Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 527/2024/HS-PT

Ngày 01 tháng 7 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Thịnh;
Các Thẩm phán: Ông Cao Văn Tám
Bà Nguyễn Thị Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Danh Quốc Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Tấn Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 282/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Văn H; Do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3601/2024/QĐXXPT-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024.

- Bị cáo bị kháng cáo:

Họ và tên: Phạm Văn H, sinh năm 1968 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: số E khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn R (đã chết) và bà Võ Thị L (đã chết); bị cáo có vợ là bà Phan Thị T (đã ly hôn) và 02 người con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 06 tháng 5 năm 2022, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Hồng N, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt

- Bị hại:

  1. Ông Lê Văn T1, sinh năm 1979; nơi cư trú: tổ E, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
  2. Ông Đặng Văn T2, sinh năm 1989; nơi cư trú: số B, khu dân cư T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
  3. Bà Lê Thị Lan A, sinh năm 1990; nơi cư trú: khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
  4. Ông Nguyễn Đăng D, sinh năm 1981; nơi cư trú: số A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt
  5. Bà Hồ Thị N1, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, có mặt.
  6. Ông Mai Xuân G, sinh năm 1977; nơi cư trú: số A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
  7. Bà Nguyễn Thị Như H1, sinh năm 1975; nơi cư trú: K, đường T, tổ B, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng.
  8. Ông Bùi Xuân T3, sinh năm 1990; nơi cư trú: tổ H, khu F, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị Như H1, ông Bùi Xuân T3: Ông Bùi Tiến M, sinh năm 1985; địa chỉ: số A, đường D, KDC P, tổ F, khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

  1. Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1981; nơi cư trú: tổ A, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

(Ngoài ra, trong vụ án còn có 8 người bị hại, 33 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan tới kháng cáo, không có kháng nghị nên Tòa án không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn H làm nghề kinh doanh, môi giới bất động sản tự do. Từ năm 2018 đến năm 2021 H thực hiện nhiều vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Bình Dương thông qua việc ký hợp đồng đặt cọc, góp vốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cụ thể như sau:

(1) Vụ thứ 1:

Thửa đất số 73, 74, 75, 76, 77, tờ bản đồ số 12, tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương của bà Phạm Thị P, sinh năm 1955, nơi cư trú: số D, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Phạm Văn H có quan hệ quen biết với bà Nguyễn Thị Như H1, sinh năm 1975, nơi cư trú: phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Khoảng tháng 3/2018, H thỏa thuận với bà H1 chuyển nhượng các thửa đất số 73, 74, 75, 76, 77 cho bà H1 với giá 3.030.240.000 (ba tỷ không trăm ba mươi triệu hai trăm bốn mươi nghìn) đồng. Ngày 20/3/2018, bà H1 đặt cọc cho H 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng. Sau đó, H nói cần tiền để làm thủ tục, giấy tờ đất để yêu cầu bà H1 giao thêm tiền đặt cọc cho H. Ngày 23/5/2018, bà H1 giao cho H 1.350.000.000 (một tỷ ba trăm năm mươi triệu) đồng và ngày 18/7/2018, bà H1 giao cho H 1.000.000.000 (một tỷ) đồng. Tổng số tiền bà H1 giao cho H là 2.550.000.000 (hai tỷ năm trăm năm mươi triệu) đồng. H cam kết 01 năm sau kể từ ngày nhận cọc thì H sẽ thực hiện việc chuyển nhượng các thửa đất cho bà H1.

Ngày 01/7/2019, H nhận chuyển nhượng các thửa đất số 73, 74, 75, 76, 77 của bà Phạm Thị P bằng hình thức ký hợp đồng ủy quyền. Sau đó, H không chuyển nhượng lại cho bà H1 như cam kết. Đến ngày 22/8/2020, H ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 05 thửa đất cho ông Trương Văn K, sinh năm 1956, nơi cư trú: số A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương với giá 5.000.000.000 (năm tỷ) đồng.

Ngoài ra, để chiếm đoạt thêm tiền của bà H1, H thỏa thuận với bà H1 góp tiền nhận chuyển nhượng thửa đất số 719, tờ bản đồ số 27, diện tích 982,2 m², tại phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương của ông Đặng Văn Đ, sinh năm 1968, nơi cư trú: số C, khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương để bán lại kiếm lời. Ngày 23/5/2018, H nhận chuyển nhượng thửa đất số 719 của ông Đ với giá 3.700.000.000 (ba tỷ bảy trăm triệu) đồng bằng hình thức ký hợp đồng ủy quyền. Cùng ngày 23/5/2018, bà H1 giao cho H 1.600.000.000 (một tỷ sáu trăm triệu) đồng. Đến ngày 24/10/2018, H chuyển nhượng thửa đất số 719 cho ông Bùi Văn T4, sinh năm 1960, nơi cư trú: Xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang với giá 5.000.000.000 (năm tỷ) đồng nhưng H không trả lại tiền cho bà H1. Tổng số tiền H chiếm đoạt của bà H1 là 4.150.000.000 (bốn tỷ một trăm năm mươi triệu) đồng.

(2) Vụ thứ 2:

Thửa đất số 388, tờ bản đồ số 12, diện tích 1.396m², tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương do ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1955, nơi cư trú: Khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương đứng tên quyền sử dụng đất. Khoảng tháng 5/2020, Phạm Văn H đặt cọc cho ông H2 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng để nhận chuyển nhượng 01 (một) phần thửa đất số 388, diện tích khoảng 175 m² với giá 2.450.000.000 (hai tỷ bốn trăm năm mươi triệu) đồng, ông H2 giao cho H bản phô tô giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 388. H thỏa thuận sau 03 ngày sẽ giao thêm cho ông H2 1.000.000.000 (một tỷ) đồng và ký hợp đồng đặt cọc. Tuy nhiên, H không giao thêm tiền cho ông H2 mà thông báo bỏ tiền đặt cọc.

