TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI Bản án số 525/2024/HS-PT Ngày 10/7/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh;
Các Thẩm phán: Ông Chu Thành Quang;
Ông Nguyễn Văn Cường.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Khúc Thị Hoàng Hạnh - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 505/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Trần Văn L phạm tội “Giết người”, do có kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, kháng cáo của bị cáo và người đại diện theo pháp luật của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
* Bị cáo có kháng cáo:
Trần Văn L, sinh ngày 15/01/1977 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị H; vợ: Trịnh Thị T1, sinh năm 1979, có 04 con chung; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 12/8/2023 đến ngày 21/8/2023 chuyển tạm giam, có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo là Luật sư Bùi Xuân S, Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Phạm Hữu L1 và Cộng sự - Đoàn Luật sư tỉnh T; địa chỉ: Số C, đường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, có mặt.
* Bị hại: Anh Trần Ngọc D, sinh năm 1976 (đã chết).
Người đại diện theo pháp luật của bị hại:
- Ông Trần Ngọc T2, sinh năm 1948 và bà Chu Thị H1, sinh năm 1952 (đã chết ngày 03/11/2023), (bố mẹ đẻ của bị hại); đều trú tại: Số A, ngõ A, đường T, tổ A, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, có mặt.
- Chị Trịnh Thị H2, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vợ của bị hại), có mặt.
- Cháu Trần Nhật A, sinh ngày 20/02/2005; nơi cư trú: Tập thể Công ty K, tổ H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội (con đẻ của bị hại với chị Trần Thị Hải Y), vắng mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 12/8/2023, chị Bùi Thị D1 khai trương cửa hàng bán giày dép tại nơi ở thôn A, xã A, huyện Q, có mời khách đến ăn uống tại cửa hàng để mừng khai trương, trong đó có Trần Văn L. Khoảng 20 giờ cùng ngày, sau khi ăn cơm, uống rượu xong, bị cáo Lê cùng vợ là chị Trịnh Thị T1 và chị Bùi Thị H3 ở cùng thôn và một số người đứng chụp ảnh cạnh các lẵng hoa mừng khai trương ở cửa hàng. Lúc này, anh Trần Ngọc D đi bộ cùng con trai là cháu Trần Ngọc T3 vào trong cửa hàng của chị D1. Khi đi qua khu vực bị cáo L và mọi người đang chụp ảnh thì anh D nói đùa “chụp vừa thôi không hoa héo hết", nhưng không ai nói gì. Sau đó, anh D đi vào trong cửa hàng của chị D1 mua 01 chiếc kẹp tóc rồi cùng cháu T3 đi về nhà. Anh D tiếp tục đi bộ vòng đi vòng lại trên trục đường liên xã nhiều lần. Bị cáo Lê ở lại nhà chị D1 ngồi hát Karaoke một lúc thì đi bộ về nhà mình ở cùng dãy và cách nhà chị D1 khoảng 20m. Bị cáo ngồi uống nước, hút thuốc trước cửa nhà thì lại nhìn thấy bố con anh D đi ở bên kia đường. Do đã uống rượu (kết quả kiểm tra nồng độ cồn của bị cáo Lê là 0,687 mg/l) và bực tức với câu nói của anh D trước đó nên bị cáo nảy sinh ý định đánh anh D. Đến khoảng 21 giờ, bị cáo lấy thanh kim loại trắng, đặc, hình hộp chữ nhật dài 114,5cm, rộng 2,6cm, nặng 1,2kg (loại thanh ray trượt cửa xe ô tô), có sẵn ở nhà đi sang bên kia đường, tiến về phía anh D. Anh D đi bộ đến khu vực trước bãi đất trống thì bị cáo Lê đi đến, đứng đối diện chỉ tay trái về phía anh D và nói: “Mày nói như thế là không được" (ý bị cáo là bảo anh D nói hoa khai trương ở cửa hàng héo). Khi cách anh D khoảng 1,5m, hai tay bị cáo cầm thanh kim loại giơ lên vụt một nhát, hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái vào vùng cổ bên trái anh D, làm anh D ngã nghiêng, đập đầu vùng thái dương phải xuống mặt đường đá, đầu hướng lề đường, chân hướng tim đường trong trạng thái bất tỉnh. Lúc này, anh Đào Văn T4, anh Trương Đăng S1, anh Bùi Gia Đ đang ngồi uống nước ở cửa hàng của anh T4 sát bãi đất trống, chạy đến can ngăn ôm, đẩy bị cáo Lê vào trong cửa hàng quần áo Lê T5 (cửa hàng của vợ bị cáo L). Anh T4 giằng thanh kim loại mà bị cáo L đang cầm trên tay để vào bên trong cửa hàng quần áo Lê T5. Anh Đ kiểm tra thấy anh D không còn thở và mạch không đập nữa nên tiến hành hô hấp ép ngực sơ cứu. Ngay sau đó, anh Trịnh Vũ T6 và anh T4 đưa anh D đến Trạm y tế xã A, được ông Trịnh Công T7 - Trạm trưởng Trạm y tế xã khám và xác định huyết áp anh D không đo được, đồng tử giãn, không có động mạch cảnh, môi và chân tay tím, cổ trái có vết bầm tím khoảng 12cm, xác định anh D đã tử vong.
