Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 526/2024/HSST

Ngày: 24-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NΑΙ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Chánh

Ông Trần Công Danh

- Thư ký phiên tòa: Bà La Nguyễn Minh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 479/2024/HSST ngày 14/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 472/2024/QĐXXST-HS ngày 20/8/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Quách Chí D; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: M; Sinh ngày 20/7/1989 tại tỉnh Cà Mau.

    Nơi thường trú: ấp Lợi Đông, xã Hoà Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

    Nơi ở: Khu phố Châu Thới, phường Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.

    Trình độ học vấn: Lớp 09/12. - Nghề nghiệp: Không.

    Con ông Quách Chí S, sinh năm 1968 và bà Quách Thị Ú, sinh năm 1971. Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Có vợ tên Phạm Thị L, sinh năm 1993 và có 01 con sinh năm 2018.

    Tiền án: Ngày 07/11/2014 bị Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 402/2014/HSST. Bị cáo chấp hành hình phạt tù ngày 06/8/2015, tuy nhiên chưa đóng án phí nên chưa được xoá án tích.

    Tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    • - Ngày 21/6/2011 bị Toà án nhân dân Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 84/2011/HSST. Bị cáo chấp hành xong Bản án ngày 22/8/2011.

    • - Ngày 26/3/2013 bị Toà án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 19/2013/HSST. Bị cáo chấp hành xong Bản án ngày 24/11/2013.

    • - Ngày 28/8/2018 bị Toà án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 233/2018/HSST. Bị cáo chấp hành xong bản án ngày 05/3/2019.

    Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, chuyển tạm giam từ ngày 19/6/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.

  2. Họ và tên: Quách Văn D1; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 27/12/2001 tại tỉnh Cà Mau.

    Nơi thường trú: ấp Lợi Đông, xã Hoà Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

    Nơi ở: Tổ 18B, khu phố An Hoà, phường Hoá An, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 09/12. - Nghề nghiệp: Không. Con Quách Văn T, sinh năm 1976 và bà Lê Thị G, sinh năm 1976. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai. Sống chung như vợ chồng với Trần Quỳnh Ngọc T1, sinh năm 2004 và chưa có con.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

    - Bị hại:

    • + Cháu Hồng Gia T2, sinh năm 2009.

      Người đại diện hợp pháp: Ông Hồng Tâm P, sinh năm 1981

      Địa chỉ: Số C, tổ B, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

    • + Cháu Vũ Hoàng Lan A, sinh năm 2009.

      Người đại diện hợp pháp: Ông Vũ Văn Đ, sinh năm 1975.

      Địa chỉ: Số A, tổ I, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

    (Các bị cáo có mặt; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quách Chí DQuách Văn D1 là anh em họ với nhau và đều không có nghề nghiệp ổn định. Để kiếm tiền tiêu xài cá nhân, từ ngày 06/3/2024 đến ngày 15/6/2024, DD1 cùng nhau thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố B, tỉnh Đồng Nai, cụ thể:

Vụ thứ nhất:

Vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 06/03/2024, D mang theo trong người 03 thanh đoản bằng kim loại gồm 01 thanh có bọc nhựa dài 08cm, 02 thanh hình chữ T dài 8,5cm và 08cm (dụng cụ để phá mở khoá xe) và điều khiển xe mô tô hiệu Vision (không rõ biển số) đến ngã tư cầu H thuộc phường H, thành phố B thì gặp D1. Lúc này, D rủ D1 cùng đi trộm cắp tài sản thì D1 đồng ý. Sau đó, D điều khiển xe mô tô chở D1 đi tìm tài sản trộm cắp.

Khi D chở D1 đi đến trước Cửa hàng C địa chỉ: B, khu phố A, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, D phát hiện bên hông cửa hàng có để 01 xe đạp điện hiệu Espero 133, màu đen của cháu Hồng Gia T2 (Sinh ngày: 15/11/2009, thường trú tại số C, tổ B, khu phố C, phường B, thành phố B) nên rủ D1 cùng trộm cắp chiếc xe trên. D1 vào cửa hàng G1 mua nước còn D ở bên ngoài lén lút dùng đoản mở khóa xe đạp điện nhưng không mở được. Sau đó, D chở D1 đi ra cách nơi để xe đạp điện khoảng 5m và dừng lại. D1 ngồi lên xe mô tô chờ còn D tiếp tục lén lút đi bộ vào lấy trộm được chiếc xe đạp điện nêu trên dắt ra chỗ D1 đang đứng. Sau đó, D1 ngồi trên xe mô tô dùng chân đẩy Dụ ngồi trên xe đạp điện vừa trộm cắp được tẩu thoát. Sau đó, D nối dây điện khởi động được xe đạp điện và giao xe, 03 thanh đoản cho D1 mang đi bán, còn D đi về nhà trước.

D1 điều khiển xe đạp điện nêu trên chạy đến trước cửa hàng bán xe đạp điện của anh Nguyễn Văn P1 (Sinh năm: 1993, địa chỉ: tổ G, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương) với mục đích để bán nhưng do cửa hàng đóng cửa nên D1 đứng chờ.

Cùng lúc này, anh Hồng Tâm P (cha cháu T2) sau khi biết sự việc đã định vị được vị trí D1 đang đứng nêu trên nên đến trình báo cho Công an phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Công an phường T đã đến yêu cầu D1 về làm việc. Công an phường T chuyển tố giác về tội phạm nêu trên đến Công an phường Q, thành phố B. Công an phường Q lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B điều tra theo thẩm quyền.

Vụ thứ hai:

Khoảng 19 giờ 00 ngày 18/06/2024, Quách Chí D đến nhà của Quách Văn D1 tại khu phố A, phường H, thành phố B để chơi. Sau đó, D1 rủ D đi trộm cắp xe đạp điện bán lấy tiền tiêu xài thì D đồng ý.

Thực hiện ý định trên, D sử dụng xe mô tô hiệu Future màu đỏ đen gắn biển số 66F2 – 075.64 chở D1 đi đến trước cửa hàng G2 tại địa chỉ số I, đường P, khu phố A, phường T, thành phố B thì cả hai nhìn thấy 01 chiếc xe đạp điện hiệu KAISER IMPERIA màu xám của cháu Vũ Hoàng Lan A (Sinh ngày: 11/01/2009, thường trú tại số A, khu phố F, phường T, thành phố B) đang để trước cửa hàng. Dụ dừng xe đứng ngoài cảnh giới, D1 đi đến lén lút dắt chiếc xe đạp điện ra đường. Do xe không mở được khóa nên D ngồi trên xe mô tô dùng chân đẩy D1 ngồi trên xe đạp điện tẩu thoát. Sau đó, D1D mang xe đạp điện đến gửi tại nhà xe chung cư Q thuộc khu phố C, phường Q, thành phố B rồi cả hai bỏ đi về nhà.

Sau khi bị mất trộm xe, ngày 19/06/2024 cháu Lan A đã đến Công an phường T, thành phố B trình báo sự việc. Công an phường T lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B điều tra theo thẩm quyền.

Đến ngày 19/6/2024, D đến Công an phường Q đầu thú.

Tại Cơ quan điều tra, Quách Văn D1Quách Chí D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

* Vật chứng và xử lý vật chứng:

  • - 02 USB ghi lại diễn biến sự việc Quách Văn D1Quách Chí D trộm cắp tài sản nêu trên (lưu kèm hồ sơ vụ án).

  • - 01 thanh kim loại có bọc nhựa tay cầm dài 08cm; 01 thanh kim loại đoản hình T dài 8,5cm và 01 thanh kim loại đoản hình T dài 08cm.

  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu giữ và giao trả các tài sản cho chủ sở hữu gồm:

    • + 01 xe đạp điện hiệu Espero 133, màu đen cho cháu Hồng Gia T2.

    • + 01 xe đạp điện hiệu Kaiser Imperia, màu xám cho cháu Vũ Hoàng Lan A.

    • + 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 8 Plus cho Quách Văn D1.

    • + 01 xe mô tô nhãn hiệu Future biển số 60F2-76345. Quá trình điều tra làm rõ xe trên là của anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm: 1977, HKTT: 78A/13, tổ A, KP3, phường T, TP B, Đồng Nai cho D1 mượn. Khi cho mượn xe, anh Đ1 không biết D1 sử dụng đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại xe mô tô trên cho anh Đ1.

    • - 01 biển số 66SF2-075.64 do Quách Văn D1 nhặt được sau đó gắn vào xe mô tô do D1 mượn của anh Đ1 nêu trên để đi trộm cắp tài sản. Qua xác minh biển số trên là của xe Honda Sonic 150R do anh Nguyễn Văn Đ2 (Sinh năm 1985, thường trú tại tổ E, ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai) đứng tên chủ sở hữu bị mất trộm ngày 03/12/2023 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương để điều tra xử lý theo thẩm quyền.

* Tại Kết luận định giá tài sản số 71/KL-HĐĐGTS ngày 08/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân thành phố B kết luận: 01 xe máy điện Espero 133 trị giá 5.500.000đ (Năm triệu năm trăm nghìn đồng).