Sau khi có được bản phô tô giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 388 của ông H2, H thỏa thuận chuyển nhượng một phần thửa đất diện tích khoảng 150 m² cho bà Hồ Thị N1, sinh năm 1989, nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa với giá 1.800.000.000 (một tỷ tám trăm triệu) đồng. Ngày 22/5/2020, H ký với bà N1 hợp đồng đặt cọc, bà N1 giao cho H 650.000.000 (sáu trăm năm mươi triệu) đồng. H cam kết đến ngày 22/9/2020 sẽ làm thủ tục tách thửa và ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà N1. Để chiếm đoạt thêm tiền của bà N1, H yêu cầu bà N1 cho mượn tiền để giải chấp thửa đất số 388 nhằm làm thủ tục tách thửa, ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Bà N1 tưởng thật nên giao thêm cho H 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng. Ngày 20/6/2020, H yêu cầu bà N1 đặt cọc thêm 100.000.000 (một trăm triệu) đồng. Tổng số tiền H chiếm đoạt của bà Hồ Thị Nghĩa 1 1.250.000.000 (một tỷ hai trăm năm mươi triệu) đồng, H đã trả cho bà N1 460.000.000 (bốn trăm sáu mươi triệu) đồng, còn chiếm đoạt 790.000.000 (bảy trăm chín mươi triệu) đồng.

(3) Vụ thứ 3:

Hạnh có quan hệ quen biết với ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1957, nơi cư trú: khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Năm 2020, H gặp khó khăn tài chính nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của ông T5. H nói với ông T5 góp tiền để nhận chuyển nhượng thửa đất số 715, tờ bản đồ số 11, diện tích 2.065,8 m², tại phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương của ông Nguyễn Công N2, sinh năm 1969, nơi cư trú: Khu phố G, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương với giá 6.000.000.000 (sáu tỷ) đồng, sau đó bán lại kiếm lời. Ông T5 tưởng thật nên làm thủ tục vay tiền của Ngân hàng S1 - Chi nhánh tỉnh B để giao cho H.

Ngày 06/8/2020, theo yêu cầu của ông T5, Ngân hàng S1 - Chi nhánh tỉnh B giải ngân 2.950.000.000 (hai tỷ chín trăm năm mươi triệu) đồng vào tài khoản của H tại Ngân hàng S1. H và ông T5 đặt cọc cho ông N2 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng để nhận chuyển nhượng thửa đất số 715. Sau đó, H không tiếp tục nhận chuyển nhượng thửa đất nên ông N2 trả lại tiền đặt cọc cho ông T5, ông T5 giao lại cho H. H chiếm đoạt tiền của ông T5 sử dụng vào mục đích cá nhân và tiếp tục hứa hẹn với ông T5 là tìm thửa đất khác để nhận chuyển nhượng.

(4) Vụ thứ 4, 5, 6, 7, 8:

Thửa đất số 593, tờ bản đồ số 12, diện tích 1.206,5 m², tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương do ông Nguyễn Văn T6, sinh năm 1937, nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đứng tên quyền sử dụng đất. Khoảng tháng 11/2018, Phạm Văn H góp tiền với ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1987, nơi cư trú: số A, đường B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (mỗi người một nửa) nhận chuyển nhượng thửa đất số 593 của ông T6 để bán lại kiếm lời. Ngày 16/11/2018, ông T6 và vợ là bà Lê Thị Q ký hợp đồng ủy quyền thửa đất số 593 cho H. Ngày 17/3/2020, H ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 755 (diện tích 308,6 m²) và thửa đất số 756 (diện tích 373,4 m²) (tách từ thửa đất số 593) cho bà Đỗ Thị N3 và ông Phan Thanh C. Thửa đất số 593 còn lại diện tích 524,5 m² (thửa đất mới 754) là của ông L1.

Ngày 01/5/2020, ông T6 chết nên bà Hoàng Thị T7, sinh năm 1959, nơi cư trú: 102/29 Bùi Văn B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (là mẹ của ông Nguyễn Văn L1) làm thủ tục tách thửa đất số 754 thành 05 thửa do bà Lê Thị Q và con của bà Q đứng tên, bằng hình thức phân chia di sản thừa kế, gồm: Bà Nguyễn Thị X (thửa đất số 675); bà Nguyễn Thị H3 (thửa đất số 676); ông Nguyễn Văn P1 (thửa đất số 677); bà Lê Thị Q (thửa đất số 678); bà Nguyễn Thị C1 (thửa đất số 679). Ngày 18/11/2021, bà Lê Thị Q và con của bà Q ký hợp đồng chuyển nhượng 05 thửa đất cho bà T7.