Bản Kết luận giám định tử thi số 1222/KL-KTHS ngày 26/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T về nguyên nhân chết của anh Trần Ngọc D kết luận (BL 115):
- Các kết quả chính:
- Khám ngoài: Trên tử thi có vết sây sát da, trợt da, tụ máu tại vùng cổ bên trái và các vết sây sát da, sưng nề, tụ máu tại vùng đầu, tay.
- Khám trong: Xuất huyết dưới nhện lan tỏa hai bên bán cầu đại não, diện cắt qua nhu mô không thuần nhất, tụ máu, chảy máu trong các não thất, tụ máu quanh tiểu não và hành não, các tạng còn lại xung huyết, không tổn thương.
- Giám định mô bệnh học: Não, tiểu não xuất huyết trong khoang dưới nhện, cơ tim xung huyết, thoái hóa thiểu dưỡng rải rác, phổi xung huyết, xuất huyết rải rác, các tạng còn lại xung huyết, thoái hoá tế bào.
- Giám định độc chất: Trong mẫu phủ tạng và dịch dạ dày ghi thu của tử thi Trần Ngọc D gửi giám định không tìm thấy các độc chất thường gặp: Cyanide (CN), thuốc diệt chuột (nhóm chống đông máu, các muối phốt phua...), hoá chất bảo vệ thực vật, alkaloid độc của mã tiền, cà độc dược, lá ngón, ô đầu - phụ tử, các chất an thần gây ngủ, kim loại nặng độc.
- Nguyên nhân chết của nạn nhân Trần Ngọc D: Ngừng tuần hoàn, ngừng hô hấp cấp do tổn thương hành cầu não.
Cáo trạng số 05/CT-VKSTB ngày 09/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Trần Văn L về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 22/3/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình đã quyết định:
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn L 20 (hai mươi) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 12/8/2023.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 591 Bộ luật Dân sự, chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo Trần Văn L về việc bồi thường cho ông Trần Ngọc T2 108.000.000 đồng tiền mai táng phí của bị hại. Buộc bị cáo phải bồi thường tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho ông Trần Ngọc T2, bà Chu Thị H1, chị Trịnh Thị H2, cháu Trần Ngọc T3, cháu Trần Nhật A, cháu Trần Ngọc B, mỗi người 20.000.000 đồng x 6 = 120.000.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường là: 228.000.000 đồng. Buộc bị cáo Trần Văn L phải cấp dưỡng nuôi cháu Trần Ngọc T3, Trần Ngọc B mỗi cháu 1.500.000 đồng/tháng kể từ tháng 8/2023 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chuyển số tiền 200.000.000 đồng bị cáo đã nộp bồi thường cho gia đình bị hại theo biên lai nộp số 0000076 ngày 03/01/2024 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Bình để thi hành các khoản tiền bồi thường mai táng phí và bồi thường tổn thất tinh thần cho ông Trần Ngọc T2, bà Chu Thị H1, chị Trịnh Thị H2, cháu Trần Ngọc T3, cháu Trần Nhật A, cháu Trần Ngọc B.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 28/3/2024, bị cáo Trần Văn L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt (BL420);
Ngày 04/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 03/QĐKN-VKSTB (BL426) đề nghị Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm theo hướng sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 22/3/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình, giảm hình phạt đối với bị cáo Trần Văn L;
Ngày 05/4/2024, đại diện hợp pháp của bị hại ông Trần Ngọc T2 kháng cáo phần trách nhiệm dân sự, đề nghị nâng số tiền cấp dưỡng đối với các con bị hại từ 1.500.000 đồng lên 2.000.000 đồng/tháng và đề nghị trợ cấp 01 lần (BL422).
