|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 525/2025/HS-PT
Ngày: 13/6/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Hạnh |
| Bà Lê Thị Mỹ Lanh | |
| - Thư ký phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thanh - Thư ký viên chính Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thuý Diệp - Kiểm sát viên. |
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 323/2025/TLPT-HS ngày 02 tháng 4 năm 2025, do có kháng cáo của bị cáo Hoàng Trọng H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2025/HS-ST ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo:
Hoàng Trọng H, sinh năm 1993, tại tỉnh Yên Bái; Nơi đăng ký HKTT: B1804 – HH2B1, khu đô thị D, phường Y, quận H, Thành phố Hà Nội; chỗ ở hiện nay: Phòng 3105A G2 V, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Con ông: Hoàng Văn H1; Con bà: Hoàng Thị T; vợ: Trần Thị Mỹ L; Có 01 con, sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an Thành phố H (Có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra, còn có 02 bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị. (Tòa án không triệu tập).
- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Trọng H:
Ông Lê Văn T1 và ông Bùi Văn T2, Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. (Luật sư T1 có mặt, Luật sư T2 vắng mặt tại phiên toà).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: (Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận N, Thành phố Hà Nội thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu 01/2024, Hoàng Trọng H xem trên mạng xã hội Facebook thấy trang Page bán mỹ phẩm K LADY CARE Niacinamide 20% Treatment Ampoule và K có nguồn gốc từ Hàn Quốc (do Công ty TNHH T3 đăng ký nhãn hiệu K Lady Care số 460460 ngày 25/09/2023 và phân phối tại Việt Nam) có nhiều khách hàng quan tâm nên H nảy sinh ý định kinh doanh online sản phẩm mỹ phẩm trên. Trọng H nói với bạn là Phạm Văn M lập tài khoản Facebook tên “Mỹ phẩm Hàn Quốc chính hãng” rồi sao chép hình ảnh quảng cáo về hai sản phẩm trên của các trang Page trên facebook để chạy quảng cáo bán hàng. Trọng Hưng bỏ vốn mua hàng còn M chạy quảng cáo, nhận hàng, chốt đơn, đóng gói gửi hàng cho khách. Lợi nhuận sau khi trừ các chi phí sẽ chia cho M 25%, Trọng H được 75%. Khi M chạy quảng cáo trên mạng xã hội thấy có người hỏi mua sản phẩm nên Trọng H lên mạng internet tìm kiếm trên trang "thitruongsi.com" tìm nguồn cung cấp hai sản phẩm này để mua về bán kiếm lời.
Khoảng đầu tháng 01 năm 2024, qua trang "thitruongsi.com", thấy Ngô Quang H2 đăng bán hai sản phẩm này nên Trọng H đã liên hệ với Quang H2 (sử dụng tài khoản zalo tên “Vi Tiểu B” đăng ký bằng số điện thoại 0833.335.xxx) để mua hàng. Quang H2 báo giá sản phẩm K LADY CARE Premium Retinol Cream loại 30ml/hộp là 19.000 đồng/sản phẩm; K LADY CARE Niacinamide 20% Treatment Ampoule là 21.000 đồng/sản phẩm. Quá trình trao đổi mua bán mỹ phẩm của Quang H2, T nhận thức và biết là mỹ phẩm giả vì giá của các sản phẩm này rẻ hơn nhiều so với các sản phẩm chính hãng đăng trên các