|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
|
Bản án số: 527/2025/HS-PT Ngày: 13/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tòa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Hạnh |
| Bà Lê Thị Mỹ Lanh | |
| - Thư ký phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thanh - Thư ký viên chính Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: | Ông Lưu Mạnh Hoan - Kiểm sát viên. |
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, Tòa án nhân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 358/2025/TLPT-HS ngày 17 tháng 4 năm 2025, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2025/HS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Đức N, sinh năm 1999 tại Thành phố Hà Nội; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện tại: thôn Đ, xã T, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Đức M; Con bà: Trần Thị L; Vợ: Nguyễn Thị Ngọc A; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2024 đến ngày 02/02/2024, hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra, còn có 02 bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị. (Tòa án không triệu tập).
1
Bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo (Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty Cổ phần T4 (gọi tắt là Công ty T4) trúng thầu thi công công trình xây dựng đường trục phát triển kinh tế P - V.
Ngày 12/02/2023, Công ty T4 ký Hợp đồng lao động số 122/HĐLĐ với Nguyễn Đức N, loại hợp đồng lao dộng: xác định thời hạn (từ ngày 12/02/2023 đến ngày 31/12/2023; địa điểm làm việc: do Công ty chỉ định theo yêu cầu của các dự án phát sinh trong thời hạn ký hợp dồng; chức danh chuyên môn: cán bộ kỹ thuật. Ngày 15/02/2023, Công ty T4 ký quyết định số 15.02/QĐ-CT về việc phân công nhiệm vụ cho Nguyễn Đức N giữ nhiệm vụ: thi công các công trình theo phân công gồm: xác nhận khối lượng, hạng mục công trình hoàn thành đạt tiêu chuẩn chất lượng; nhận và xác nhận khối lượng vật liệu với các đơn vị cung cấp; các công việc khác theo yêu cầu.
Công trình đường P - V được bắt đầu thi công vào khoảng cuối tháng 5/2023 đến đầu tháng 6/2023 là phải trải thảm nhựa cho tuyến đường. Do tuyến đường thi công dài, để đảm bảo tiến độ nên phải chia công trình làm hai phần giao cho từng tổ thi công. N được Lãnh đạo công ty T4 giao triển khai giám sát thi công một phần của tuyến đường thuộc thôn N, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội.
Quá trình thi công hạng mục nền đường, Công ty T4 ký hợp đồng mua vật liệu xây dựng của anh Tạ Tiến T với giá 150.000 đồng/1m³ cát đen, hình thức mua bán giao cát tại công trình. Công ty T4 giao cho Nguyễn Đức N nhận vật liệu, xác định khối lượng và ký nhận vào phiếu nhập vật tư (có thông tin biển số xe chở, khối lượng, bên nhận do Công ty ký, bên giao do lái xe ký) chia làm 03 liên (01 liên giao lái xe, 02 liên trả Công ty) do Công ty T4 phát hành để làm căn cứ đối chiếu thanh toán tiền với anh T.
Anh Tạ Tiến T thuê nhiều lái xe để vận chuyển cát đen đến công trình trong đó có hai lái xe là Đỗ Anh T1 lái xe ô tô BKS: 29H-861.17 và Nguyễn Văn H lái xe ô tô BKS: 29H-884.45 (các xe ô tô trên đều gắn và quản lý theo định vị hành trình GPS).
Đến đầu tháng 7/2023, do thiếu tiền để di du lịch nên N đã bảo với T1 và H là khi chở cát từ cửa hàng vật liệu của anh T thì mang bán cho N để lấy tiền. Sau đó, theo như thoả thuận từ trước T1 đã bán tổng số 04 xe cát vào các ngày 03/7/2023, 08/7/2023, 09/7/2023, 10/7/2023 (mỗi ngày trên Tuần bản được 01 chuyến); H điều khiển xe ô tô BKS: 29H-884.45 đã bán tổng số 04 xe cát vào các ngày 09/7/2023, 10/7/2023 (mỗi ngày trên H bán 02 chuyến). Toàn bộ các xe cát trên, T1, H đều bán cho ông Đặng Văn T2 với giá 1.250.000 đồng/1 xe, mỗi xe có khối lượng cát là 14,5m³. Sau khi bán xong, N thoả thuận với từng người về việc N sẽ hưởng số tiền 1.000.000 đồng/1 chuyến còn T1, H sẽ được hưởng số tiền 250.000 đồng/01 chuyến. Đến cuối của các ngày bán cát ra ngoài N đều ghi khống phiếu nhập vật tư thành 03 liên, gửi lại 02 liên cho kế toán Công ty T4 và 01 liên đưa T1, H để giao cho anh T3.
