Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 5275/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 22 – 11 – 2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Thu Hiền

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Văn Khuyến
  2. Bà Phan Thị Bé

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Võ Hồng D - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 960/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 8875/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 2000

    Địa chỉ: 2 V, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

    Chỗ ở hiện nay: 16/14 Đường D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt)

  2. Bị đơn: Ông Trần Minh D1, sinh năm 1996

    Địa chỉ: 2 V, khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Phương L trình bày như sau:

Bà Nguyễn Thị Phương L và ông Trần Minh D1 sống chung với nhau từ năm 2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 22 ngày 10 tháng 3 năm 2021.

Ngay từ khi bắt đầu sống chung thì vợ chồng ông bà đã phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mâu thuẫn giữa ông bà ngày càng trầm trọng. Do ông D1 tính tình nóng nảy, vũ phu, ghen tuông vô cớ, thỉnh thoảng khi xảy ra cãi vã thì ông D1 có đánh đập bà L. Ngoài ra, ông D1 còn chơi bời, không chăm lo làm ăn, sống phụ thuộc vào cha mẹ, không quan tâm chăm sóc vợ con. Bà L đã nhiều lần khuyên can nhưng ông D1 không sửa đổi vẫn chứng nào tật nấy. Vợ chồng ông bà đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2023 đến nay. Khi bà L nộp đơn xin ly hôn ở Tòa án bà L có báo cho ông D1 biết nhưng ông D1 không quan tâm và khẳng định sẽ không lên Tòa. Đến nay, bà L không còn tình cảm gì với ông D1, không muốn kéo dài cuộc hôn nhân này nữa nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông Trần Minh D1.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Minh Q, sinh ngày 27/9/2021 và Trần Minh P, sinh ngày 19/11/2022. Khoảng tháng 8 năm 2023, do bà L không thể chịu đựng ông D1 được nữa nên bà L quyết định ly thân, khi đi bà L đã dẫn theo hai con về nhà ngoại ở, từ đó đến nay ông D1 không hề thăm nom con, không hề quan tâm gọi điện thoại hỏi han, cũng không gửi tiền chu cấp cho hai con, một mình bà L phải lo lắng tất cả cho các con. Hiện nay, bà L đang làm nhân viên ở siêu thị T khoảng 9.000.000 đồng mỗi tháng, 03 mẹ con bà L đang ở chung với cha mẹ của bà L, được sự giúp đỡ của cha mẹ nên cuộc sống của mẹ con bà L đã ổn định. Do đó, sau khi ly hôn bà L yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông D1 cấp dưỡng nuôi 02 con.

- Về tài sản chung: Bà L trình bày không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà L trình bày không có nợ chung.

Ông Trần Minh D1 đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đến làm việc, Thông báo tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, tham gia các phiên toà xét xử nhưng ông D1 vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc và vắng mặt tại các phiên toà xét xử không có lý do.

Tại phiên toà:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương L có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ông Trần Minh D1 đã được Toà án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa để tham gia các phiên toà xét xử nhưng ông D1 vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện việc cấp, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng và tiến hành giải quyết vụ án đúng nhiệm vụ, quyền hạn, đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Đồng thời, Đại diện Viện kiểm sát nhận định yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Nguyễn Thị Phương L và ông Trần Minh D1 sống chung và có đăng ký kết hôn với nhau. Nay bà L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông D1, đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Trần Minh D1 có nơi cư trú tại thành phố T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Ông Trần Minh D1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Minh D1 theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

Bà Nguyễn Thị Phương L và ông Trần Minh D1 tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2021 và có đăng ký kết hôn. Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 22 ngày 10 tháng 3 năm 2021 do Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Nguyễn Thị Phương L và và ông Trần Minh D1 thì có đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông D1 là hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ vào lời trình bày của đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy rằng cuộc sống chung giữa bà L và ông D1 thực tế có xảy ra nhiều mâu thuẫn, thiếu sự quan tâm đến nhau, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Nay bà L xác định không còn tình cảm với ông D1, cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài và đã nộp đơn yêu cầu được ly hôn với ông D1. Ông D1 không quan tâm đến yêu cầu ly hôn của bà L và cũng không quan tâm đến việc hoà giải, hàn gắn gia đình. Do đó, đã có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà L và ông D1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Phương L.

Bà L và ông D1 có 02 con chung tên Trần Minh Q, sinh ngày 27/9/2021 và Trần Minh P, sinh ngày 19/11/2022. Xét thấy, ông D1 không quan tâm đến việc giao con chung cho ai nuôi, không có ý kiến và văn bản trình bày nộp cho Tòa án, bà L có công việc và thu nhập ổn định, có đủ khả năng nuôi con, cả hai trẻ đều còn nhỏ cần được sự quan tâm chăm sóc của mẹ và từ khi bà L và ông D1 sống ly thân đến nay thì cả hai trẻ đều ở với mẹ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L về việc giao hai con cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện của bà L về việc không yêu cầu ông D1 cấp dưỡng nuôi hai con.

Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Bà L xác định không có nợ chung nên Toà án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Phương L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57 và Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Phương L được ly hôn với ông Trần Minh D1.
    • Giấy chứng nhận kết hôn số 22 ngày 10 tháng 3 năm 2021 do Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Nguyễn Thị Phương L và và ông Trần Minh D1 không còn giá trị pháp lý.
    • - Về con chung: Giao 02 con chung tên Trần Minh Q, sinh ngày 27/9/2021 và Trần Minh P, sinh ngày 19/11/2022 cho bà Nguyễn Thị Phương L trực tiếp nuôi dưỡng, ông Trần Minh D1 không phải cấp dưỡng nuôi 02 con.
    • Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
    • Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con.
    • - Về tài sản chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
    • - Nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
  2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Phương L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0026406 ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, bà Nguyễn Thị Phương L đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Tp. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS Tp. Thủ Đức;
  • - UBND phường Long Trường, Tp. Thủ Đức;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 5275/2024/HNGĐ-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – TP. HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 5275/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – TP. HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn và nuôi con của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger