấy chuyển tiền đó cho ông. Đến tháng 11/2017, bà H trả ông số tiền 450.000.000 đồng, thì ông đã chuyển trả số tiền đó cho bà O qua Ngân hàng, bà O không nhận và đã chuyển trả lại ông, năm 2019 bà O tố cáo ông bán đất cho hai người ra Công an huyện T để xử lý ông về tội lừa đảo. Ngày Công an huyện T đã ra quyết định không khởi tố vụ án vì ông không phạm tội.
Ông không bán đất cho bà O, bà T1 cũng không bán đất cho bà O, việc bà T1 ký Hợp đồng chuyển nhượng đất cho bà O là giả tạo và ký theo yêu cầu của bà O chứ không phải ông đề nghị bà T1 ký. Nếu ông bán đất cho bà O thì vợ chồng ông phải viết giấy chuyển nhượng và giao lại cho bà O giấy ủy quyền của bà T1 và khi bà T1 ký giấy chuyển nhượng cho bà O thì phải hủy bỏ giấy ủy quyền đó thì bà T1 mới có quyền ký giấy chuyển nhượng cho người khác. Do vậy, ông đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H và bác yêu cầu của bà O. Đối với số tiền 450.000.000 đồng ông vay của bà O thì ông có trách nhiệm trả lại bà O.
* Bị đơn là bà Lại Thị L trình bày: Năm 2010, vợ chồng bà có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 34, tờ bản đồ số 03, diện tích 360m²; địa chỉ: Thôn I, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội của ông T4 ở thôn T, xã P, huyện T với giá 530.000.000 đồng (thửa đất này trước đây thuộc xã T). Thửa đất này có nguồn gốc của bà Đỗ Thị T1, bà T1 đã bán thửa đất này cho ông T4. Vợ chồng bà mua thửa đất này qua người môi giới là ông Phùng Đình T3, không gặp và mua trực tiếp với ông T4 (chủ đất) nên bà có yêu cầu phải ký hợp đồng chuyển nhượng với chính chủ đất là bà T1. Sau khi thống nhất giá cả thì bên môi giới họ đồng ý làm lại giấy tờ mua bán từ bà T1 sang tên bà (Lại Thị L), mọi thủ tục giấy tờ, ký tá hợp đồng là do bên môi giới thực hiện, bà không gặp gỡ bà T1 và cũng không soạn hợp đồng. Sau khi thống nhất xong thì bà đặt cọc cho ông Phùng Đình T3 số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Số tiền còn lại là 480.000.000 đồng bà đã trả hết cho (chủ đất) và nhận lại toàn bộ giấy tờ của thửa đất gồm: “Biên bản cắm đất làm nhà ở và sản xuất” ngày 01/7/1994 của UBND xã T cấp cho bà Đỗ Thị T1; Giấy ủy quyền ghi ngày 29/01/2010 có xác nhận của chính quyền xã T.
Đến ngày 01/8/2011, vợ chồng bà thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất trên cho bà Phan Thị H với giá là 1.550.000.000 đồng, bà H đã trả cho vợ chồng bà số tiền là 1.100.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền là 450.000.000 đồng khi nào UBND xã T cho kê khai để làm sổ đỏ thửa đất nêu trên thì bà H phải thanh toán nốt. Vợ chồng bà đã giao cho bà Hoa giấy ủy quyền của bà T1 ghi ngày 29/01/2010 (bản gốc), và giữ lại “Biên bản cắm đất làm nhà ở và sản xuất” ngày 01/7/1994 của UBND xã T cấp cho bà Đỗ Thị T1 khi nào bà H trả hết tiền thì bà giao trả bà H. Bà đã bàn giao đất cho bà H sử dụng ngay sau khi ký thỏa thuận chuyển nhượng.
Năm 2018, bà Nguyễn Thị O có đơn kiện vợ chồng bà (ông K) ra Công an huyện T. Bà O cho rằng vợ chồng bà lừa bán đất cho bà O. Thực tế bà không quen biết bà O, bà không biết bà O có mối quan hệ như thế nào với ông K (chồng bà), bà chưa bao giờ thỏa thuận bán đất cho bà O và cũng không nhận bất cứ đồng nào của bà O. Chỉ khi Công an huyện T triệu tập bà ra để làm việc thì bà mới biết năm 2015 chồng bà là ông K có vay tiền của bà O, số tiền vay là 450.000.000 đồng và có giao cho bà O “Biên bản cắm đất làm nhà ở và sản xuất” ngày 01/7/1994 của UBND xã T cho bà Đỗ Thị T1 để làm tin. Số tiền ông K vay của bà O, ông K sử dụng vào việc gì bà không biết. Việc bà O đến nhờ bà T1 ký hợp đồng chuyển nhượng đất như thế nào bà không biết, bà không nhờ bà T1 ký lại hợp đồng sang tên cho bà O. Bản thân bà chưa gặp bà T1 lần nào.
Ngày 15/11/2017, bà H đã trả cho vợ chồng bà số tiền còn thiếu là 450.000.000 đồng để lấy giấy tờ gốc về làm sổ đỏ, nhưng do giấy đó hiện bà O đang giữ nên vợ chồng bà chưa giao được cho bà H.
Nay bà H khởi kiện yêu cầu công nhận hợp đồng và công nhận quyền sử dụng thửa đất trên là thuộc quyền sử dụng của bà H, bà đồng ý và đề nghị Tòa án công nhận cho bà H được toàn quyền sử dụng thửa đất trên vì việc mua bán giữa vợ chồng bà với bà H đã thực hiện xong và bà H đã quản lý sử dụng thửa đất từ khi nhận chuyển nhượng cho đến nay. Bà khẳng định không có việc vợ chồng bà chuyển nhượng thửa đất cho bà O. Vì vậy, bà yêu cầu bà O trả lại cho bà giấy tờ gốc của thửa đất để bà bàn giao cho bà H.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Mạnh H1 trình bày: Vợ chồng bà quen biết với ông Phan Bá K từ năm 2014, năm 2015 ông K nói có mảnh đất ở L- H muốn bán và nhờ bà giới thiệu người mua. Sau đó, do không có người mua nên ông K gạ vợ chồng bà và vợ chồng bà đã đồng ý mua thửa đất số 34, tờ bản đồ số 03, diện tích 360m² địa chỉ: Thôn I, xã T, huyện T, Hà Nội của ông K với giá chuyển nhượng là 500.000.000 đồng. Để thuận lợi cho việc làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau này, vợ chồng bà có đề nghị ông K đưa bà đến gặp chủ thửa đất nêu trên là bà Đỗ Thị T1 để xác lập lại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất. Ngày 24/9/2015, tại gia đình bà T1, bà cùng ông K, ông T6 và một người ở xã T, Luật sư Nguyễn Thị Hải Y và bà Đỗ Thị T1 làm thủ tục ký kết hợp đồng chuyển nhượng đối với thửa đất trên, sau đó ông K đã bàn giao đất, giấy tờ gốc cho vợ chồng bà và vợ chồng bà giao cho ông K 50.000.000 đồng (cùng ngày 24/9/2015). Ngày 25/9/2015 bà đã chuyển số tiền 450.000.000 cho ông K qua Ngân hàng.
Ngày 19/5/2017, bà nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại nhà ông N1 trưởng thôn 9 (nay là thôn D) thì được ông N1 cho biết là bà Phan Thị H cũng nộp hồ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất mà bà đã mua của ông K.
Ngày 15/11/2017, ông K đã chuyển tiền trả lại bà 450.000.000 đồng qua Bưu điện chợ Mơ ghi rõ nội dung “trả tiền mua bán đất 360m² tại H theo Hợp đồng ký ngày 24/09/2015 giữa bà Đỗ Thị T1 và bà Nguyễn Thị O” nhưng bà mua đất, không phải nhận thế chấp của ông K nên bà không nhận lại tiền ông K gửi.
Việc mua bán đất giữa bà và ông K đã được lập lại Hợp đồng chuyển nhượng từ bà T1 (chủ đất cũ) sang cho bà và bà đã quản lý sử dụng thửa đất từ đó cho đến nay, bà T1 không liên quan đến thửa đất đã chuyển nhượng cho vợ chồng bà (O, H1). Do vậy, bà H khởi kiện đòi đất từ ông K, bà L là không đúng bản chất sự việc. Vì vậy, ông H1, bà O đề nghị Tòa án giải quyết:
- Bác tất cả các yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị H.
- Bác tất cả các yêu cầu (nếu có) của gia đình ông K, bà L, gia đình ông T4 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến thửa đất nói trên.
- Đề nghị Tòa án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất nói trên giữa bà Đỗ Thị T1 và vợ chồng bà lập ngày 24/9/2015.
- Công nhận vợ chồng bà (O, H1) được quyền quản lý, sử dụng hợp pháp thửa đất nói trên tính từ ngày ký giấy chuyển nhượng 24/9/2015.
- Vợ chồng bà được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Ghi nhận gia đình bà T1 không còn bất cứ quyền lợi, nghĩa vụ gì đối với thửa đất kể từ ngày ký giấy chuyển nhượng 24/9/2015 và bàn giao thửa đất cho vợ chồng bà.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hoàng Thị Hồng T2 (Đỗ Thị T1) trình bày: Thửa đất Gò Bà Tề (nay là thửa đất số 34, tờ bản đồ số 03, diện tích 360m² địa chỉ: Thôn I (nay là thôn D), xã T, huyện T, Hà Nội là của gia đình bà được UBND xã T (nay là xã T) cấp năm 1994. Thửa đất này thực ra là của bố mẹ bà (ông L3, bà C) mua của UBND xã T và cho bà đứng tên nên không liên quan đến chồng bà (ông D). Năm 1994, bố mẹ bà đã chuyển nhượng thửa đất trên cho ông T4 (ở T, xã P, huyện T, thành phố Hà Nội), bố mẹ bà đã bàn giao đất và giấy tờ đất cho ông T4. Đến năm 2010, ông K mua lại thửa đất của ông T4 (qua môi giới). Sau đó, ông V (địa chính xã T) có đến nhà bà ký lại giấy chuyển nhượng đất để bên mua (ông K) tiện làm sổ đỏ. Bà đã ký vào giấy ủy quyền với nội dung bàn giao toàn bộ cho bà L (vợ ông K) được quyền quản lý, định đoạt mảnh đất trên. Giấy ủy quyền đó do ông V soạn và đưa cho bà ký. Khi bà ký Giấy ủy quyền cho bà L sử dụng đất bà đã thu lại giấy gốc bán đất cho ông T4 và gia đình bà đã hủy bỏ giấy đó.
Đến năm 2015, bà O cùng một số người đến gặp gia đình bà để nhờ ký lại Hợp đồng chuyển nhượng mảnh đất Gò bà Tề. Đi cùng bà O có một nhóm người, theo bà O giới thiệu thì có ông K cùng với một luật sư ở đó (bà không biết đó có chính xác là ông K hay không vì bà chưa gặp ông K bao giờ). Bà O có mang một bản hợp đồng chuyển nhượng đã soạn sẵn và nhờ bà ký. Gia đình bà đã yêu cầu bà O trả lại giấy ủy quyền đã ký cho bà L để gia đình bà hủy bỏ. Tuy nhiên, bà O xin khuất để đợt sau đem lên và giới thiệu có ông K là chủ đất ở đây nên gia đình bà tin tưởng đã ký vào giấy chuyển nhượng do bà O soạn sẵn. Thực tế ông K và bà O không mua bán gì với gia đình bà, gia đình bà cũng không nhận tiền của ông K, bà O và cũng không bàn giao giấy tờ và thửa đất cho ông K, bà O. Gia đình bà chỉ bán thửa đất Gò Bà Tề cho ông T4 sau đó ông T4 bán cho ông K, bà L. Việc bà ký lại giấy ủy quyền cho bà L là do ông T4 đã chuyển nhượng lại thửa đất cho ông K, bà L; việc bà ký lại Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất cho bà O chỉ là ký hộ để giúp bên mua hoàn thiện thủ tục sang tên chứ không giao dịch trực tiếp với ông K cũng như bà O. Nay gia đình bà đã bán thửa đất nên không có quyền lợi gì liên quan đến thửa đất (Gò Bà T). Bà đã ký giấy ủy quyền cho bà L nên bà L bán cho ai thì người đó được quyền sử dụng. Bà không đồng ý với yêu cầu của bà O về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng thửa đất vì thực tế bà không bán đất cho bà O. Bà O đã lợi dụng sự tin tưởng của gia đình bà để bà ký vào Hợp đồng chuyển nhượng mà không hề trả lại gia đình bà giấy mà bà đã ủy quyền cho bà L nên mới xảy ra tranh chấp. Do vậy, bà đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà O, đề nghị Tòa án hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng mà bà đã ký cho bà O vì Hợp đồng này là giả tạo.
- Bà Trương Thị C trình bày: Bà là mẹ đẻ bà Đỗ Thị T1. Nguồn gốc thửa đất G Tề mà bà H đang khởi kiện là của vợ chồng bà (ông Đỗ Hoàng L4 đã chết năm 2021) mua của UBND xã T, vợ chồng bà ghi tên con gái là Đỗ Thị T1 nên UBND xã đã ghi tên chủ sử dụng đất là Đỗ Thị T1 trong biên bản cắm đất làm nhà ở, thửa đất có diện tích 360m² tại khu G (nay thuộc thôn D, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội). Do không có nhu cầu sử dụng nên sau khi được giao đất (khoảng năm 1994) vợ chồng bà đã chuyển nhượng thửa đất đó cho ông T4 ở T (hiện ông T4 đã chết) với giá 25 triệu đồng, gia đình bà đã nhận đủ tiền và viết giấy chuyển nhượng cho ông T4.