Từ tháng 12/2020 đến tháng 12/2021, Phạm Văn H sử dụng hợp đồng ủy quyền của ông Nguyễn Văn T6 ngày 16/11/2018 để thực hiện 05 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác. H nói dối với người bị hại thửa đất số 754 là của H, đang làm thủ tục tách thửa để chuyển nhượng cho người khác. Người bị hại tưởng thật nên đồng ý nhận chuyển nhượng một phần thửa đất 754, ký hợp đồng đặt cọc với H, gồm:

  • Ngày 30/7/2020, H ký với ông Nguyễn Văn H4 hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng thửa đất số 761, tờ bản đồ số 12, diện tích 113,7 m², tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (là thửa đất không có thật) và chiếm đoạt của ông H4 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng. Ngày 31/7/2020, H nói dối với ông H4 cần tiền làm thủ tục tách thửa để chiếm đoạt thêm tiền của ông H4. Ông H4 tưởng thật nên đưa thêm cho H 100.000.000 (một trăm triệu) đồng. Tổng số tiền H chiếm đoạt của ông H4 là 800.000.000 (tám trăm triệu) đồng.
  • Ngày 09/12/2020, H ký hợp đồng đặt cọc với ông Nguyễn Văn V để chuyển nhượng thửa đất số 678 (tách từ thửa đất số 593), diện tích 124m² và chiếm đoạt của ông V 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng. H thỏa thuận đến ngày 09/02/2021 sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông V.
  • Ngày 23/3/2021, Phạm Văn H ký với bà Lê Thị Lan A, sinh năm 1990, nơi cư trú: khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng 01 phần thửa đất số 593, diện tích 100 m² và chiếm đoạt 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng của bà Lan A. H cam kết đến ngày 08/6/2021 sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Lan A.
  • Ngày 28/01/2021, Phạm Văn H ký với ông Võ Văn K1, sinh năm 1970, nơi cư trú: Khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng thửa đất số 576, tờ bản đồ số 12, diện tích 97 m², tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (là thửa đất không có thật) và chiếm đoạt của ông K1 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng. H cam kết đến ngày 28/3/2021 sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông K1.
  • Ngày 25/12/2021, Phạm Văn H ký với ông Nguyễn Đăng D, sinh năm 1981, nơi cư trú: số A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng thửa đất số 676 (tách ra từ thửa 593) và chiếm đoạt của ông D 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng. H cam kết đến ngày 25/3/2022 sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông D.

(5) Vụ thứ 9, 10:

Ngày 06/5/2020, H nhận chuyển nhượng thửa đất số 1766, tờ bản đồ số 19, diện tích 427m², tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương của ông Trần Quang T8 và bà Bùi Thị H5 Vi bằng hình thức ký hợp đồng ủy quyền tại Văn phòng công chứng. Cùng ngày 06/5/2020, H thế chấp thửa đất số 1766 vay 3.000.000.000 (ba tỷ) đồng của bà Đặng Thị Lệ Q1, bằng hình thức ký hợp đồng ủy quyền toàn quyền sử dụng cho bà Q1. Ngày 27/10/2020, H làm thủ tục tách thửa đất số 1766 thành 03 thửa để chuyển nhượng cho người khác lấy tiền trả cho bà Q1 (bà Q1 ký tên người sử dụng đất để cho H đi làm thủ tục tách thửa). Ngày 04/11/2020, Chi nhánh Văn phòng Đ5 (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương ban hành bản trích đo thửa đất số 1766 thành 03 thửa gồm: Thửa đất số 1974 diện tích 142,1m²; thửa đất số 1975 diện tích 142,3m²; thửa đất số 1976 diện tích 142,6 m².

Ngày 15/11/2020, H ký với ông Lê Văn T1 hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng 01 phần thửa đất số 1766 diện tích 123m² với giá 1.700.000.000 (một tỷ bảy trăm triệu) đồng (tương ứng thửa số 1974 sau khi tách). Cùng ngày, ông T1 giao cho H 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng, H thỏa thuận đến ngày 25/12/2020 sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T1. Ngày 19/11/2020, H ký hợp đồng đặt cọc với ông Đặng Văn T2 và nhận cọc 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng để chuyển nhượng 01 phần thửa đất số 1766 (tương ứng với thửa đất số 1975 sau khi tách), với giá là 1.800.000.000 (một tỷ tám trăm triệu) đồng. H cam kết với ông T2 sau 45 ngày sẽ lập hợp đồng công chứng chuyển nhượng cho ông T2. Ngày 20/11/2020, ông T1 tiếp tục đặt cọc cho H 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng để nhận chuyển nhượng 01 phần thửa đất số 1766, diện tích 142m² với giá 1.650.000.000 (một tỷ sáu trăm năm mươi triệu) đồng (tương ứng với thửa 1976 sau khi tách).

Ngày 24/11/2020, H yêu cầu bà Q1 ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 1974 cho ông Phạm Quốc T9, chuyển nhượng 02 thửa đất số 1975 và 1976 cho ông Hồ Viết T10. H trả tiền gốc và tiền lãi cho bà Q1 theo thỏa thuận. Sau đó, để chiếm đoạt thêm tiền của ông T1 và ông T2, H đưa ra nhiều lý do để yêu cầu ông T1 và ông T2 giao thêm tiền đặt cọc. Từ ngày 04/12/2020 đến ngày 23/12/2020, ông T1 giao thêm cho H 1.000.000.000 (một tỷ) đồng. Ngày 05/01/2021, H yêu cầu ông T2 đặt cọc thêm 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng. Tổng số tiền H chiếm đoạt của ông T1 là 1.700.000.000 (một tỷ bảy trăm triệu) đồng, chiếm đoạt của ông T2 là 900.000.000 (chín trăm triệu) đồng.