trang mạng quảng cáo chính thức nhưng vì hám lợi nên Trọng H vẫn đặt mua hàng giả của Quang H2 để bán kiếm lời. Sau khi thỏa thuận về giá cả, Trọng H đã ba lần đặt mua hai sản phẩm mỹ phẩm giả trên của Quang H2 và yêu cầu Quang H2 gửi hàng cho Trọng H theo địa chỉ số D ngách G ngõ C đường M, phường M, N, Hà Nội (là địa chỉ phòng trọ của M) và cho số điện thoại của M để liên hệ giao nhận hàng với M. Sau khi M nhận được mỹ phẩm giả, Trọng H sẽ chuyển khoản thanh toán tiền cho Quang H2 từ tài khoản số [...] tại ngân hàng A của H2 đến tài khoản số 0983449018 tại M2 của Q (các giao dịch chuyển khoản đều không ghi nội dung). Cụ thể: Ngày 16/01/2024, sau khi nhận được hàng, Trọng H chuyển 111.200.000 đồng để trả tiền mua sản phẩm K LADY CARE Premium Retinol Cream loại 30ml/hộp giả của Quang H2. Ngày 17/01/2024, sau khi nhận được hàng, Trọng H tiếp tục chuyển 128.240.000 đồng cho Quang H2 để trả tiền mua sản phẩm K LADY CARE Niacinamide 20% Treatment Ampoule loại 30ml/hộp. Sau khi nhận được tiền, cũng ngày 17/01/2024, Quang H2 đã chuyển 124.740.000 đồng đến tài khoản số 1022709863380 tại ngân hàng V của Hoàng Xuân H3 (Sinh năm: 2001, HKTT thôn 3, P, N, Ninh Bình, là em họ của Quang H2) và báo H3 chuyển lại cho Quang H2 số tiền trên với mục đích để không bị phát hiện việc mua bán hàng giả. Ngày 19/01/2024, sau khi nhận được hàng, Trọng H tiếp tục chuyển 118.890.000 đồng cho Quang H2 để trả tiền mua sản phẩm K LADY CARE Niacinamide 20% Treatment Ampoule loại 30ml/hộp. Tổng cộng ba lần sau khi nhận được hàng, Trọng H đã chuyển khoản cho Quang H2 358.330.000 đồng để thanh toán trả tiền mua tổng 11.767 hộp mỹ phẩm giả nhãn hiệu K LADY CARE Niacinamide 20% Treatment Ampoule loại 30ml/hộp và 5.852 hộp mỹ phẩm K LADY CARE Premium Retinol Cream loại 30ml/hộp.
Trong quá trình nhận hàng, M kiểm tra thấy có nhiều sản phẩm không có tem chống hàng giả, không có hóa đơn chứng từ và có các đề can tem chống hàng giả gửi kèm nên M biết số hàng do Trọng H mua về là giả, M đã dán tem lên sản phẩm giả, tiến hành đóng gói hàng để bán online kiếm tiền như đã thỏa thuận với Trọng H.
Ngô Quang H2 khai số mỹ phẩm giả K LADY CARE Niacinamide 20% Treatment Ampoule loại 30ml/hộp và K LADY CARE Premium Retinol Cream loại 30ml/hộp bán cho Trọng H, Quang H2 đã mua của Lâm Thị N (Sinh năm: 1991 - HKTT: Thôn T, xã N, TP P, Vĩnh Phúc) với giá là 19.000 đồng/hộp, bán lại cho Trọng H với giá 21.000 đồng/hộp, hưởng lợi 2.000 đồng/hộp. Ngày 17/01/2024 và ngày 19/01/2024, sau khi nhận được tiền của Trọng H, Quang H2 đã chuyển khoản số tiền 112.800.000 đồng và 116.600.000 đồng đến số tài khoản 0813282999 của N tại Ngân hàng V1 để thanh toán tiền mua 12.000 hộp mỹ phẩm giả. Số mỹ phẩm giả K LADY CARE Niacinamide 20% Treatment Ampoule loại 30m hộp cùng với các tem chống hàng giả được N đóng vào thùng catton rồi gửi xe ô tô về khu vực đường N giao cho Quang H2, nhưng Quang H2 không trực tiếp đến nhận hàng mà thuê xe ô tô ở khu vực N nhận hàng chở thẳng về đường M, M, N, Hà Nội giao cho Trọng H4.
Đối với sản phẩm kem K LADY CARE Premium Retinol Cream loại 30ml/hộp giả, Quang H2 mua của một người trong thành phố Hồ Chí Minh (H2 không biết rõ tên tuổi địa chỉ) có tên trên telegram là “Công Chí” với giá 17.000 đồng/hộp, H2 bán lại cho Trọng H với giá 19.000 đồng/hộp, được hưởng lợi 2.000 đồng/hộp. Các sản phẩm K LADY CARE Premium Retinol Cream loại 30ml/hộp giả sau khi đặt hàng của “Công Chỉ” được đóng trong thùng cattong sau đó gửi theo đường tàu hỏa ra ga G. Quang H2 cũng không trực tiếp nhận hàng mà thuê lái xe ô tô tải nhận, vận chuyển đến địa chỉ do Trọng H yêu cầu. Việc thanh toán tiền mua mỹ phẩm kem Retinol K Lady giả của “Công Chỉ” được Quang H2 thanh toán bằng tiền mặt nên không nhớ chuyển bao nhiêu và chuyển như thế nào cho “Công Chỉ”.
Ngày 15,16/01/2024 và ngày 18,19/01/2014, M là người trực tiếp nhận hàng mỹ phẩm giả do Trọng H đặt mua và được Quang H2 chuyển đến phòng trọ của M tại hẻm S ngách G ngõ C đường M, phường M, N, Hà Nội.
Do trong quá trình chạy quảng cáo, Trọng H thấy khách hàng quan tâm đến sản phẩm kem Retinol nhiều hơn trong khi Trọng H đã đặt hàng khoảng 11.767 hộp Niacinamide 20% Treatment Ampoule 30ml Serum của Quang H2 nhiều nên ngày 18/01/2024, Trọng H đã liên hệ với một người trên facebook (H không nhớ nhân thân lai lịch) để đổi sản phẩm kem Serum giả sang kem Rentiol theo tỉ lệ 1:1. Người này đồng ý, đã đến nhận hàng của M chở đi nhưng Trọng H không nhớ số lượng hàng mỹ phẩm giả đã đổi là bao nhiêu.
Đến khoảng 14h30' ngày 19/01/2024, Đội Quản lý thị trường S1 – Cục Q phối hợp với Công an quận N tiến hành kiểm tra hành chính tại phòng trọ của M đã phát hiện, thu giữ được các sản phẩm mỹ phẩm giả trên, đưa M cùng Trọng H về trụ sở để làm rõ.
Ngày 09/4/2024, Ngô Quang H2 đã đến trụ sở Cơ quan điều tra làm việc theo triệu tập.
Vật chứng: Thu giữ của Hoàng Trọng H: 34 thùng catton có 10.788 hộp giấy, bên trên có dòng chữ “K LADY CARE PREMIUM RETINOL. ELASTIN CREAM 30ml", bên trong mỗi hộp đều chứa tuýp kem mỹ phẩm có dòng chữ “K LADY CARE PREMIUM RETINOL ELASTIN CREAM 30ml", 25 thùng catton có 4.967 hộp giấy, bên trên có dòng chữ “ K LADY CARE Niacinamide 20% Treatment Ampoule 30ml", bên trong mỗi hộp đều chứa tuýp kem mỹ phẩm có dòng chữ “K LADY CARE Niacinamide 20% Treatment Ampoule 30ml"; 01 điện thoại iphone 12 Promax, gắn sim điện thoại. Thu giữ của Phạm Văn M: 36 bản giấy decal kích thước 33x39,5 bên trên mỗi bản decal có dán 220 tem chống hàng giả kích thước 3x 1,5cm (có mã QR) ghi tên nhãn hiệu K Lady Care. Thu giữ của Ngô Quang H2: 01 điện thoại Iphone 11 Promax, màu vàng, gắn sim điện thoại.
Ngày 04/03/2024, ông Tạ Hoàng H5 (SN 1995, HKTT: Dược Hạ, T, S, Hà Nội) là đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH T3 đã giao nộp cho cơ quan điều tra: 03 hộp K LADY CARE PREMIUM RETINOL ELASTIN CREAM 30ml, bên trong mỗi hộp có chứa tuýp mỹ phẩm kem dưỡng da có dòng chữ “K LADY CARE PREMIUM RETINOI ELASTIN CREAM 30ml", trên mỗi hộp có dán kem phụ đề tên Công ty TNHH T3; 03 hộp “K LADY CARE NIACINAMIDE 20% Treatment Ampoule 30ml", bên trong mỗi hộp đều chứa tuýt mỹ phẩm kem dưỡng da có dòng chữ “K LADY CARE NIACINAMIDE 20% Treatment Ampoule 30ml" trên mỗi hộp có dán tem phụ đề tên công ty TNHH T3 để cơ quan điều tra sử dụng làm mẫu so sánh giải quyết vụ án.
Ngày 01/03/2024, Cơ quan điều tra đã lấy mẫu vật (lấy ngẫu nhiên trong 34 thùng catton có 10.788 hộp giấy, bên trên có dòng chữ “K LADY CARE PREMIUM RETINOL ELASTIN CREAM 30ml", mỗi thùng lấy 05 hộp, lấy tổng cộng 170 hộp; lấy ngẫu nhiên trong 25 thùng catton có 4.967 hộp giấy, bên trên có dòng chữ “ K LADY CARE Niacinamide 20% Treatment A 30ml", mỗi thùng 05 hộp, tổng cộng 125 hộp) để giám định và ngày 06/3/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số mỹ phẩm đã trích mẫu ở trên.
Tại Bản Kết luận giám định số 1852/KL-KTHS ngày 29 tháng 3 năm 2024 của V2 - Bộ C xác định:
- 170 (một trăm bảy mươi) tuýp mỹ phẩm kem dưỡng da ghi nhân hiệu "K LADY CARE PREMIUM RETINOL ELASTIN CREAM", loại 30 ml/tuýp (ký hiệu A1) gửi giám định đều không cùng loại với 03 (ba) tuýp mỹ phẩm kem dưỡng da nhãn hiệu "K LADY CARE PREMIUM RETINOL ELASTIN CREAM", loại 30 ml/tuýp (ký hiệu MI) do Công ty TNHH T3 cung cấp làm mẫu so sánh về vỏ tuýp, khối lượng trung bình và thành phần hóa học của mẫu chất bên trong.
- 125 (một trăm hai mươi năm) lọ mỹ phẩm dưỡng da ghi nhãn hiệu "K LADY CARE NIACINAMIDE 20% Treatment Ampoule", loại 30 ml/lg (ký hiệu A2) gửi giám định đều không cùng loại với 03 (ba) lọ mỹ phẩm dưỡng da nhãn hiệu "K LADY CARE NIACINAMIDE 20% Treatment Ampoule", loại 30 ml/lg (ký hiệu M2) do Công ty TNHH T3 cung cấp làm mẫu so sánh về vỏ lọ, khối lượng trung bình và thành phần hóa học của mẫu chất bên trong.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 59/KLĐGTS ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - UBND quận N, Hà Nội, xác định: 10.788 hộp kem K LADY CARE Premium Retinol Elastin Cream loại 30ml/hộp; Giá trị tài sản là: 10.788 hộp x 336.000 đồng/hộp = 3.624.768.000 đồng; 4.967 hộp tinh chất K LADY CARE Niacinamide 20% Treatment Ampoule loại 30ml/hộp; Giá trị tài sản là: 4.967 hộp x 212.000 đồng/hộp = 1.053.004.000 đồng.
Như vậy, tổng giá trị hàng giả tương đương với số lượng hàng thật của sản phẩm K LADY CARE Premium Retinol Elastin Cream loại 30ml/hộp và sản phẩm tinh chất K LADY CARE Niacinamide 20% Treatment Ampoule loại 30ml/hộp mà Quang H2, Trọng H và M đã mua bán với nhau là 4.677.772.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Ngô Quang H2, Hoàng Trọng H và Phạm Văn M đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Trọng H và M1 khai số mỹ phẩm giả do mới mua về, M và H đang đóng tem mác để bán nhưng chưa kịp bán cho ai nên cả hai chưa được hưởng lợi gì. Quang H2 khai số tiền hưởng lợi từ việc đặt mua mỹ phẩm của N bán lại cho Trọng H mỗi một sản phẩm được lãi 2.000 đồng/1 hộp, Trọng Hưng đặt mua 11.767 hộp tinh chất K LADY CARE Niacinamide 20% Treatment Ampoule loại 30ml/hộp nên Quang H2 được hưởng lợi 23.534.000 đồng, còn đối với sản phẩm K LADY CARE Premium Retinol Elastin Cream loại 30ml/hộp, Quang H2 khai lãi 2.000 đồng/1 hộp, Trọng H đặt mua 5.852 hộp sản phẩm K LADY CARE Premium Retinol Elastin Cream loại 30ml/hộp nên Quang H2 được hưởng lợi 11.704.000 đồng. Tổng số tiền Quang H2 hưởng lợi bất chính là 35.238.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã ủy thác cho Cơ quan CSĐT - Công an T4 (PC03) tiến hành ghi lời khai của ông Nguyễn Minh G (Sinh năm: 1994, là người đại diện pháp luật của Công ty TNHH Đ (gọi tắt là Công ty Đ) - hiện đang bị tạm giam về hành vi sản xuất hàng giả), kết quả: ông G khai không quen biết, không giao dịch gì với Lâm Thị N. Công ty Đ không sản xuất, gia công sản phẩm nhãn hiệu Macskin nhưng thừa nhận số hóa đơn GTGT kí tên Nguyễn Minh G và đóng dấu của Công ty Đ (Hóa đơn do N cung cấp) trùng với mẫu hóa đơn, con dấu của Công ty Đ nhưng chữ kí đứng tên Nguyễn Minh G không phải chữ kí do G kí ra.
Ngày 18/11/2024, Sở Y tế Thành phố H có Văn bản số 12138/SYT- QLDVYT xác nhận đã cấp hai phiếu công bố mỹ phẩm đối với nhãn hàng MACSKIN đối với công ty chịu trách nhiệm đưa sản phẩm ra thị trường: Công ty TNHH S2 do Lâm Thị N là đại diện pháp luật.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu thập tin nhắn trao đổi giữa Ngô Quang H2 và Lâm Thị N về mua bán mỹ phẩm, nhưng nội dung tin nhắn không có tên cụ thể về loại mỹ phẩm nên không đủ cơ sở xác định số mỹ phẩm N bản cho Ngô Quang H2 là mỹ phẩm nhãn hiệu K Lady giả. Cơ quan điều tra đã tiến hành đổi chất để làm rõ mâu thuẫn trong lời khai giữa Lâm Thị N và Ngô Quang H2 nhưng cả N và Quang H2 vẫn giữ nguyên lời khai của mình như đã nêu trên. Ngoài lời khai của Ngô Quang H2, Cơ quan điều tra không thu thập được chứng cứ nào khác nên không đủ cơ sở để kết luận xử lý đối với Lâm Thị N về hành vi mua bán mỹ phẩm giả với Ngô Quang H2.
Đối với Hoàng Xuân H3: Quá trình điều tra xác định có việc H3 nhận tiền sau đó chuyển lại cho Quang H2 nhưng H3 không biết việc H2 chuyển tiền cho H3 là để che giấu việc mua bán hàng giả nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với người sử dụng Telegram "Công Chỉ” (người bán hàng giả cho Ngô Quang H2), do H2 khai không biết rõ nhân thân lai lịch nên cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ và xử lý.
Về dân sự: Anh Tạ Hoàng H5, đại diện theo ủy quyền của công ty TNHH T3 yêu cầu xử lý các đối tượng theo quy định pháp luật và không có yêu cầu bồi thường dân sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2025/HSST ngày 19/02/2025 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội đã xét xử:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Trọng H phạm tội “Buôn bán hàng giả”.
Áp điểm a khoản 3 Điều 192; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 ; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Hoàng Trọng H 7 (bảy) năm 9 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/6/2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo và biện pháp tư pháp của các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/3/2025, bị cáo Hoàng Trọng H có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo xuất trình tình tiết mới thể hiện đã nộp án phí sơ thẩm, Đơn xác nhân của chính quyền địa phương gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn: vợ bị suy thận giai đoạn cuối đã được ghép thận và phải dùng thuốc chống thải loại hàng ngày, con bị bệnh tim bẩm sinh, vợ ở nhà chăm con không có công việc ổn định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo phù hợp về chủ thể và nội dung theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, trong hạn luật định nên kháng cáo hợp lệ.
Về nội dung: Căn cứ lời khai của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Hoàng Trọng H về tội “Buôn bán hàng giả” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 192 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo thấy: Cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm a khoản 3 Điều 192; điểm t, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Trọng H 07 năm 09 tháng tù về tội “Buôn bán hàng giả” là có căn cứ, đúng pháp luật. Cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết tăng nặng “ Phạm tội 2 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình có công với cách mạng, tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra phát hiện ra tội phạm và đồng phạm. Tại phiên toà, bị cáo đã bổ sung tình tiết giảm nhẹ mới là vợ bị cáo bị suy thận giai đoạn cuối và đã phải ghép thận, dùng thuốc chống thải loại hàng ngày; con trai bị bệnh tim bẩm sinh và mẹ bị ung thư; Hành vi của các bị cáo là đồng phạm giản đơn, bị cáo Hoàng Trọng H với vai trò thứ hai rủ M cùng tham gia mua bán hàng giả, nếu được hưởng lợi sẽ hưởng lợi cao hơn nhưng thực tế chưa bán được nên chưa được hưởng lợi. Cấp sơ thẩm đã xét xử bị Hoàng Trọng H 07 năm 09 tháng là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, căn cứ các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nêu trên có căn cứ sửa án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Trọng H, giảm hình phạt cho bị cáo Hoàng Trọng H từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 3 Điều 192; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Trọng H từ 06 năm 03 tháng tù đến 06 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/6/2024.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Người bào chữa cho bị cáo là Luật sư Lê Văn T1 phát biểu quan điểm: Đồng thuận quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát, từ đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt nhiều hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo. Xét tính chất mức độ: Bị cáo mới mua hàng về chưa giao dịch, chưa biết bán giá bao nhiêu nên để trong kho, chưa gây hậu quả, chưa thu lợi bất chính mà bỏ tiền ra mua của Ngô Quang H2. Tổng số tiền chuyển khoản cho H2 khoảng 350.000.000 đồng trong đó có cả tiền dành dụm của bị cáo trong nhiều năm, nhìn số tiền bị qui kết buôn bán hàng giả tương đương với giá trị hàng thật lớn nhưng thực chất là chưa gây ra hậu quả gì.
Về tình tiết giảm nhẹ Bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt, con bị bệnh tim bẩm sinh, bệnh gần với người bệnh và phải điều trị suốt đời; vợ bị cáo mặc dù đã được ghép thận nhưng vẫn phải dùng thuốc chống thải loại suốt đời; mẹ già nhiều bệnh tật; ông nội có công với cách mạng; mẹ bị cáo có thành tích xuất sắc trong công tác và được tặng thưởng nhiều H6, Huy chương. Với những tình tiết giảm nhẹ như đã phân tích trên, mong Hội đồng xét xử xem xét ra bản án có tình, có lý, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo hình phạt 05 năm tù để tạo cơ hội cho bị cáo cải tạo, sớm trở về chăm sóc mẹ già, vợ và con bệnh tật.
Bị cáo nhất trí với lời bào chữa của Luật sư và không có ý kiến tranh luận, bổ sung gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định, đúng về chủ thể, hình thức nên hợp lệ theo Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ lời khai của bị cáo, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 15/01/2024 đến ngày 19/01/2024, tại phòng trọ ở số D, ngách G, ngõ C đường M, phường M, N, Hà Nội, Hoàng Trọng H và Phạm Văn M đã nhiều lần đặt mua của Ngô Quang H2 tổng số 10.788 hộp kem K LADY CARE Premium Retinol Elastin Cream loại 30ml/hộp giả với trị giá tính tương đương với giá trị hàng thật là 3.624.768.000 đồng và 4.967 hộp tinh chất K LADY CARE Niacinamide 20% Treatment Ampoule loại 30ml/hộp giả với trị giá tính tương đương với giá trị hàng thật là 1.053.004.000 đồng (02 sản phẩm mỹ phẩm trên đều do Công ty TNHH T3 nhập khẩu và phân phối tại Việt Nam). Ngày 19/01/2024, khi Hoàng Trọng H và Phạm Văn M đang đóng gói hàng mỹ phẩm giả để bán cho khách nhưng chưa kịp bán thì bị Đội Quản lý Thị trường S1 phối hợp với Công an quận N kiểm tra phát hiện, thu giữ toàn bộ số hàng mỹ phẩm giả nêu trên. Tổng trị giá hàng giả tính tương đương với giá trị hàng thật Ngô Quang H2, Hoàng Trọng H và Phạm Văn M đã mua bán là 4.677.772.000 đồng.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại của Nhà nước đồng thời xâm phạm đến quyền và lợi ích của người sản xuất, phân phối, buôn bán hàng hóa và người tiêu dùng. Bị cáo biết rõ pháp luật của Nhà nước cấm buôn bán hàng giả nhưng vì mục đích lợi nhuận bị cáo vẫn thực hiện hành vi mua bán hàng giả là mỹ phẩm, bất chấp pháp luật nên phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Với hành vi của bị cáo như trên, cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm a khoản 3 Điều 192; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Trọng H 07 năm 09 tháng tù về tội “Buôn bán hàng giả” là đã đánh giá đúng tính chất mức độ, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình các tình tiết mới thể hiện: đã tự nguyện nộp án phí hình sự sơ thẩm; Đơn xác nhận của chính quyền địa phương là gia đình có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt: vợ bị bệnh suy thận dù đã được ghép thận nhưng vẫn phải điều trị bằng thuốc chống loại thải suốt đời; con bị bệnh tim bẩm sinh cần người chăm sóc; Ông nội bị cáo có công với cách mạng, mẹ bị cáo có thành tích xuất sắc trong công tác, có nhiều Bằng khen; bố, mẹ già thường xuyên ốm đau. Mặt khác, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải và đã tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm, đã khai ra đồng phạm là bị cáo Ngô Quang H2 để Cơ quan điều tra nhanh chóng kết thúc vụ án; Bị cáo lần đầu phạm tội, thực tế, bị cáo chưa kịp bán hàng giả ra thị trường thì đã bị bắt nên chưa gây ra hậu quả, chưa được hưởng lợi từ hành vi vi phạm pháp luật của mình. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hoàng Trọng H.
Lời bào chữa của Luật sư Lê Văn T1 bào chữa cho bị cáo Hoàng Trọng H có căn cứ nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Hoàng Trọng H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận. Xác nhận bị cáo đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu nộp án phí, lệ phí Tòa án số 26893 ngày 19/2/2025 tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hà NộQ.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Trọng H:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Trọng H phạm tội “Buôn bán hàng giả”.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 192; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Hoàng Trọng H 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/6/2024.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hoàng Trọng H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Xác nhận bị cáo Hoàng Trọng H đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 26893 ngày 19/2/2025 tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hà NộQ.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Thủy |
Bản án số 525/2025/HS-PT ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về buôn bán hàng giả
- Số bản án: 525/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng giả
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Trọng H: Xử phạt bị cáo Hoàng Trọng H 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/6/2024.