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Trần Văn L giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và đồng ý với ý kiến ông Trần Ngọc T2 (đại diện hợp pháp của bị hại) về việc nâng số tiền cấp dưỡng đối với các con bị hại từ 1.500.000 đồng lên 2.000.000 đồng/tháng và thực hiện việc trả tiền cấp dưỡng 01 lần. Sau khi xét xử phúc thẩm, gia đình bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền án phí sơ thẩm và tiền bồi thường về mai tang phí, tổn thất tinh thần theo quyết định của Bản án sơ thẩm và bồi thường thêm cho gia đình bị hại 50.000.000 đồng, bị cáo đồng ý với việc gia đình mình bồi thường cho gia đình bị hại. Bị cáo nộp thêm các tài liệu thể hiện gia đình bị cáo là gia đình có công với cách mạng.
Luật sư Bùi Xuân S - người bào chữa cho bị cáo Trần Văn L đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo L, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Lê vì có tình tiết mới phát sinh và bị cáo cũng đã tự nguyện bồi thường theo yêu cầu của gia đình bị hại.
Đại diện của bị hại ông Trần Ngọc T2 có ý kiến: nếu bị cáo và gia đình bị cáo bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của gia đình bị hại thì ông cũng đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 22/3/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình theo hướng:
- Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc đồng ý với ý kiến của ông Trần Ngọc T2 - đại diện hợp pháp của bị hại, cấp dưỡng đối với các con bị hại 2.000.000 đồng/tháng và thực hiện việc trả tiền cấp dưỡng 01 lần;
- Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn L, giảm từ 01 đến 02 năm tù cho bị cáo L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ngày 28/3/2024 bị cáo kháng cáo, ngày 05/04/2024 đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo, ngày 04/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình kháng nghị đối với Bản án sơ thẩm số 18/2024/HSST ngày 22/3/2024 là trong thời hạn quy định tại Điều 333, 337 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Văn L thừa nhận hành vi như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: bị cáo Trần Văn L và anh Trần Ngọc D không có mâu thuẫn gì với nhau nhưng chỉ vì một câu nói trêu đùa của anh D mà bị cáo đã dùng thanh kim loại kích thước (114,5 x 2,6 x 1,3)cm, nặng 1,2kg là hung khí nguy hiểm vụt một nhát vào vùng cổ bên trái của anh D, làm anh D ngã đập đầu xuống đường bê tông và chết. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người" và thuộc trường hợp “phạm tội có tính chất côn đồ” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
[3] Về hình phạt: Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Tại cấp sơ thẩm, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, là sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, đã tác động đến gia đình để bồi thường cho gia đình bị hại 200.000.000 đồng, nhưng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo thì việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 20 năm tù về tội “Giết người” là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[4] Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, gia đình bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền án phí và tiền bồi thường về mai táng phí, tổn thất tinh thần theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, ngoài ra còn bồi thường thêm cho gia đình bị hại 50 triệu đồng và bị cáo đồng ý với việc bồi thường của gia đình mình cho gia đình bị hại, thể hiện ý thức chấp hành hành pháp luật nghiêm túc, thái độ ăn năn hối cải về hành vi của mình; tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại theo yêu cầu của đại diện hợp pháp của người bị hại (ông Trần Ngọc T2) và được người bị hại có ý kiến là đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nếu bị cáo và gia đình bị cáo bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của gia đình bị hại; bị cáo xuất trình thêm tài liệu mới thể hiện gia đình có công với cách mạng, là các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà chưa được xem xét ở cấp sơ thẩm. Do đó, xét thấy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và xét thấy với mức hình phạt nhẹ hơn cũng đã đủ giáo dục, răn đe đối với bị cáo và bảo đảm công tác phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo chấp nhận yêu cầu bồi thường mai táng phí theo yêu cầu của những người đại diện theo pháp luật của bị hại là 108.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm chấp nhận sự tự nguyện bồi thường này của bị cáo là có căn cứ.