(6) Vụ thứ 11:

Ngày 08/8/2020, Phạm Văn H nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Tấn P2, sinh năm 1980, nơi cư trú: tổ F, khu phố H, phường T, thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương thửa đất số 701, tờ bản đồ số 20, diện tích 267m², tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (thửa đất số 701) với giá 1.900.000.000 (một tỷ chín trăm triệu) đồng. Ông P2 ký hợp đồng ủy quyền cho H toàn quyền sử dụng thửa đất số 701. Ngày 15/9/2020, H thế chấp thửa đất số 701 cho bà Võ Thị Ú để vay 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng, thời hạn vay 01 năm. Để bảo đảm khoản vay, H ký hợp đồng ủy quyền cho bà Ú toàn quyền sử dụng thửa đất số 701.

H nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của ông Thân Tuấn A1 nên thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất 701 cho ông Tuấn Al với giá 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng. Ngày 07/12/2020, H ký hợp đồng đặt cọc với ông Tuấn Al và chiếm đoạt 1.100.000.000 (một tỷ một trăm triệu) đồng, H cam kết đến ngày 07/01/2021 sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Tuấn A1. Tuy nhiên, sau đó H không trả tiền cho bà Ú để chuộc đất thửa số 701 chuyển nhượng cho ông Thân Tuấn A1. Đến ngày 10/8/2021, H trả lại cho ông Thân Tuấn Al 95.000.000 (chín mươi lăm triệu) đồng, còn chiếm đoạt 1.005.000.000 (một tỷ không trăm linh năm triệu) đồng.

(7) Vụ thứ 12:

Thửa đất số 349, tờ bản đồ số 25 diện tích 217m², tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (thửa số 349) do ông Trần Văn X1, sinh năm 1984, nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đứng tên quyền sử dụng đất. Ngày 02/10/2020, H và ông Trần Văn K2 góp 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng đặt cọc cho ông X1 để nhận chuyển nhượng thửa đất số 349 với giá 2.100.000.000 (hai tỷ một trăm triệu) đồng, thỏa thuận 01 tháng sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, hết thời hạn đặt cọc nhưng H và ông K2 không tiếp tục giao tiền để nhận chuyển nhượng thửa đất này.

H nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của ông Mai Xuân Q2 nên thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất số 349 của ông X1 cho ông Q2 với giá 2.100.000.000 (hai tỷ một trăm triệu) đồng. Ngày 26/11/2020, H ký với ông Q2 hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng thửa đất số 349, ông Q2 giao cho H 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng, H thỏa thuận đến ngày 26/01/2021 sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Q2.

Đến khoảng tháng 01/2021, H tiếp tục thỏa thuận chuyển nhượng cho ông Q2 thửa đất 791, tờ bản đồ số 02, diện tích 330,4 m² với giá 2.300.000.000 (hai tỷ ba trăm triệu) đồng để đổi thửa đất số 349. Thửa đất số 791 do H nhờ bà Trương Thị Lệ H6 đứng tên quyền sử dụng đất. Ngày 05/11/2020, H đã thế chấp thửa đất số 791 cho ông Đinh Hữu Đ1, sinh năm 1971, nơi cư trú: Khu E, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương để vay 2.600.000.000 (hai tỷ sáu trăm triệu) đồng, bằng hình thức ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Đ1. Sau khi thỏa thuận với ông Quốc đổi thửa đất số 349 sang thửa đất số 791, từ ngày 08/02/2021 đến ngày 08/4/2021, H nhiều lần yêu cầu ông Q2 đặt cọc 1.200.000.000 (một tỷ hai trăm triệu) đồng. Tổng số tiền H chiếm đoạt của ông Q2 là 1.700.000.000 (một tỷ bảy trăm triệu) đồng.

(8) Vụ thứ 13:

Thửa đất số 388, tờ bản đồ số 24, diện tích 455 m², tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương do ông Phạm Văn B1 đứng tên quyền sử dụng đất. Ngày 03/6/2020, H nhận chuyển nhượng thửa đất số 388 của ông B1 bằng hình thức ký hợp đồng ủy quyền. Đến ngày 01/9/2020, H thế chấp thửa đất số 388 để vay của ông Bùi Hồng H7 số tiền 2.800.000.000 (hai tỷ tám trăm triệu) đồng. Sau khi thế chấp thửa đất cho ông H7, H nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của ông Mai Xuân G nên thỏa thuận chuyển nhượng 02 ô đất thuộc thửa đất số 388 cho ông G với giá 1.850.000.000 (một tỷ tám trăm năm mươi triệu) đồng. Ngày 21/12/2020, H ký với ông G hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng 01 phần thửa đất số 388 (ô 1), diện tích 112,5 m², chiếm đoạt của ông G 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu) đồng. Ngày 24/12/2020, H tiếp tục ký với ông G hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng 01 phần thửa đất số 388 (ô 2), diện tích 110 m², chiếm đoạt 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng của ông G. H cam kết đến ngày 21/02/2021 sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông G. Tổng số tiền H chiếm đoạt của ông G là 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng.

Ngày 18/01/2021, ông H7 đã ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 388 cho con là ông Bùi Thành Đ2. Ngày 31/12/2021, H môi giới để ông Đ2 chuyển nhượng thửa đất cho ông Trương Văn K với giá 3.300.000.000 (ba tỷ ba trăm triệu) đồng. Cùng ngày, H giới thiệu để ông K chuyển nhượng thửa đất số 388 cho bà Lê Thị C2 với giá 3.500.000.000 (ba tỷ năm trăm triệu) đồng.

(9) Vụ thứ 14:

Thửa đất số 428, tờ bản đồ số 19, diện tích 967 m², tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương do bà Lê Thị R1, sinh năm 1962, nơi cư trú: phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương đứng tên quyền sử dụng đất. Bà R1 làm thủ tục tách thửa đất số 428 thành 05 thửa và ngày 28/5/2021 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Bình Dương ban hành bản trích đo thửa đất thành các thửa số 1997, 1998, 1999, 2000, 2001. Ngày 21/7/2021, bà R1 ký hợp đồng ủy quyền cho H để làm thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất mới. H nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của ông Bùi Xuân T3, sinh năm 1990, nơi cư trú: Tổ H, khu F, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên thỏa thuận chuyển nhượng 02 thửa đất số 1999 và 2000 cho ông T3 với giá 2.250.000.000 (hai tỷ hai trăm năm mươi triệu) đồng. Ngày 03/8/2021, H ký hợp đồng đặt cọc với ông T3 và chiếm đoạt 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng của ông T3. H cam kết đến ngày 20/8/2021 sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T3. Đến ngày cam kết với ông T3, H nói dối cần thêm tiền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để yêu cầu ông T3 giao thêm 100.000.000 (một trăm triệu) đồng. Tổng số tiền H chiếm đoạt của ông T3 là 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng.

Ngày 03/12/2021, do H không làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà R1 nên bà R1 yêu cầu H ký Văn bản thỏa thuận chấm dứt hợp đồng ủy quyền trước thời hạn. Cùng ngày 03/12/2021, bà R1 ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 1999 cho ông Nguyễn Khắc V1, sinh năm 1988, nơi cư trú: số I, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; chuyển nhượng thửa đất số 2000 cho ông Nguyễn Thanh T11, sinh năm 1984, nơi cư trú: phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

(10) Vụ thứ 15:

Thửa đất số 6, 12, 22, tờ bản đồ số 91 (tờ bản đồ cũ A2), diện tích 3.987 m², tại khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương là của ông Nguyễn Văn T12, sinh năm 1954, nơi cư trú: Khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Ngày 26/3/2019, H thỏa thuận nhận chuyển nhượng ba thửa đất của ông T12 với giá 2.000.000 đồng/01 m², H đặt cọc cho ông T12 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng. Ngày 30/3/2019, H tiếp tục đặt cọc cho ông T12 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng.

Đến ngày 20/01/2020, H, ông T12 thỏa thuận với ông Trần Văn T13, sinh năm 1969, nơi cư trú: Tổ I, khu A, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh việc ông T12 thế chấp các thửa đất số 6, 12, 22 cho ông T13 để vay số tiền 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng. Do ông T12 đã nhận đặt cọc của H 900.000.000 (chín trăm triệu) đồng nên ông T12 ký hợp đồng ủy quyền các thửa đất cho H, sau đó H ký hợp đồng ủy quyền cho ông T13.

Sau khi ủy quyền cho ông T13, H thỏa thuận chuyển nhượng 01 phần thửa đất số 22, tờ bản đồ số A2, diện tích 60 m² cho bà Trần Thị Đ3 với giá 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng. Ngày 27/5/2021, H ký với bà Đ3 hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng 01 phần thửa đất số 22 và chiếm đoạt của bà Đ3 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.

Ngày 22/10/2021, ông T13 đã ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 22 cho bà Nguyễn Thị Thanh N4, sinh năm 1989, nơi cư trú: khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (con ông T12). Ngày 22/11/2021, bà N4 ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất cho ông Trần Văn H8, sinh năm 1989, nơi cư trú: Tổ D, khu phố F, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

(13) Vụ thứ 16:

Thửa đất số 579, tờ bản đồ số 12 (D1), diện tích 3.405,7 m², tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương do ông Nguyễn Hoàng L2 đứng tên quyền sử dụng đất. Ngày 22/7/2017, H nhận chuyển nhượng thửa đất số 579 của ông L2 bằng hình thức ký hợp đồng ủy quyền.

Thửa đất số 752, tờ bản đồ số 12, diện tích 121,4 m², tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương do ông Ngàn Ký S, sinh năm 1984, nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai đứng tên quyền sử dụng. Ngày 05/4/2019, H nhận chuyển nhượng thửa đất số 752 của ông S bằng hình thức ký hợp đồng ủy quyền.

Ngày 11/4/2019, H thỏa thuận chuyển nhượng lại 02 thửa đất số 579 và 752 cho bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1987, nơi cư trú: Tổ A, khu phố I, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương với giá 7.500.000.000 (bảy tỷ năm trăm triệu) đồng, nhưng hai bên không ký hợp đồng chuyển nhượng mà chỉ ký hợp đồng đặt cọc. Bà O xây dựng nhà xưởng trên 02 thửa đất số 579 và 752 để sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, do hoạt động kinh doanh không hiệu quả nên bà O nhờ H tìm người chuyển nhượng 02 thửa đất số 579 và 752 với giá 7.500.000.000 (bảy tỷ năm trăm triệu) đồng. Ngày 20/11/2019, H chuyển nhượng thửa đất số 752 cho ông Nguyễn Anh Đ4 với giá 1.500.000.000 (một tỷ năm trăm triệu) đồng. Ngày 31/3/2020, H chuyển nhượng thửa đất số 579 cho ông Mai Văn D1 với giá 7.300.000.000 (bảy tỷ ba trăm triệu) đồng. Sau đó, H không trả 7.500.000.000 (bảy tỷ năm trăm triệu) đồng cho bà O như đã thỏa thuận.

Ngày 31/12/2020, H ly hôn với vợ là bà Phan Thị T nhưng tài sản chung của vợ chồng chưa yêu cầu Tòa án giải quyết. H nảy sinh ý định chiếm đoạt 7.500.000.000 (bảy tỷ năm trăm triệu) đồng của bà O nên thỏa thuận chuyển nhượng 01 phần thửa đất số 580, tờ bản đồ số 24, diện tích 330 m², tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương do Phạm Văn H đứng tên quyền sử dụng đất. H nói với bà O, thửa đất số 580 là tài sản chung của vợ chồng, khi chia thì H sẽ được một nửa là 330 m², H sẽ chuyển nhượng cho bà O với giá 10.000.000.000 (mười tỷ) đồng. Bà O tưởng thật nên đồng ý và rủ thêm em là ông Nguyễn Đức T14 góp tiền đặt cọc cho H. Ngày 11/01/2021, H ký với ông T14 hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng 01 phần thửa đất số 580 diện tích khoảng 330 m², ông T14 đặt cọc là 9.000.000.000 (chín tỷ) đồng (trong đó: 7.500.000.000 (bảy tỷ năm trăm triệu) đồng là tiền của bà O nhờ H chuyển nhượng 02 thửa đất số 579 và 752 nêu trên và 1.500.000.000 (một tỷ năm trăm triệu) đồng tiền của ông T14 giao cho H). Đến ngày 10/01/2022, tại phiên tòa giải quyết tranh chấp tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn, H thỏa thuận với bà T mỗi người được hưởng ½ giá trị đất, bà T được quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 580 và có trách nhiệm thanh toán cho H ½ giá trị tài sản chung của vợ chồng là 2.838.500.000 (hai tỷ tám trăm ba mươi tám triệu năm trăm nghìn) đồng. Như vậy, số tiền Phạm Văn H chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị O là 7.500.000.000 (bảy tỷ năm trăm triệu) đồng, ông Nguyễn Đức T14 là 1.500.000.000 (một tỷ năm trăm triệu) đồng.

Tại Kết luận giám định số 395 ngày 17/9/2021 của Phòng K3 Công an tỉnh B xác định: Chữ ký, chữ viết họ tên, dấu vân tay “Bên nhận” trên 01 (một) Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/12/2020 với ông Thân Tuấn A1 là do Phạm Văn H ký, viết, in ra.

Tại Kết luận giám định số 461 ngày 29/10/2021, số 462 ngày 05/11/2021 của Phòng K3 Công an tỉnh B xác định chữ viết, chữ ký, dấu vân tay tên Phạm Văn H trên Hợp đồng đặt cọc ngày 15/11/2020, ngày 20/11/2020, 09/02/2021 với ông Lê Văn T1, ông Đặng Văn T2 là do Phạm Văn H ký, viết, in ra.

Tại Kết luận giám định số 48 ngày 15/02/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh B kết luận chữ viết, chữ ký, dấu vân tay tên Phạm Văn H trên Hợp đồng đặt cọc ngày 09/12/2020 với ông Nguyễn Văn V là do Phạm Văn H viết, ký, in ra.

Tại Kết luận giám định số 42 ngày 18/02/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh B kết luận chữ viết, chữ ký, dấu vân tay tên Phạm Văn H trên Hợp đồng đặt cọc ngày 26/11/2020 với ông Mai Xuân Q2 là do Phạm Văn H viết, ký, in ra.

Tại Kết luận giám định số 43 ngày 07/02/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh B xác định: Chữ ký, chữ viết, dấu vân tay trên 02 hợp đồng đặt cọc ngày 20/12/2020 và ngày 24/12/2020 với ông Mai Xuân G là H ký, viết, in ra.

Tại Kết luận giám định số 313 ngày 26/8/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh B xác định: Chữ ký, chữ viết, dấu vân tay tên Phạm Văn H trên các tài liệu gửi giám định là của Phạm Văn H, gồm: 01 giấy xác nhận đã nhận tiền ngày 23/5/2018 (ký hiệu A1); giấy nhận tiền đặt cọc và giấy nhận tiền bán đất cùng đề ngày 18/7/2018 (ký hiệu A2 và A3); 01 hợp đồng đặt và nhận tiền cọc đất đề ngày 28/01/2021 (ký hiệu A4); 01 hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 23/3/2021 (ký hiệu A5); 01 hợp đồng đặt cọc v/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 27/5/2021 (ký hiệu A6); 01 hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đề ngày 03/8/2021 (ký hiệu A7); 01 giấy hẹn ngày 01/10/2021 (ký hiệu A8); 01 giấy cam kết đề ngày 13/11/2021 (ký hiệu A9); 01 giấy mượn tiền đề ngày 17/11/2021 (ký hiệu A10); 01 hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đề ngày 25/12/2021 (ký hiệu A11).