Ngày 16/7/2023, dựa vào các phiếu nhập vật tư mà N chuyển, Công ty T4 và anh T lập bảng đối chiếu khối lượng thực tế đối với cát đen tuyến đường P - V từ ngày 01/7/ - 15/7/2023 với tổng số là 229 chuyến, tổng khối lượng là 3.407,5m³, tương ứng với số tiền là 511.125.000 đồng. Ngày 20/7/2023, Công ty T4 đã thanh toán toàn bộ số tiền trên (theo phiếu chi số 1368/2023 ngày 20/7/2023) cho anh T.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2025/HSST ngày 05/9/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội đã xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức N phạm tội “Tham ô tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 6 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 22/01/2024 đến ngày 02/02/2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Ngày 16/9/2025, bị cáo Nguyễn Đức N có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo vì bị cáo phạm tội do thiếu hiểu biết pháp luật, số tiền hưởng lợi ít, đã tự nguyện nộp số tiền hưởng lợi bất chính, gia đình bị cáo tham gia nhiều hoạt động thiện nguyện, vợ bị cáo sắp sinh con nên bị cáo xin hưởng án treo để có cơ hội chăm sóc vợ, con. .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo phù hợp về chủ thể và nội dung theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, trong hạn luật định nên kháng cáo hợp lệ.
Về nội dung: Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như tài liệu, chúng cứ khác có trong hồ sơ có đủ cơ sở kết luận Tòa án cấp sơ thẩm xét
3
xử bị cáo về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2, khoản 6 Điều 353 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo thấy: Nguyễn Đức N là cán bộ kỹ thuật của Công ty Cổ phần T4, được Công ty giao nhiệm vụ quản lý, giám sát, giao nhận vật liệu với các đơn vị cung cấp tại một phần trong công trình Đường trục phát triển kinh tế P - V. Quá trình thực hiện nhiệm vụ, N đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, trao đổi, thoả thuận với Đỗ Anh T1, Nguyễn Văn H bán tổng số 08 xe cát thuộc trách nhiệm quản lý của mình cho ông Đặng Văn T2, mỗi xe cát có khối lượng cát là 14,5 cm³ trị giá 2.175.000 đồng. Qua đó, N được hưởng lợi số tiền 8.000.000 đồng, Nguyễn Đức N đã chiếm đoạt tài sản của Công ty T4 tổng số tiền là 17.400.000 đồng. Bị cáo N với vai trò chủ mưu, mức độ phạm tội cao hơn các bị cáo khác, sau khi phạm tội đã bồi thường, khắc phục hậu quả, bị cáo và gia đình có nhiều đóng góp thiện nguyện, đây là những tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Tòa án sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo N đã nộp số tiền bồi thường cho Công ty, số lượng cát bị cáo tham ô cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức N, giữ nguyên bản án sơ thẩm: Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 6 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt Nguyễn Đức N 03 năm tù về tội “Tham ô tài sản”.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định, đúng về chủ thể, hình thức nên hợp lệ theo Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ lời khai của bị cáo, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Đức N là cán bộ kỹ thuật của Công ty Cổ phần T5 C được công ty giao nhiệm vụ quản lý, giám sát, giao nhận vật liệu với các đơn vị cung cấp tại một phần trong công trình Đường trục phát triển kinh tế P - V. Quá trình thực hiện nhiệm vụ, N đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, trao đổi, thoả thuận với Đỗ Anh T1, Nguyễn Văn H bán tổng số 08 xe cát (T1 bán 04 xe cát, H bán 04 xe cát) thuộc trách nhiệm quản lý của mình cho ông Đặng Văn T2 vào các ngày 03/7/2024, 08/7/2024, 09/7/2024 và 10/7/2024, mỗi xe cát có khối lượng cát là 14,5 cm³ trị giá 2.175.000 đồng. Qua đó, N được hưởng lợi số tiền 8.000.000 đồng; Nguyễn Đức N đã chiếm đoạt tài sản của Công ty T4 tông số tiền là 17.400.000 đồng. Hành vi của Nguyễn Đức N đã phạm tội “Tham ô tài sản” với tình tiết tăng nặng định khung hình phạt "Phạm tội 02 lần trở lên" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, xâm phạm đến tài sản, ảnh hưởng đến hoạt động đúng đắn của doanh nghiệp, do đó cần áp dụng hình phạt tương xứng, để giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định xử phạt bị cáo 03 năm tù là có căn cứ và đã áp dụng cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đã là xem xét giảm nhẹ cho bị cáo và phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ mới thể hiện gia đình bị cáo có nhiều đóng góp thiện nguyện, có ông nội được tặng Huân chương kháng chiến. Tuy nhiên, như Hội đồng xét xử đã phân tích ở trên, cấp sơ thẩm cũng đã xem xét, đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và đã cho bị cáo hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đã là phù hợp và không có căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ và cho bị cáo hưởng án treo. Vì vậy, căn cứ Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức N, giữ nguyên án sơ thẩm.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự,
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức N:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức N phạm tội “Tham ô tài sản”
Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 6 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2024 đến ngày 02/02/2024.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Đức N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
5
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Thủy |
6
Bản án số 527/2025/HS-PT ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm về tội tham ô tài sản
- Số bản án: 527/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức N: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2024 đến ngày 02/02/2024.