[5.1] Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần cho những người đại diện hợp pháp của bị hại, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải bồi thường tổn thất tinh thần cho ông Trần Ngọc T2, bà Chu Thị H1, chị Trịnh Thị H2, cháu Trần Ngọc T3, cháu Trần Nhật A, cháu Trần Ngọc B mỗi người 20.000.000 đồng = 120.000.000 đồng là đúng quy định tại Điều 584, Điều 585, Điều 591 Bộ luật Dân sự và bị hại cũng không kháng cáo đối với khoản tiền bồi thường này.
[5.2] Đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chung của anh Trần Ngọc D và chị Trần Thị Hải Y là cháu Trần Ngọc B và con chung của anh Trần Ngọc D với chị Trịnh Thị H2 là cháu Trần Ngọc T3. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải cấp dưỡng mỗi cháu 1.500.000 đồng/1 tháng kể từ tháng 8/2023 cho đến khi cháu B, cháu T3 đủ 18 tuổi. Đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo đề nghị nâng số tiền cấp dưỡng đối với các con bị hại từ 1.500.000 đồng lên 2.000.000 đồng/tháng và đề nghị trợ cấp một lần (BL422). Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại khoản 1 Điều 591 và Điều 8 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 quy định: Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc nuôi dưỡng trước khi chết được xác định như sau: “Mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng, nhưng không thấp hơn 01 tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người được cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng”. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Văn L và gia đình bị cáo có mặt tại phiên toà là chị Trịnh Thị T1 (vợ của bị cáo L) đồng ý với toàn bộ yêu cầu cấp dưỡng của ông Trần Ngọc T2- đại diện hợp pháp của bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo đối với yêu cầu bồi thường của đại diện hợp pháp của bị hại tại phiên toà phúc thẩm.
[6] Về án phí: Bị cáo Trần Văn L, ông Trần Ngọc T2 - Đại diện hợp pháp của bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn L, chấp nhận Kháng nghị số 03/QĐKN-VKSTB ngày 04/4/20024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 22/3/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình về phần quyết định hình phạt đối với bị cáo Trần Văn L.
Tuyên xử: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn L 19 (mười chín) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/8/2023.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Trần Văn L đối với yêu cầu của ông Trần Ngọc T2- đại diện hợp pháp của người bị hại về việc cấp dưỡng nuôi hai con của bị hại là cháu Trần Ngọc T3 (sinh ngày 04/5/2020), Trần Ngọc B (sinh ngày 05/10/2010) mỗi cháu 2.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 8/2023 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và việc cấp dưỡng được thực hiện một lần.
- Về án phí: Bị cáo Trần Văn L, ông Trần Ngọc T2 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Chu Thành Quang | Trần Thị Quỳnh |
| Nguyễn Văn Cường |
Nơi nhận:
- - Vụ 1- TANDTC;
- - VKSNDCC tại Hà Nội;
- - TAND tỉnh Thái Bình;
- - VKSND tỉnh Thái Bình;
- - Công an tỉnh Thái Bình;
- - Cục THADS tỉnh Thái Bình;
- - Bị cáo (Trại TG);
- - Lưu HS, PHCTP.
Bản án số 525/2024/HS-PT ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về vụ án hình sự về tội giết người
- Số bản án: 525/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Giết người
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Lê phạm tội Giết người