Tại Kết luận giám định số 369 ngày 24/10/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh B xác định: Chữ ký, chữ viết và dấu vân tay tên Phạm Văn H trên các tài liệu gửi giám định là của Phạm Văn H, gồm:

  • 01 (một) “Giấy nhận tiền hùn vốn mua đất để đầu tư tự sinh lời”, đề ngày 23/5/2018 (ký hiệu A1).
  • 01 (một) “Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”, đề ngày 22/5/2020 (ký hiệu A2).
  • 01 (một) “Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”, đề ngày 30/7/2020 và 31/7/2020 (ký hiệu A3).
  • 01 (một) “Giấy đặt cọc”, đề ngày 20/6/2020 (ký hiệu A4).
  • 01 (một) “Giấy thoả thuận mượn tiền và trả tiền”, đề ngày 08/9/2020 (ký hiệu A5).
  • 01 (một) “Phụ lục hợp đồng đặt cọc ngày 11/01/2021”, đề ngày 12/01/2021 (ký hiệu A6).
  • 01 (một) “Hợp đồng đặt cọc (chuyển nhượng quyền sử dụng đất)” đề ngày 11/01/2021 (ký hiệu A7).
  • 01 (một) “Văn bản trình bày, xác nhận và cam kết (Về việc thực hiện nghĩa vụ theo Hợp đồng đặt cọc ngày 11/01/2021 và Phụ lục đính kèm)”, đề ngày 29/3/2022 (ký hiệu A8).
  • 01 (một) “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” (phô tô), không đề ngày, tháng, năm (ký hiệu A9).

Như vậy, Phạm Văn H thực hiện 16 vụ lừa đảo, chiếm đoạt 26.000.000.000 đồng (hai mươi sáu tỷ đồng) của 17 người bị hại, trong đó: Bà Nguyễn Thị Như H1 4.150.000.000 (bốn tỷ một trăm năm mươi triệu) đồng, bà Hồ Thị N1 1.250.000.000 (một tỷ hai trăm năm mươi triệu) đồng, ông Nguyễn Văn T5 2.950.000.000 (hai tỷ chín trăm năm mươi triệu) đồng, ông Nguyễn Văn H4 800.000.000 (tám trăm triệu) đồng, ông Nguyễn Văn V 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng, bà Lê Thị Lan A 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng, ông Võ Văn K1 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng, ông Nguyễn Đăng D 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng, ông Lê Văn T1 1.700.000.000 (một tỷ bảy trăm triệu) đồng, ông Đặng Văn T2 900.000.000 (chín trăm triệu) đồng, ông Thân Tuấn A1 1.100.000.000 (một tỷ một trăm triệu) đồng, ông Mai Xuân Q2 1.700.000.000 (một tỷ bảy trăm triệu) đồng, ông Mai Xuân G 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng, ông Bùi Xuân T3 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng, bà Trần Thị Đ3 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, bà Nguyễn Thị O 7.500.000.000 (bảy tỷ năm trăm triệu) đồng và ông Nguyễn Đức T14 1.500.000.000 (một tỷ năm trăm triệu) đồng. H trả lại cho ông Thân Tuấn A1 95.000.000 (chín mươi lăm triệu) đồng, bà Hồ Thị N1 460.000.000 (bốn trăm sáu mươi triệu) đồng, còn chiếm đoạt 25.445.000.000 đồng (hai mươi lăm tỷ bốn trăm bốn mươi lăm triệu đồng). H khai sử dụng số tiền chiếm đoạt được để tiêu xài cá nhân và kinh doanh bất động sản nhưng bị thua lỗ hết.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H 20 (hai mươi) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06 tháng 5 năm 2022.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Phạm Văn H không kháng cáo.

Vào các ngày 15, 18 và 19/3/2024, các bị hại Lê Văn T1, Đặng Văn T2, Lê Thị Lan A, Nguyễn Đăng D, Hồ Thị N1, Mai Xuân G, Nguyễn Văn V và đại diện theo ủy quyền của bị hại Nguyễn Thị Huyền N5, Bùi Xuân T3 là ông Bùi Tiến M có đơn kháng cáo đề nghị hủy Bản án sơ thẩm vì cấp sơ thẩm chưa làm rõ đối với tài sản của bị cáo. Các chứng cứ thể hiện bị cáo có tài sản là thửa đất 580 tờ bản đồ số 24 tại tỉnh Bình Dương và một số tài sản trong thời kỳ hôn nhân nhưng quá trình điều tra lại cho ra kết quả bị cáo không có tài sản. Thửa đất số 580 là tài sản chung nhưng lại được Tòa án thành phố T công nhận thỏa thuận, thì đây là hành vi tẩu tán tài sản.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Phạm Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như án sơ thẩm quy kết. Bị cáo xác định hoàn toàn không có hành vi tẩu tán tài sản như kháng cáo của những người bị hại, bị cáo và vợ cũ Phan Thị T công nhận thỏa thuận về việc chia tài sản sau ly hôn là đúng pháp luật, không phải giả tạo.

Những người bị hại giữ nguyên nội dung kháng cáo như nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử hủy Bản án sơ thẩm vì cấp sơ thẩm đã không điều tra về tài sản của bị cáo từ đó làm cho các bị hại không lấy lại được tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ vào chứng cứ có tại hồ sơ và được thẩm vấn công khai tại phiên toà thì có đủ cơ sở để kết luận bị cáo H dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của 17 người bị hại với tổng số tiền 26.000.000.000 đồng, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự như án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm thì bị cáo không có kháng cáo.

Xét kháng cáo của các bị hại đề nghị hủy án sơ thẩm vì bị cáo có hành vi tẩu tán tài sản và việc công nhận thỏa thuận chia tài sản sau ly hôn giữa bị cáo và vợ cũ là giả tạo, thấy rằng: các chứng cứ tài liệu được thu thập trong hồ sơ không thể hiện việc công nhận thỏa thuận là giả tạo nhằm tẩu tán tài sản, do đó đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị hại và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu:

Các Cơ quan tiến hành tố tụng đã điều tra đầy đủ, đúng pháp luật và Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên buộc bị cáo bồi thường cho bị hại, không có tài liệu chứng cứ xác định bị cáo tẩu tán tài sản nên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Bị cáo thống nhất với phần trình bày bào chữa của luật sư, bị cáo không tranh luận gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Đơn kháng cáo của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo là hợp lệ, được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[3] Nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của những người khác nên Phạm Văn H lợi dụng nghề nghiệp của mình là kinh doanh, môi giới bất động sản nên trong khoảng thời gian năm 2018 đến năm 2021 mặc dù không có đất để chuyển nhượng (đất đã thế chấp, cầm cố, chuyển nhượng cho người khác hoặc đất không thuộc quyền sử dụng của bị cáo) nhưng bị cáo vẫn đưa ra thông tin gian dối là đất của bị cáo để từ đó ký các hợp đồng đặt cọc, thỏa thuận góp tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất với 17 người bị hại gồm các ông bà Nguyễn Thị Như H1, Hồ Thị N1, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Văn V, Lê Thị Lan A, Võ Văn K1, Nguyễn Đăng D, Lê Văn T1, Đặng Văn T2, Thân Tuấn A1, Mai Xuân Q2, Mai Xuân G, Bùi Xuân T3, Trần Thị Đ3, Nguyễn Thị O và Nguyễn Đức T14 chiếm đoạt tổng số tiền 26.000.000.000 đồng.

[4] Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của những người bị hại, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh, an toàn xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.

[5] Xét kháng cáo của những người bị hại Lê Văn T1, Đặng Văn T2, Lê Thị Lan A, Nguyễn Đăng D, Hồ Thị N1, Mai Xuân G, Nguyễn Văn V và đại diện theo ủy quyền của bị hại Nguyễn Thị Huyền N5, Bùi Xuân T3 là ông Bùi Tiến M đề nghị hủy Bản án sơ thẩm vì chưa điều tra làm rõ tài sản của bị cáo và việc bị cáo công nhận thỏa thuận chia tài sản sau ly hôn với vợ Phan Thị T là giả tạo nhằm tẩu tán tài sản từ đó bị cáo không có tài sản để hoàn trả cho các bị hại:

Về trách nhiệm dân sự: Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo phải hoàn trả cho những người bị hại tổng số tiền đã chiếm đoạt 26.000.000.000 đồng (đã trả lại cho ông Thân Tuấn A1 95.000.000 đồng và bà Hồ Thị N1 460.000.000 đồng), số tiền còn lại phải trả 25.445.000.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành thu thập các chứng cứ tài liệu về tài sản của bị cáo, trong đó thể hiện tại Quyết định công nhận thỏa thuận số: 01/2022/QÐST-HNGĐ ngày 10/01/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An giữa bà Phan Thị T và bị cáo H đã thoả thuận về phân chia tài sản sau khi ly hôn. Quyết định này đang có hiệu lực pháp luật, do đó những người bị hại cho rằng bị cáo và bà T công nhận thỏa thuận chia tài sản sau ly hôn là giả tạo để nhằm mục đích tẩu tán tài sản để không còn tài sản hoàn trả cho bị hại thì có quyền khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Quyết định công nhận thỏa thuận số: 01/2022/QÐST-HNGĐ ngày 10/01/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của những người bị hại và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị bác kháng cáo của bị hại và giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ.

[7] Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị giữ nguyên Bản án sơ thẩm là có căn cứ.

[8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Lê Văn T1, Đặng Văn T2, Lê Thị Lan A, Nguyễn Đăng D, Hồ Thị N1, Mai Xuân G, Nguyễn Văn V và đại diện theo ủy quyền của bị hại Nguyễn Thị Huyền N5, Bùi Xuân T3 là ông Bùi Tiến M.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 04/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

Tuyên xử:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H 20 (hai mươi) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06 tháng 5 năm 2022.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Phạm Văn H có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Như H1 số tiền 4.150.000.000 (bốn tỷ một trăm năm mươi triệu) đồng; bà Hồ Thị N1 số tiền 790.000.000 (bảy trăm chín mươi triệu) đồng; ông Nguyễn Văn T5 số tiền 2.950.000.000 (hai tỷ chín trăm năm mươi triệu) đồng; ông Nguyễn Văn H4 số tiền 800.000.000 (tám trăm triệu) đồng, ông Nguyễn Văn V số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng, bà Lê Thị Lan A số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng, ông Võ Văn K1 số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng, ông Nguyễn Đăng Doanh s tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng, ông Lê Văn T1 số tiền 1.700.000.000 (một tỷ bảy trăm triệu) đồng, ông Đặng Văn T2 số tiền 900.000.000 (chín trăm triệu) đồng, ông Thân Tuấn A1 số tiền 1.005.000.000 (một tỷ không trăm lẻ năm triệu) đồng, ông Mai Xuân Q2 số tiền 1.700.000.000 (một tỷ bảy trăm triệu) đồng, ông Mai Xuân G số tiền 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng, ông Bùi Xuân T3 số tiền 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng, bà Trần Thị Đ3 số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, bà Nguyễn Thị O số tiền 7.500.000.000 (bảy tỷ năm trăm triệu) đồng và ông Nguyễn Đức T14 số tiền 1.500.000.000 (một tỷ năm trăm triệu) đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (2);
  • - VKSND tỉnh Bình Dương (1);
  • - Cục THADS tỉnh Bình Dương (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương (1);
  • - Công an tỉnh Bình Dương (1);
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Dương (2);
  • - Lưu VP(3), HS(2).18bBDQK

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Minh Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 527/2024/HS-PT ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 527/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị hại và đại diện theo ủy quyền của bị hại. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger