TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 526/2025/HS-PT
Ngày: 13/6/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Trâm Anh |
| Các Thẩm phán | : Bà Đinh Thị Thu Hương |
| : Bà Trần Thị Diệp Linh | |
| - Thư ký phiên tòa: | Ông Trần Minh Phong - Thư ký Tòa án. |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Hà - Kiểm sát viên. | |
Ngày 13/6/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 434/2025/TLPT-HS ngày 14/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử phúc thẩm số 428/2025/QĐXXPT-HS ngày 25/6/2025 đối với bị cáo Phạm Văn T do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2025/HS-ST ngày 27/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo:
Họ và tên: PHẠM VĂN T, sinh năm 1953; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Số B, ngõ A N, thị trấn V, huyện T, Hà Nội; Giới tính: Nam, Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí; Trình độ học vấn: 10/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Phạm Văn K; Họ tên mẹ: Trần Thị G; Họ tên vợ: Trần Thị L; Có 02 con ( SN 1996, 1997); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/01/2025 đến ngày 26/02/2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
- Bị hại có kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1961. Nơi cư trú: Số H và số 10 N, thị trấn V, huyện T, Hà Nội. (Có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại – Bà Nguyễn Thị Hồng V: Luật sư Trình Kiên C – Công ty L1 (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 01/02/2024, Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện T mời Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị Hồng V đến giải quyết tranh chấp ngõ đi chung theo đơn kiến nghị của ông Phạm Văn T nhưng ông T vắng mặt do bận việc nên không giải quyết được. Khoảng 17h00 cùng ngày sau khi từ Ủy ban nhân dân thị trấn V về, bực việc ông T có đơn kiến nghị nhưng không ra giải quyết nên bà V một mình đi bộ ra trước cổng nhà dọn rác thì thấy ông T đang ngồi uống nước với anh Trần Viết B ở quán bún nhà anh B nên bà V chửi ông T. Hai bên lời qua tiếng lại với nhau. Bà V bảo "Thế mả nhà ông đặt ở đấy à mà cấm tôi mở cửa". Tức quá ông T bảo "Thế thì tao cho mày chết" rồi chạy về nhà lấy 01 thanh sắt xoắn tròn dạng xà cầy (phi 20, dài 80cm) bên bàn tay phải ra đứng đối diện cách chỗ bà V khoảng 70cm rồi giơ thanh sắt lên vụt 01 phát theo chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài thì bà V giơ tay trái lên đỡ trúng vào mỏm khuỷu tay trái. Bà V liền giằng thanh sắt của T nhưng không giằng được. Sau đó, bà V ôm khuỷu tay trái rồi đi bộ nhanh về Trụ sở Công an thị trấn Văn Điển cách đó khoảng 60m để trình báo rồi đến bệnh viện khám điều trị. Còn ông T thì cầm thanh sắt về cất giấu ở sân nhà T tại vị trí đã lấy ban đầu.
Tại bản Kết luận giám định thương tích số 788/KLTTCT-TTPY ngày 17/6/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y kết luận:
"Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.
1. Các kết quả chính:
- Sẹo vết mổ mặt sau khuỷu trái: 02%.
- Sẹo dẫn lưu mặt ngoài khuỷu trái: 01%.
- Vỡ tách rời mỏm khuỷu trái đã phẫu thuật kết hợp xương, có lấy bỏ mảnh xương vỡ: 10%.
2. Kết luận:
- 2.1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Nguyễn Thị Hồng V tại thời điểm giám định là: 13% (Mười ba phần trăm). Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT.
- 2.2. Kết luận khác:
Cơ chế hình thành thương tích: Do vật tày gây nên.
Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng, biến chứng của tổn thương."
Tại Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 1723/KLTTCT-TTPY ngày 10/12/2024 của Trung tâm P kết luận:
"1. Các kết quả chính:
- 1.1. Tại thời điểm giám định bổ sung, vỡ mỏm khuỷu trái liền xương tốt, chức năng khớp khuỷu không hạn chế, phục hồi tốt. Vì vậy giữ nguyên Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 788/KLTTCT-TTPY ngày 17/6/2024 của Trung tâm P %
2. Kết luận:
- 2.1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Nguyễn Thị Hồng V sau hai lần giám định là: 13% (mười ba phần trăm). Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT.
- 2.2. Kết luận khác:
Cơ chế hình thành thương tích: Do vật tày gây nên."
Ngày 26/11/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T ra Công văn số 2842 đề nghị Trung tâm P giải thích về cơ chế hình thành gây thương tích của bà Nguyễn Thị Hồng V. Tại Công văn số 865/CV-TTPY ngày 04/12/2024 của Trung tâm P:
Sau khi xem xét lại hồ sơ, Trung tâm P trả lời như sau:
- Theo Công văn số 2842 của Cơ quan CSĐT Công an huyện T thanh sắt hình tròn phi 25 được mô tả có đặc điểm hình tròn, kích thước 2,5 cm, dài 1m, bên ngoài có rãnh xoắn, là vật tày, vật tày có cạnh.
- Căn cứ hồ sơ y tế của Bệnh viện Đ, bà V vào viện ngày 01/02/2024 khám thấy có sưng nề, đau chói vùng khuỷu tay trái, hạn chế gấp duỗi khuỷu tay trái, gãy mỏm khuỷu tay trái. Tại Trung tâm P ghi nhận bà V có vỡ tách rời mỏm khuỷu trái.
Cơ chế hình thành thương tích trên do vật tày gây nên. Như vậy, thanh sắt được mô tả ở trên là vật tày có thể gây ra thương tích của bà V.
Về dân sự: Bà Nguyễn Thị Hồng V yêu cầu bị cáo Phạm Văn T phải bồi thường thương tích là 63.838.066 đồng.
Bản án số 40/2020/HS-ST ngày 29/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội đã áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, o, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 22/01/2025 đến ngày 26/02/2025.
Về dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Phạm Văn T bồi thường cho bà bà Nguyễn Thị Hồng V số tiền 63.838.066 đồng để khắc phục hậu quả (Theo Biên lai thu tiền số 0049686 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội).
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 01/4/2025, bị cáo Phạm Văn T có đơn kháng cáo đề nghị được xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng án treo.
Ngày 04/4/2025, bị hại là bà Nguyễn Thị Hồng V có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét tăng hình phạt.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu, thừa nhận việc gây thương tích cho bà V là sai và xin lỗi bà V cùng gia đình, sau khi xảy ra sự việc bị cáo đã sang nhà nhưng bà V không mở cửa cho vào để thăm hỏi và xin lỗi. Bị cáo đã lớn tuổi, sức khoẻ yếu, đang điều trị tiểu đường và huyết áp và nhiều bệnh lý phơi nhiễm chất độc da cam do từ năm 1971-1982 công tác tại sư đoàn 471 quân khu E (là vùng bị phơi nhiễm chất độc da cam) và thuộc đối tượng làm hồ sơ phơi nhiễm chất độc da cam. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng án treo.
Bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo T và trình bày bản thân bị hại không mong muốn bị cáo phải đi tù nhưng do bức xúc về cách hành xử của bị hại, cụ thể bị cáo T kiện cáo không có căn cứ nhiều năm, sau khi gây thương tích cho bị hại thì bị cáo T đã không hợp tác với cơ quan điều tra dẫn đến vụ án kéo dài, không thăm hỏi và thăm viếng khi gia đình bị hại có tang, tại phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo xin lỗi bị hại là do bị cáo không muốn phải đi tù chứ không có mong muốn thật tâm xin lỗi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đánh giá tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và nhận định. Toà án cấp sơ thẩm kết án đúng người đúng tội. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Phạm Văn T xuất trình tài liệu mới thể hiện bị cáo đang điều trị bệnh Tiểu đường và nhiều bệnh khác. Xét thấy bị cáo Phạm Văn T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, o, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên không nhất thiết cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội cũng đủ cải tạo giáo dục đối với bị cáo, áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn T. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ các Điều 331; 332; 333; 334; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại về hình thức;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T về nội dung; Không chấp nhận kháng cáo của bị hại tăng hình phạt cho bị cáo. Sửa Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 27/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội về hình phạt đối với bị cáo Phạm Văn T theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, o, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Phạt Bị cáo Phạm Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Luật sư Trình Kiên C - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại – Bà Nguyễn Thị Hồng V không nhất trí với phát biểu giải quyết vụ án của vị đại diện VKS, luật sư cho rằng nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn từ tranh chấp đất đai, bị cáo có tình trốn tránh trách nhiệm, không xin lỗi khi gây thương tích cho bị hại, không đến thăm viếng khi nhà bị hại có tang. Chỉ sau khi bị khởi tố thì bị cáo mới đến xin lỗi là không thể chấp nhận được nên cần thiết phải có biện pháp phòng ngừa để bị cáo ăn năn về hành vi của mình và cần thiết phải cải tạo tại nơi giam giữ mới có tác dụng giáo dục bị cáo.
Bà V không nhất trí với đề nghị của VKS cho bị cáo T được hưởng án treo và cho rằng bị cáo bị phạt tù bao lâu cũng không ảnh hưởng gì đến bà, tuy nhiên thương tích bị cáo gây ra bị hại phải gánh chịu nên cần xử hình phạt tù đối với bị cáo T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án này, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục; không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định bị cáo và bị hại có kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 17h00 ngày 01/02/2024, tại đầu ngõ A N, thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội. Xuất phát từ tranh chấp ngõ đi chung dẫn đến bất đồng trong lời ăn tiếng nói, Phạm Văn T đã dùng 01 thanh sắt tròn xoắn phi 20, dài 80 cm là hung khí nguy hiểm vụt 01 phát trúng mỏm khuỷu tay trái bà V gây thương tích sưng nề và được giám định tổn hại sức khỏe 13%.
Hành vi trên của Phạm Văn T bị Tòa án cấp sơ thẩm kết án về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo và bị hại, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, chẳng những gây tổn hại về sức khỏe, tinh thần cho bị hại mà còn gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bản án hình sự sơ thẩm nhận định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền bồi thường vào cơ quan thi hành án, có thành tích trong giai đoạn phục vụ trong quân đội và đã trên 70 tuổi.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo xuất trình tài liệu thể hiện bị cáo đang phải điều trị bệnh đái tháo đường phụ thuộc insulin, huyết áp cao, ngoài ra bị cáo thuộc đối tượng bị phơi nhiễm chất độc da cam do thời gian quân ngũ đóng quân tại vùng bị phơi nhiễm. Xét bị cáo và bị hại là hàng xóm láng giềng, mâu thuẫn phát sinh từ hai phía, bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, o, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú ổn định. Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nói trên thì Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt tù đối với bị cáo Phạm Văn T là có phần nghiêm khắc và không cần thiết nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
Không chấp nhận kháng cáo của bị hại tăng hình phạt đối với bị cáo.
[4] Về án phí phúc thẩm:
Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm nên bị cáo, bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Về hiệu lực thi hành bản án: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội tại phiên toà phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T; Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị Hồng V. Sửa quyết định của Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 27/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội. Cụ thể
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, o, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 13.6.2025).
Giao bị cáo Phạm Văn T cho Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện T, Thành phố Hà Nội để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.
Trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
1.1) Bị cáo Phạm Văn T và bị hại Nguyễn Thị Hồng V không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
2. Về hiệu lực thi hành bản án: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Trâm Anh |
Bản án số 526/2025/HS-PT ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 526/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hình sự phúc thẩm