Năm 2010, ông V là cán bộ địa chính xã T là người môi giới có đến gặp gia đình bà xin lại chữ ký chính chủ, ký giấy ủy quyền cho bà Lại Thị L được toàn quyền sử dụng thửa đất. Ông V nói với gia đình bà là ông T4 đã chuyển nhượng thửa đất này cho ông K, bà L, thực tế gia đình bà chưa gặp ông K, bà L. Do ông V đưa lại cho gia đình bà giấy chuyển nhượng cho ông T4 ở T nên bà đồng ý và bảo con gái là T1 ký giấy ủy quyền (thực chất là chuyển nhượng đất) cho ông K, bà L, sau đó ông V đến trường học (nơi bà T1 dạy học) gặp bà T1 để ký lại Giấy ủy quyền như thế nào bà không biết. Giấy tờ chuyển nhượng đất cho ông T4 thì gia đình bà đã hủy bỏ.
Khoảng năm 2015, bà O cùng chồng và một số người đến nhà bà nhờ ký lại Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất đó sang tên cho bà O, do bà O nói đã mua lại thửa đất của bà L, ông K. Bà O giới thiệu những người đi cùng gồm: Vợ chồng bà O, 01 luật sư, 01 nhà báo, 01 công an xã và một người đàn ông tên K. Bà O đưa ra Hợp đồng chuyển nhượng đất đã soạn sẵn nhờ gia đình bà ký, vợ chồng bà đã yêu cầu bà O đưa lại trả gia đình bà giấy tờ gia đình bà đã ký lại bán cho ông K, bà L (giấy ủy quyền) nhưng bà O bảo quên không mang và hẹn vài ngày sau sẽ trả nhưng cũng không trả. Do bà O nói hôm nay có mặt ông K là chủ đất hiện tại ở đây nên gia đình bà tin tưởng, bà O cũng đưa ra “Biên bản cắm đất làm nhà ở và sản xuất” bản gốc cho gia đình bà xem, gia đình bà đã tin tưởng là ông K đã bán lại thửa đất cho bà O nên đã đồng ý để cho bà T1 ký lại Hợp đồng chuyển nhượng đất sang tên cho bà O. Gia đình bà ký hợp đồng để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứ thực tế gia đình bà không trực tiếp giao dịch mua bán chuyển nhượng với bà O và cũng không nhận bất cứ khoản tiền nào của bà O.
Nay gia đình bà mới biết bà O đã đến lừa gia đình bà để ký giấy chuyển nhượng làm ảnh hưởng đến uy tín của gia đình bà và ảnh hưởng đến quyền lợi của người khác, đề nghị Tòa án xem xét xử lý hành vi lừa dối của bà O.
Thực tế thì gia đình bà đã chuyển nhượng thửa đất này cho ông T4 nên nay gia đình bà không còn quyền lợi liên quan đến thửa đất và cũng không có tranh chấp đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Ông Phùng Đình T3 trình bày: Nguồn gốc thửa đất đang có tranh chấp giữa bà H với ông K, bà L là của bà Đỗ Thị T1. Bà T1 bán thửa đất này cho ông T4 ở T, sau đó ông T4 chuyển nhượng đất cho một số người nữa.
Khoảng năm 2010, ông được biết chủ thửa đất này muốn bán nên ông giới thiệu cho ông K mua thửa đất này. Ông K yêu cầu ông làm giấy chuyển nhượng từ chính chủ đất sang tên bà L (vợ ông K) thì mới mua. Ông K đặt cọc cho ông 50.000.000 đồng và ông có viết giấy biên nhận tiền cho ông K. Sau đó, ông đã đến gặp bà T1 (chủ đất cũ) và bảo làm giấy chuyển nhượng thẳng từ bà T1 sang cho bà Lại Thị L (vợ ông K), trước khi viết giấy sang tên cho bà L, ông đã đưa cho bà T1 toàn bộ giấy tờ mua bán chuyển nhượng của những người mua trước (bản gốc) và bà T1 đã hủy bỏ giấy tờ mua bán đất cho ông T4, ông không biết rõ tên tuổi, địa chỉ của ông T4 hiện ở đâu. Ông và ông L4 (bố bà T1) đến trường gặp bà T1 để ký giấy ủy quyền (bản chất là chuyển nhượng) cho bà Lại Thị L. Tiền mua đất ông K, bà L trả ông đã chuyển trả cho chủ đất mà ông giới thiệu, bà T1 không nhận tiền gì của ông K, bà L mà chỉ ký chuyển nhượng sang tên thẳng để bớt các bước trung gian vì trước đó thửa đất này đã mua đi bán lại cho nhiều người (ông không nhớ chính xác là những ai). Bà T1 chỉ nhận tiền từ ông T4 ở T. Sau khi hoàn tất thủ tục sang tên từ bà T1 sang bà L, ông đã trả toàn bộ giấy tờ cho ông K. Nay ông không liên quan đến thửa đất này nữa nên ông từ chối tham gia tố tụng. Đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Minh T5 và cụ Chu Thị S trình bày: Ông Cấn Văn T4, sinh năm 1959 (đã chết năm 2005); Bố ông T4 đã chết, mẹ là cụ S 96 tuổi hiện đang cư trú tại thôn T, xã P, huyện T, thành phố Hà Nội, vợ là Nguyễn Thị Minh T5 và hai con là Cấn Đình L1, Cấn Thị L5 (hiện đang cư trú tại chung cư N, H). Khoảng năm 1994, ông T4 có mua thửa đất của bà Đỗ Thị T1, việc mua bán như thế nào bà không biết và thửa đất nhận chuyển nhượng ở đâu bà cũng không biết. Do ông T4 chết đột ngột nên không nói cho vợ con biết việc mua bán này và ông T4 cũng không để lại giấy tờ gì liên quan đến việc mua bán thửa đất mà bà H đang có tranh chấp. Việc ông T4 mua bán thửa đất này không trao đổi với bà nên bà không biết hiện nay thửa đất này đã bán hay chưa. Nay bà cũng không có giấy tờ gì liên quan đến việc mua và bán thửa đất do vậy bà không có quyền lợi liên quan đến thửa đất nên bà từ chối tham gia tố tụng, từ chối nhận văn bản tố tụng đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
* Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Xuân V1 trình bày: Khoảng năm 2010, ông Nguyễn Văn N – Phó chủ tịch xã T có bảo ông đến gặp ông Hoàng Thế L3 (bố đẻ bà Đỗ Thị T1) để gia đình ông L3 ký giấy ủy quyền sử dụng thửa đất số 34, tờ bản đồ số 03, diện tích 413,4m² địa chỉ: Khu G, Thôn 1, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội (trước thuộc xã T) cho bà Lại Thị L. Trước đó, bà T1 đã ủy quyền cho ông T4 ở T, ông T4 ủy quyền lại cho bà L nên đã làm giấy ủy quyền thẳng từ bà T1 cho bà L để không mất nhiều bước thủ tục. Sau khi gia đình ông L3 đồng ý làm giấy ủy quyền thẳng sang cho bà L, ông đã soạn giúp giấy ủy quyền ngày 29/01/2010 giữa bà Đỗ Thị T1 cho bà Lại Thị L rồi cùng ông L3 đến cổng trường bà T1 đang dạy học để cho bà T1 ký, khi bà T1 ký giấy ủy quyền thì chỉ có mặt bà T1, ông L3 (bố bà T1), ông (V1) không có mặt ông K, bà L, ông T4 đi cùng. Sau khi làm giấy ủy quyền xong thì ông bàn giao cho ông N tại nhà ông L3,ông T4 bàn giao lại Giấy ủy quyền của bà T1 viết cho ông T4 để ông L3 hủy bỏ. Đến khoảng năm 2019 -2020 thì ông được biết thửa đất này có tranh chấp, nghe ông L3 nói qua về nội dung tranh chấp và lý do ký vào hợp đồng chuyển nhượng là có người nhờ gia đình ký lại để làm thủ tục cấp sổ đỏ chứ không biết là ký để chuyển nhượng cho người khác.
- Ông Dương Hồng N1 trình bày: Ông là trưởng thôn 4, xã T từ năm 2015 cho đến nay. Nguồn gốc thửa đất đang có tranh chấp trước đây là do UBND xã T quản lý. Năm 1994 thành lập xã T thì xã T bàn giao cho xã T quản lý. Trước khi bàn giao thì UBND xã T đã cấp đất cho các hộ dân, thửa đất đang có tranh chấp cấp cho ai thì ông không biết.
Năm 2017, UBND thành phố H có chủ trương thống kê, đo vẽ sơ đồ để quản lý, ông trực tiếp là người dẫn đạc và tìm xem chủ sử dụng là ai thì bà H đem giấy tờ mua bán đất đến gặp ông để đăng ký kê khai quyền sử dụng đất thửa số 61, tờ bản đồ số 9 (lập năm 2018 chưa được U), sau khi tiếp nhận tài liệu ông đã vào sổ tờ bản đồ số 9. Sau đó, ông thấy bà Nguyễn Thị O cũng cầm giấy tờ chuyển nhượng gặp ông để kê khai thì ông mới biết thửa đất này có tranh chấp. Từ trước năm 2015 ai là người sử dụng thửa đất này thì ông không biết, từ năm 2017 đến nay thì ông được biết bà H là người xây tường bao và trực tiếp quản lý thửa đất.
- Bà Trần Thị M1 trình bày: Nhà bà ở đối diện thửa đất tranh chấp giữa bà H và bà O. Nguồn gốc thửa đất này là của ai bà không biết. Cách đây khoảng 10 năm thấy đất bỏ hoang thì bà có trồng rau, trồng chuối, không thấy ai đến nói gì. Khoảng năm 2017, bà thấy địa chính đến đo đạc, sau đó anh K1 (cháu bà H) đến xây tường bao và không cho bà trồng rau trên thửa đất. Khoảng năm 2016, bà có thấy vợ chồng bà O đến hỏi bà ai trồng rau canh tác ở đây thì bà trả lời là đất bỏ hoang nên bà tự trồng, bà O cũng không nhờ bà trông nom thửa đất, không cho số điện thoại, sau đó thỉnh thoảng bà có thấy bà O đến đó nhưng cũng không trò chuyện, gửi gắm gì bà. Khi bà trồng cây trên đất thì thửa đất đã xây móng, không có tường bao, đến năm 2017 thì anh K1 xây tường bao xung quanh như hiện nay. Thực tế bà không được ai gửi gắm trông nom thửa đất này.
- Tại bản tự khai ngày 14/8/2023, bà Nguyễn Thị Hải Y trình bày: Ngày 24/9/2015, bà có tư vấn cho bà O về việc công chứng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tại Văn phòng C2 bà đã gặp bà O, ông K, bà O đã đưa cho bà xem 01 giấy ủy quyền có nội dung bà T1 ủy quyền cho bà Lại Thị L sử dụng thửa đất ở T và một biên lai giao đất mang tên Đỗ Thị T1. Sau khi xem xong bà có tư vấn cho bà O là chưa thể làm thủ tục chuyển nhượng được vì thửa đất này chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (không làm thủ tục mua bán công chứng), bà có hướng dẫn bà O về nhà bà T1 là người được giao đất để làm giấy chuyển nhượng từ bà T1 sang cho bà O sau đó ra UBND xã làm thủ tục. Bà O có nhờ bà đi cùng đến nhà bà T1 ở T làm chứng cho việc bà T1 ký giấy chuyển nhượng thửa đất. Sau đó bà đi cùng bà O, ông K đến nhà bà T1, khi đến nhà bà T1 thì bà O và ông K vào trước nói chuyện, bà vào sau. Bà đã giải thích cho bà T1 và bố mẹ bà T1 về giấy chuyển nhượng mà bà O nhờ bà làm chứng, bà T1 và bố mẹ bà T1 đồng ý, bà T1 còn cam kết khi nào làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà T1 sẽ hỗ trợ về mặt thủ tục cho chị O. Sau đó, bà đã đọc và đưa giấy tờ cho gia đình bà T1 ký vào bên chuyển nhượng và bố mẹ bà T1 ký xác nhận bên dưới với tư cách là người làm chứng. Sau khi gia đình bà T1 ký xong bà có yêu cầu ông K viết một giấy cam kết với nội dung ông K và bà L là người được ủy quyền sử dụng thửa đất cam kết thửa đất trên không có tranh chấp và không mua bán với ai, nếu có bất kỳ điều gì gian dối thì ông K, bà L phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật, ông K đã viết giấy cam kết và ký tên điểm chỉ ngay tại nhà bà T1, trước mặt tất cả mọi người, bà có yêu cầu trên đường về vào nhà ông K để lấy chữ ký của bà L. Sau khi ký xong giấy tờ trên đường về thì anh T6 có chỉ vào một thửa đất và nói đây là thửa đất đấy (thửa đất vừa ký hợp đồng chuyển nhượng). Trước khi về bà đã nhắc bà O phải lấy cam kết có đầy đủ chữ ký của ông K và bà L là những người được ủy quyền sử dụng đất.
- Anh Nguyễn Đình K1 trình bày: Ông là cháu ruột của bà Phan Thị H. Khoảng năm 2016 - 2017 bà H có nhờ anh xây tường bao xung quanh thửa đất số 34. Theo anh được biết thửa đất này bà H mua của ông K, bà L năm 2011, sau khi mua xong thì bà H có nhờ anh trông nom thửa đất, khi bà H mua thì thửa đất đã xây móng bằng gạch đá ong, trên đất có một nhà cấp 4 nhỏ, sau đó bà H xây tường bao bằng gạch ba banh, đến khoảng năm 2013, 2014 nhà và tường bao bị đổ nên năm 2017, bà H nhờ anh xây lại tường bao như hiện nay.
Tại Công văn số 127/UBND ngày 24/8/2023, UBND xã T cung cấp như sau: Nguồn gốc thửa đất số 34, tờ bản đồ số 03, diện tích 413,8m²; địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, do UBND xã T giao cho bà Đỗ Thị T1, có tên bà Đỗ Thị T1 trong danh sách bàn giao từ xã T vào xã T năm 1994. Theo sổ mục kê đo đạc bản đồ phục vụ công tác giải phòng mặt bằng dự án Công nghệ cao Hòa Lạc thửa đất trên đứng tên bà Nguyễn Kim C1.
Bà Đỗ Thị T1 có ủy quyền cho bà Lại Thị L được UBND xã xác nhận ngày 29/10/2010. Bà Phan Thị H đã đóng thuế, phí nông nghiệp từ năm 2011, 2012, 2013. Năm 2018 đo đạc bản đồ hiện trạng được thể hiện tại thửa số 61, tờ bản đồ số 9. Thửa đất này hiện nay nằm ngoài quy hoạch khu Công nghệ cao Hòa Lạc.
UBND xã T kiến nghị Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất xem xét giải quyết theo quy định hiện hành nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Nguồn gốc thửa đất đang có tranh chấp là của chị Đỗ Thị T1 được UBND xã T cấp năm 1994, ngày 24/9/2015 bà T1 đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị O. Bà O tuy không trực tiếp nhận chuyển nhượng từ bà T1 nhưng đã được bà T1 (là chủ đất) ký chuyển nhượng. Đối với bà H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông K, bà L mà theo giấy ủy quyền thì bà T1 chỉ ủy quyền cho bà L quản lý sử dụng chứ không có quyền định đoạt (chuyển nhượng). Mặt khác, Giấy chuyển nhượng đất giữa bà H và ông K không hợp pháp vì không ghi rõ số tiền chuyển nhượng, quá trình giải quyết tranh chấp ông K, bà L, bà H khai không đồng nhất về giá chuyển nhượng và số tiền bà H đã trả cho ông K, đối với giấy thỏa thuận ngày 15/11/2017 bà H và ông K viết khi đã xảy ra tranh chấp và việc bà H xây tường bao cũng xây vào thời điểm đã xảy ra tranh chấp. Do vậy, không có căn cứ để xác định việc bà H nhận chuyển nhượng của ông K, bà L vì giấy tờ chuyển nhượng được lập sau khi đã phát sinh tranh chấp (lập ngày 15/11/2017) nên Hợp đồng chuyển nhượng giữa vợ chồng ông K và bà H là không hợp pháp. Nay bà T1 từ chối quyền lợi liên quan đến thửa đất nên thửa đất thuộc quyền sử dụng của bà O. Đề nghị HĐXX bác yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị H và chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị O, ông Nguyễn Mạnh H1.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 151/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, Hà Nội đã xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị H đối với ông Phan Bá K, bà Lại Thị L.
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Mạnh H1.
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đỗ Thị T1 (Hoàng Thị Hồng T2) và bà Nguyễn Thị O lập ngày 24/9/2015, về việc chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 34, tờ bản đồ số 03, diện tích 472,6m², địa chỉ: Thôn D (thôn I cũ), xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội vô hiệu.
- Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 01/8/2010 giữa ông Phan Bá K và bà Lại Thị L với bà Phan Thị H về việc chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 34, tờ bản đồ số 03, diện tích 472,6m², địa chỉ: Thôn D (thôn I cũ), xã T, huyện T, thành phố Hà Nội có hiệu lực pháp luật.
- Công nhận bà Phan Thị H và ông Đỗ Văn M được quyền sử dụng thửa đất số 34, tờ bản đồ số 03, diện tích 472,6m², địa chỉ: Thôn D (thôn I cũ), xã T, huyện T, thành phố Hà Nội (có hồ sơ trích đo hiện trạng thửa đất kèm theo).
- Buộc bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Mạnh H1 giao trả bà Phan Thị H bản gốc “Biên bản cắm đất làm nhà ở và sản xuất” ngày 01/7/1994 do UBND xã T (nay là xã T) cấp cho bà Đỗ Thị T1 (Hoàng Thị Hồng T2).
- Ông Đỗ Văn M và bà Phan Thị H có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 34, tờ bản đồ số 03, diện tích (đo thực tế) 472,6m², địa chỉ: Thôn D (thôn I cũ), xã T, huyện T, thành phố Hà Nội và phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật.
- Ông Phan Bá K có nghĩa vụ trả bà Nguyễn Thị O, ông Nguyễn Mạnh H1 số tiền 450.000.000 đồng (bốn trăm năm mươi triệu đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, bà Nguyễn Thị O ông Nguyễn Mạnh H1 kháng cáo toàn bộ bản án số 151 ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm:
- Xem xét sửa Bản án sơ thẩm theo hướng công nhận vợ chồng ông bà được quyền quản lý sử dụng hợp pháp thửa đất số 34, tờ bản đồ số 3, diện tích 360m² tại khu G, thôn I, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội tính từ ngày ông bà ký hợp đồng (xác lập lại hợp đồng) nhận chuyển nhượng thửa đất từ gia đình bà T2;
- Vợ chồng ông bà được liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật;
- Bác các yêu cầu khởi kiện của gia đình bà H; Bác các yêu cầu tranh chấp, đòi quyền lợi (nếu có) của gia đình ông K, bà L; gia đình ông T4 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến thửa đất nói trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn: giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;
Bị đơn: giữ nguyên lời khai như cấp sơ thẩm;
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Ông H1, bà O giữ nguyên yêu cầu độc lập; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà O trình bày luận cứ và đề nghị bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu độc lập của bà O, ông H1 đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng giữa bà O và bà T2 vô hiệu đề nghị Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Các đương sự không thỏa thuận được cách giải quyết vụ án và không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào khác.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của BLTTDS.
Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, đại diện VKS nhân dân thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 151/2023/DS-ST ngày 29/09/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ kiện, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan có yêu cầu độc lập bà Nguyễn Thị O, ông Nguyễn Mạnh H1 kháng cáo trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo về hình thức là hợp lệ.
[2] Về tố tụng:
Nguyên đơn; Người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan có kháng cáo có mặt; Các đương sự khác vắng mặt không có lý do Hội đồng xét xử xét xử theo quy định của pháp luật.
[3] Về nội dung:
Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- + Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà và vợ chồng ông Phan Bá K, bà Lại Thị L; Hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà Đỗ Thị T1 và vợ chồng ông Phan Bà K2, bà Lại Thị L về việc chuyển nhượng thửa đất diện tích 360m² tại địa chỉ: Khu V Gò Bà T, thôn I (nay là thôn D), xã T, huyện T, thành phố Hà Nội là hợp pháp.
- + Công nhận cho bà được quyền sử dụng hợp pháp thửa đất số số 34, tờ bản đồ số 03 (bản đồ đo đạc địa chính), theo diện tích đo thực tế là 472,6m² ; địa chỉ: Khu V Gò Bà T, thôn I, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.
- + Buộc bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Mạnh H1 giao trả bà Phan Thị H bản gốc “Biên bản cắm đất làm nhà ở và sản xuất” ngày 01/7/1994 do UBND xã T (nay là xã T) cấp cho bà Đỗ Thị T1 (Hoàng Thị Hồng T2).
Nhận thấy: Theo lời khai của các bên đương sự, tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình tố tụng có căn cứ xác định:
Nguồn gốc thửa đất số 34, tờ bản đồ số 03 (bản đồ đo đạc địa chính năm 2001), diện tích đo thực tế là 472,6m²; địa chỉ: Khu V Gò Bà T, thôn I (nay là thôn D), xã T, huyện T, thành phố Hà Nội là của bà Đỗ Thị T1 (Hoàng Thị Hồng T2) được UBND xã T (nay thuộc xã T) cấp ngày 01/7/1994. Năm 1994, bà T2 đã chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Cấn Văn T4, sinh năm 1959 (đã chết năm 2005). Năm 2010, ông Cấn Văn T4 đã chuyển nhượng thửa đất cho ông Phan Bá K và bà Lại Thị L, việc ông K, bà L nhận chuyển nhượng thửa đất thông qua môi giới là ông Phùng Đình T3. Do thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông K có yêu cầu ông T3 phải ký giấy mua bán trực tiếp với chủ cũ là bà Đỗ Thị T1 nên ông T3, ông V1 đã đến nhà ông Hoàng Văn L6 (là bố đẻ bà T1) nhờ bà T1 ký lại giấy chuyển nhượng từ bà T1 sang thẳng tên bà Lại Thị L. Gia đình ông L6 đã đồng ý ký lại giấy chuyển nhượng sang tên người mua là bà Lại Thị L, đồng thời hai bên đã hủy bỏ giấy tờ chuyển nhượng của bà T1 với ông T4.
Xét việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T1, ông T4 và ông T4 sang nhượng cho ông K, bà L khi thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nhận thấy: ông K, bà L không nhận chuyển nhượng trực tiếp từ bà T1, nên hai bên đã hợp thức việc chuyển nhượng bằng hình thức viết giấy ủy quyền (có chứng thực của UBND xã T). Việc chuyển nhượng thửa đất giữa bà T1 và ông T4 và giữa ông T4 và ông K, bà L các bên chuyển nhượng cho nhau bằng giấy viết tay, không vi phạm điều cấm, trên cơ sở tự nguyện nhưng vi phạm hình thức (quy định tại Điều 129 Bộ luật dân sự) tuy nhiên, các bên đã thực hiện xong nghĩa vụ và nay không có tranh chấp nên thửa đất thuộc quyền sử dụng của ông Phan Bá K và bà Lại Thị L theo Điều 233 Bộ luật dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, bà T1, bà C, bà T5 (vợ ông T4) đều thừa nhận đã chuyển nhượng thửa đất và không có tranh chấp. Do vậy, có căn cứ để xác định ông Phan Bá K và bà Lại Thị L là người nhận chuyển nhượng thửa đất này.
Xét Giấy thỏa thuận về việc mua bán đất giữa ông Phan Bá K và bà Lại Thị L thửa đất trên cho bà Phan Thị H:
Nhận thấy: Thửa đất số 34, tờ bản đồ số 03, thì bà T1 được UBND xã giao đất từ năm 1994 và thửa đất không nằm trong quy hoạch khu Công nghệ cao Hòa Lạc, theo quy định tại Điều 101 Luật đất đai (năm 2013) bà T1 đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, sau đó bà T1 đã chuyển nhượng thửa đất cho ông T4, ông T4 chuyển nhượng cho ông K, bà L. Ngày 01/8/2011, ông Phan Bá K và bà Lại Thị L đã chuyển nhượng thửa đất trên cho bà Phan Thị H với giá 1.550.000.000 đồng, hai bên có viết Giấy thỏa thuận về việc mua bán đất. Theo bà H, ông K, bà L trình bày thì bà H đã thanh toán trả cho ông K, bà L 1.100.000.000 đồng, còn nợ lại 450.000.000 đồng nên ông K, bà L giữ lại “Biên bản cắm đất làm nhà ở và sản xuất” ngày 01/7/1994. Khi nào UBND xã T làm thủ tục kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà H có trách nhiệm trả ông K, bà L số tiền còn thiếu là 450.000.000 đồng, ông K, bà L trả lại cho bà Hoa giấy T7 gốc của thửa đất (“Biên bản cắm đất làm nhà ở và sản xuất” ngày 01/7/1994). Năm 2017 UBND xã T đo đạc lập bản đồ thống kê đất đai để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà H đã trả cho ông K, bà L số tiền 450.000.000 đồng để lấy lại giấy tờ gốc để làm thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, do thời điểm đó giấy tờ gốc (Biên bản cắm đất làm nhà ở và sản xuất) do bà O giữ nên ông K không bàn giao cho bà H được.
Xét thấy: Giao dịch chuyển nhượng đất giữa bà T1 và ông T4; giữa ông T4 và vợ chồng ông K, bà L; và bà H đều được ký kết trên cơ sở tự nguyện, nội dung thỏa thuận không trái pháp luật. Tuy nhiên, về hình thức chưa tuân thủ quy định của pháp luật nhưng nay các bên đã thực hiện xong hợp đồng và bà T1 (người được giao đất), người thừa kế của ông T4 (người nhận chuyển nhượng đất của bà T1), ông K, bà L không tranh chấp về quyền sử dụng đối với thửa đất cũng như việc chuyển nhượng. Như vậy, bà H là người được giao quyền sử dụng thửa đất số 34, tờ bản đồ số 03, diện tích 360m² đo thực tế 472,6m² địa chỉ: Thôn D (thôn I cũ), xã T, huyện T, thành phố Hà Nội thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên có quyền sử dụng hợp pháp thửa đất này; Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 223 Bộ luật dân sự năm 2015.
Tuy nhiên cấp sơ thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng với diện tích đo thực tế 472,6m² chưa đúng bởi lẽ bà T1 là người được giao quyền sử dụng thửa đất số 34, tờ bản đồ số 03, diện tích 360m² theo giấy cắm đất ngày 01/7/1994 của xã T, huyện T. Như vậy, các đương sự chỉ có quyền chuyển nhượng diện tích đất là 360m² theo giấy cắm đất. Đối với diện tích dư ra, bà H chỉ tạm thời sử dụng và tuân thủ mọi quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Như vậy, buộc bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Mạnh H1 giao trả bà Phan Thị H bản gốc “Biên bản cắm đất làm nhà ở và sản xuất” ngày 01/7/1994 do UBND xã T (nay là xã T) cấp cho bà Đỗ Thị T1 (Hoàng Thị Hồng T2). Bà H nhận chuyển nhượng đất trong thời kỳ hôn nhân nên bà H và ông M (chồng bà H) được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (điểm d khoản 1 Điều 99 Luật đất đai) và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước theo quy định tại Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
[3.2] Xét yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Mạnh H1 và bà Nguyễn Thị O về việc:
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đỗ Thị T1 và bà Nguyễn Thị O lập ngày 24/9/2015;
- Công nhận ông H1, bà O được quyền quản lý, sử dụng hợp pháp thửa đất số 34, tờ bản đồ số 03, diện tích 472m², địa chỉ: Thôn I (nay là thôn D), xã T, huyện T, Hà Nội kể từ ngày ký giấy chuyển nhượng 24/9/2015 và được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà T1 và bà O lập ngày 27/9/2015:
Theo lời khai của bà O, bà T1 và người làm chứng là bà Y đều xác định giữa bà T1 và bà O không có giao dịch mua bán, việc ký hợp đồng chuyển nhượng là để hợp thức khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà O cho rằng bà nhận chuyển nhượng thửa đất này của ông K, tuy nhiên ông K, bà L không thừa nhận đã chuyển nhượng thửa đất này cho bà O, việc ông K giao cho bà O giấy tờ gốc của thửa đất mục đích chỉ để đảm bảo việc vay tiền và theo lời khai của bà Y thì khi bà T1 ký giấy chuyển nhượng xong có yêu cầu ông K viết cam kết là thửa đất không có tranh chấp, không bán mua cho ai chứ không phải viết giấy chuyển nhượng. Bà O, ông H1 cũng không xuất trình được giấy tờ thể hiện việc ông K, bà L chuyển nhượng thửa đất này cho bà O, ông H1. Theo lời khai của bà Y thì bà O đã được tư vấn về thủ tục chuyển nhượng và sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng thì lên UBND xã làm thủ tục nhưng bà O không đến UBND xã xin xác nhận vào Hợp đồng chuyển nhượng và tại buổi hôm đó bà L là người được bà T1 ủy quyền sử dụng đất không có mặt.
Theo lời khai của bà Y và ông T6 tại cơ quan điều tra thì bà Y, ông T6 không trực tiếp chứng kiến việc bà O, ông K thỏa thuận với nhau về việc chuyển nhượng đất, bà Y chỉ là người tư vấn, soạn hợp đồng cho bà O theo yêu cầu của bà O và ông T6 chỉ là người đưa ông K, bà O đến gia đình bà T1. Bà Y, ông T6 đều không chứng kiến việc hai bên giao nhận tiền và không chứng kiến việc hai bên giao nhận đất, không biết giá chuyển nhượng là bao nhiêu.
Mặt khác, theo giấy tờ ông K cung cấp cho bà O thì không có tài liệu nào thể hiện ông K có quyền sử dụng đối với thửa đất, theo giấy ủy quyền thì bà T1 ủy quyền cho bà L chứ không phải ủy quyền cho ông K và nếu có việc chuyển nhượng thì bà O phải được bàn giao đất nhưng thực tế kể từ thời điểm năm 2015 cho đến nay bà O cũng không quản lý thửa đất, không nộp thuế. Tại phiên tòa bà O khai nhờ bà M1 trông nom thửa đất, tuy nhiên bà M1 khai không được ai nhờ trông đất và bà O cũng không xuất trình được tài liệu chứng cứ chứng minh về việc chuyển nhượng đất cũng như việc quản lý sử dụng đất. Quá trình giải quyết vụ án, bà T1 và bà O cũng thừa nhận không có giao dịch chuyển nhượng đất từ bà T1 sang cho bà O, việc bà T1 ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà O là để giúp bà O làm GCNQSD đất chứ hai bên không có việc giao nhận tiền, đất cho nhau nên không có thiệt hại.
Do vậy, hợp đồng chuyển nhượng đất lập ngày 24/9/2015 giữa bà Đỗ Thị T1 và bà Nguyễn Thị O vô hiệu do vi phạm các quy định tại Bộ luật dân sự không có sự đồng ý của bà L, bà H.
Vì vậy yêu cầu độc lập của bà O ông H1 không được chấp nhận.
Về giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu:
- + Xét về số tiền ông K đã nhận của bà O: Cấp sơ thẩm đã buộc ông K phải trả bà O, ông H1 số tiền 450.000.000 đồng.
Theo lời khai của bà O thì bà giao cho ông K tổng số tiền là 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông K chỉ thừa nhận cầm của bà O số tiền 450.000.000 đồng, lời khai của ông K phù hợp với 02 giấy chuyển tiền bà O cung cấp và ngày 15/11/2017 ông K đã chuyển trả cho bà O số tiền 450.000.000 đồng, nhưng bà O không nhận với lý do là mua đất chứ không phải cho vay tiền.
- + Xét về lỗi: Nhận thấy, ông K bà H đều khai, được sự đồng ý của bà H nên ông K được quyền mang giấy tờ liên quan đến thửa đất đi thế chấp nhưng tài liệu thể hiện giữa ông K và bà O có việc trao đổi về việc chuyển nhượng. Tuy nhiên, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, lời khai của các đương sự, nhận thấy có việc bà O là người chủ động thực hiện hoàn thiện giao dịch như nhờ luật sư, tư vấn, lập hợp đồng, trao đổi với bà T1.....ông K là người làm theo sự hướng dẫn của bà O. Bản thân bà O cũng biết ngoài Biên bản cắm mốc còn có giấy uỷ quyền của bà T1 cho bà L vợ ông K nhưng vẫn đề nghị bà T1 ký giúp hợp đồng, Mặc dù bà T1 yêu cầu bà O giao nộp giấy uỷ quyền của bà Lại Thị L để bà T1 huỷ giấy uỷ quyền trước khi ký hợp đồng chuyển nhượng cho bà O, nhưng bà không thực hiện được vì không có có tài liệu này. Như vậy, bà O cũng nắm rõ được tình trạng pháp lý của thửa đất nêu trên nhưng vẫn thực hiện giao dịch chuyển nhượng với ông K. Đến năm 2017, ông K cũng đã trả lại tiền cho bà O nhưng bà O không đồng ý.
Như đã phân tích trên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đỗ Thị T1 và bà Nguyễn Thị O lập ngày 24/9/2015 là vô hiệu. Bà T1 không có lỗi trong giao dịch này mà lỗi của ông Nguyễn Bá K3 và bà Nguyễn Thị O cần xác định hai bên đều có lỗi ngang nhau trong việc dẫn đến hợp đồng vô hiệu, thiệt hại xảy ra căn cứ quy định tại mục 2.4 Phần I Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình thì: “thiệt hại còn bao gồm khoản tiền chênh lệch giữa giá nhà gắn liền với giá trị quyền sử dụng đất do các bên thoả thuận với giá nhà gắn liền với giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm xét xử sơ thẩm hoặc các thiệt hại khác, nếu có”...; “Khoản tiền chênh lệch được tính theo tỷ lệ số tiền bên mua nhà đã trả”
Theo kết quả định giá ngày 13/7/2023 của Hội đồng định giá 1m² đất có giá trị 3.709.000 đồng.
Giao dịch chuyển nhượng là 360m² x 3.709.000đ = 1.335.240.000 đồng
Như vậy, so với giá trị lúc nhận chuyển nhượng, giá trị đất hiện nay tăng 1.335.240.000 đồng - 450.000.000đ = 885.240.000đ. Ông K3, bà O mỗi bên phải chịu 50% thiệt hại = 442.620.000 đồng.
Ông K3 phải trả bà O, ông H1 số tiền 450.000.000 + 442.620.000đ. Tổng cộng 892.620.000 đồng.
Về yêu cầu công nhận ông H1, bà O được quyền sử dụng thửa đất số 34, tờ bản đồ số 03, diện tích 472m², địa chỉ: Thôn I (nay là thôn D), xã T, huyện T, thành phố Hà Nội tính từ ngày ký giấy chuyển nhượng 24/9/2015:
Như đã phân tích trên Hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà T1 và bà O lập ngày 24/9/2015 là vô hiệu nên yêu cầu trên không được chấp nhận.
Các yêu cầu và trình bày khác của các đương sự không có căn cứ chấp nhận.
Từ phân tích nêu trên chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị O, ông Nguyễn Mạnh H1 và cần sửa án dân sự sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp một phần với nhận định Hội đồng xét xử.
[4] Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
- + Ông Phan Bá K và bà Lại Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm;
- + Bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Mạnh H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp;
- + Bà Phan Thị H không phải chịu án phí dân sự và được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm, các đương sự kháng cáo không phải chịu án phí và được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 26; khoản 1 Điều 38, Điều 147, 148, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Các Điều 123, 124, 129, 131, 160, 166, 175, 176, 223, 500, 501, 502, 503, 579 Bộ luật dân sự 2015.
- Điều 97, 99, 100, 170, 209 Luật Đất đai năm 2013;
- Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc thu nộp án phí.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị O, ông Nguyễn Mạnh H1.
- Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 151/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị H đối với ông Phan Bá K, bà Lại Thị L về việc:
- Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 01/8/2010 giữa ông Phan Bá K và Lại Thị L với bà Phan Thị H về việc chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 34, tờ bản đồ số 03, diện tích 360m², địa chỉ: Thôn D (thôn I cũ), xã T, huyện T, thành phố Hà Nội có hiệu lực pháp luật.
- Công nhận bà Phan Thị H và ông Đỗ Văn M được quyền sử dụng thửa đất số 34, tờ bản đồ số 03, diện tích 360m², địa chỉ: Thôn D (thôn I cũ), xã T, huyện T, thành phố Hà Nội (theo “Biên bản cắm đất làm nhà ở và sản xuất” ngày 01/7/1994 do UBND xã T (nay là xã T);
- Buộc bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Mạnh H1 giao trả bà Phan Thị H bản gốc “Biên bản cắm đất làm nhà ở và sản xuất” ngày 01/7/1994 do UBND xã T (nay là xã T) cấp cho bà Đỗ Thị T1 (Hoàng Thị Hồng T2);
- Ông Đỗ Văn M và bà Phan Thị H có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 34, tờ bản đồ số 03, diện tích 360m². địa chỉ: Thôn D (thôn I cũ), xã T, huyện T, thành phố Hà Nội và phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật.
- Đối với diện tích thừa so với “Biên bản cắm đất làm nhà ở và sản xuất” ngày 01/7/1994 do UBND xã T (nay là xã T) cấp cho bà Đỗ Thị T1 (Hoàng Thị Hồng T2) là 112.6m², bà H được tạm thời sử dụng và phải chấp hành mọi quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Mạnh H1 về việc công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đỗ Thị T1 (Hoàng Thị Hồng T2) và bà Nguyễn Thị O lập ngày 24/9/2015.
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đỗ Thị T1 (Hoàng Thị Hồng T2) và bà Nguyễn Thị O lập ngày 24/9/2015 thửa đất số 34, tờ bản đồ số 03 diện tích 360m², diện tích đo thực tế 472,6m², địa chỉ: Thôn D (thôn I cũ), xã T, huyện T, thành phố Hà Nội vô hiệu.
- Ông Phan Bá K có nghĩa vụ trả bà Nguyễn Thị O, ông Nguyễn Mạnh H1 số tiền 892.620.000 đồng (Tám trăm chín mươi hai triệu, sáu trăm hai mươi nghìn đồng).
- Không chấp nhận các yêu khác của đương sự.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án (bà Nguyễn Thị O, ông Nguyễn Mạnh H1) có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền phải thi hành, bên phải thi hành án (ông Phan Bá K) còn phải chịu lãi khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
- Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm:
- + Ông Phan Bá K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và 38.778.600 đồng (Ba mươi tám triệu, bảy trăm bảy mươi tám nghìn, sáu trăm đồng) án phí dân sự. Bà Lại Thị L và ông Phan Bá K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- + Bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Mạnh H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả bà O, ông H1 mỗi người 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0032021 và 0032022 ngày 26/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thất.
- + Hoàn trả cho bà Phan Thị H số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0025517 ngày 07/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thất).
- - Án phí dân sự phúc thẩm:
- + Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị O; ông Nguyễn Mạnh H1 mỗi người 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0032142 và 0032141 ngày 09/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị H đối với ông Phan Bá K, bà Lại Thị L về việc:
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Lan Anh |
Bản án số 528/2024/DS-PT ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 528/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án dân sự phúc thẩm giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là bà Phan Thị H và bị đơn là ông Phan Bá K và bà Lại Thị L