* Tại Kết luận định giá tài sản số 199/KL-HĐĐGTS ngày 24/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân thành phố B kết luận: 01 xe điện Kaiser Imperia trị giá 6.900.000₫ (Sáu triệu chín trăm nghìn đồng).

* Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Hồng Gia T2, Vũ Hoàng Lan A và đại diện hợp pháp bị hại đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu.

Tại Bản cáo trạng số 473/CT-VKSBH ngày 13/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Quách Chí D, Quách Văn D1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt:

Bị cáo Quách Chí D từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Bị cáo Quách Văn D1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Nói sau cùng, các bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình, hứa cải tạo trở thành người tốt và mong muốn được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Quách Chí D, Quách Văn D1 đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:

Từ ngày 06/3/2024 đến ngày 15/6/2024, Quách Chí DQuách Văn D1 cùng nhau thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể:

Vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 06/03/2024, tại Cửa hàng C địa chỉ: B, khu phố A, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Quách Văn D1Quách Chí D có hành vi trộm cắp 01 xe đạp điện hiệu Espero 133, màu đen, trị giá 5.500.000₫ (Năm triệu năm trăm nghìn đồng) của cháu Hồng Gia T2 (Sinh ngày: 15/11/2009).

Khoảng 19 giờ 00 ngày 18/06/2024, tại cửa hàng GS25 tại địa chỉ số I, đường P, khu phố A, phường T, thành phố B, Quách Văn D1Quách Chí D có hành vi trộm cắp 01 xe đạp điện hiệu Kaiser Imperia màu xám, trị giá 6.900.000₫ (Sáu triệu chín trăm nghìn đồng) của cháu Vũ Hoàng Lan A (Sinh ngày: 11/01/2009).

Quách Chí DQuách Văn D1 đều cùng rủ rê nhau và cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

[3] Hành vi của các bị cáo Quách Chí D, Quách Văn D1 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14.

Cáo trạng số 473/CT-VKSBH-HS ngày 13/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, phạm tội đối với người dưới 16 tuổi (quy định tại điểm g, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự); Bị cáo Quách Chí D tái phạm (quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự).

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo Quách Văn D1 có nhân thân tốt (chưa có tiền án, tiền sự), bị cáo D tự giác ra đầu thú. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.

Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án, nhận thấy các bị cáo phạm tội thuộc đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc từ trước, nhất thời nảy sinh ý định phạm tội nên đã rủ rê nhau thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Quách Chí D là người rủ rê trước và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Quách Văn D1 sau khi được rủ rê thì cũng đồng ý tham gia, là người cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng với bị cáo D và trực tiếp liên hệ với người mua mang tài sản trộm cắp đi bán, trong thời gian đang chờ điều tra, truy tố bị cáo lại tiếp tục phạm tội, vai trò phạm tội của các bị cáo là tương đối ngang nhau. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt HĐXX xem xét đến nhân thân của các bị cáo thấy rằng: Bị cáo Quách Văn D1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo Quách Chí D có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học, tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, cho thấy thái độ xem thường pháp luật của bị cáo, bị cáo D có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm. Do đó bị cáo D sẽ phải chịu mức án cao hơn bị cáo D1.

Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra cũng như việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung. Đồng thời xém xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Các bị hại Hồng Gia T2, Vũ Hoàng Lan A và đại diện hợp pháp của các bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu về dân sự, nên không đặt ra xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 thanh kim loại có bọc nhựa tay cầm dài 08cm; 01 thanh kim loại đoản hình T dài 8,5cm và 01 thanh kim loại đoản hình T dài 08cm là công cụ do các bị cáo sử dụng phạm tội.

[10] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Quách Chí DQuách Văn D1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 (áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Quách Chí D);

Căn cứ khoản 2 Điều 136; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Xử phạt bị cáo Quách Chí D 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2024.

Xử phạt bị cáo Quách Văn D1 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án nhưng được trừ đi thời hạn bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/3/2024 đến ngày 14/3/2024.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 thanh kim loại có bọc nhựa tay cầm dài 08cm; 01 thanh kim loại đoản hình T dài 8,5cm; 01 thanh kim loại đoản hình T dài 08cm.

(Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

- Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan CSĐT CA TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan THAHS CA TP. Biên Hòa;
  • - Phòng PV06 CA T. Đồng Nai;
  • - Nhà Tạm giữ CA TP. Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hòa;
  • - UBND phường (xã) nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo; Bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Huyền

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 526/2024/HSST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 526/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger