Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 524/2024/HNGĐ-ST

Ngày 29 tháng 7 năm 2024

V/v: “Tranh chấp về ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Liên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thị Hạnh

2. Bà Đỗ Thị Sỹ Long

Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Thanh Huyền

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:

Bà Đào Linh Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 276/2024/TLST – HN&GĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 210/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 136/2024/QĐST - HPT ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Xuân T, sinh năm 1986; ĐKHKTT: 227 Tập thể nhà máy Đ1, quận T, thành phố Hà Nội; Nơi ở: A T, phường P, quận B, thành phố Hà Nội. (Có mặt)

- Bị đơn: Anh Công Văn M, sinh năm 1981; ĐKHKTT: Tổ 20 cụm C P, quận T, thành phố Hà Nội; Nơi ở: A T, phường P, quận B, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngô Thị Xuân T trình bày như sau:

- Về tình cảm: Chị Ngô Thị Xuân T và anh Công Văn M có đăng ký kết hôn vào ngày 11 tháng 8 năm 2008 tại UBND phường P, quận T, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn, anh chị về sinh sống tại A T, phường P, quận B, thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống, anh chị đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, không hạnh phúc. Khi mâu thuẫn xảy ra gia đình hai bên có biết và hòa giải nhưng không có kết quả. Anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Chị T xác định không còn tình cảm với anh M, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh M.

- Về con chung: Chị Ngô Thị Xuân T và anh Công Văn M có hai con chung là Công Khánh L, sinh ngày 03/11/2004 và Công Trí Đ, sinh ngày 04/8/2016. Cháu Công Khánh L đã trưởng thành không đề nghị Tòa án giải quyết. Chị T có nguyện vọng được nuôi con chung là cháu Công Trí Đ, sinh 04/8/2016. Chị T không yêu cầu anh M phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nhà ở: Chị Ngô Thị Xuân T xác nhận tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về khoản nợ: Chị Ngô Thị Xuân T xác nhận không vay nợ nhau, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết theo quy định của pháp luật các văn bản tố tụng của Tòa án. Tuy nhiên bị đơn đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải cho các đương sự được.

Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

  • + Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định Điều 48; Điều 198; khoản 2, 3 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • + Thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của người tham gia tố tụng Điều 28, 35, 39, 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • + Chuyển thông báo thụ lý vụ án, các quyết định đến Viện kiểm sát và các văn bản tố tụng tống đạt cho đương sự theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 179; Điều 191; Điều 195; Điều 196; Điều 199 và khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
  • + Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời gian chuẩn bị xét xử đã được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định tại điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 203; Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • + Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo các nguyên tắc cơ bản về xét xử và thành phần Hội đồng xét xử đúng theo quy định tại Điều 63; điểm b khoản 2 Điều 227 và chương II Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • + Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 51; Điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • + Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 58; 63; 70 và điểm b, khoản 2 Điều 227, Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ngô Thị Xuân T. Chị Ngô Thị Xuân T được ly hôn với anh Công Văn M. Chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Thị Xuân T về việc nuôi con chung: Giao con chung Công Trí Đ, sinh ngày 04/8/2016 cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh M không phải đóng góp tiền nuôi con. Cháu Công Khánh L, sinh ngày 03/11/2004 đã đủ tuổi trưởng thành, không đề nghị Tòa án giải quyết. Về tài sản, nhà ở và nợ chung: Chị Ngô Thị Xuân T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết.

Áp dụng Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để tuyên nguyên đơn chịu án phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn là chị Ngô Thị Xuân T có đơn xin ly hôn đối với Anh Công Văn M; Trú tại: A T, phường P, quận B, thành phố Hà Nội, quận B. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý, giải quyết, xét xử là đúng thẩm quyền.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn. Bị đơn đã được triệu tập lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Ngô Thị Xuân T và anh Công Văn M là quan hệ hôn nhân hợp pháp có đăng ký kết hôn ngày vào 11 tháng 8 năm 2008 tại UBND phường P, quận T, thành phố Hà Nội. Trong thời gian chung sống chị T khẳng định vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, sống không hợp nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc, mâu thuẫn của chị T và anh M đã rất trầm trọng, không thể hàn gắn đoàn tụ.

Hội đồng xét xử thấy mục đích hôn nhân là nhằm xây dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng chung thủy thương yêu nhau, tôn trọng danh dự và uy tín cho nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Rõ ràng cuộc hôn nhân của chị Ngô Thị Xuân T và anh Công Văn M không đạt được mục đích đó. Chị T anh M đã sống ly thân, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không thể, chị T làm đơn xin ly hôn anh M là phù hợp với quy định của pháp luật theo các Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình. Vì vậy chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Ngô Thị Xuân T.

Về con chung: Chị Ngô Thị Xuân T và anh Công Văn M có hai con chung là Công Khánh L, sinh ngày 03/11/2004 và Công Trí Đ, sinh ngày 04/8/2016. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Công Trí Đ, sinh 04/8/2016. Chị T không yêu cầu anh M phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy nguyện vọng của chị T là có căn cứ được chấp nhận vì thực tế chị T vẫn đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con Công Trí Đạt, sinh ngày 04/8/2016. Con Công Trí Đ cũng có nguyện vọng được tiếp tục ở cùng chị T. Anh M không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Anh M có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Cháu Công Khánh L, sinh ngày 03/11/2004 đã đủ tuổi trưởng thành, chị T không đề nghị Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Về tài sản, nhà ở và nợ chung: Chị Ngô Thị Xuân T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[3] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Chị Ngô Thị Xuân T phải chịu án phí sơ thẩm.

Chị Ngô Thị Xuân T và anh Công Văn M có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ và nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, 266, 271, 273, 278, 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;

- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Ngô Thị Xuân T;

    Chị Ngô Thị Xuân T được ly hôn với anh Công Văn M.

  2. Về con chung: Chị Ngô Thị Xuân T và anh Công Văn M có hai con chung là Công Khánh L, sinh ngày 03/11/2004 và Công Trí Đ, sinh 04/8/2016. Giao con Công Trí Đ, sinh 04/8/2016 cho chị Ngô Thị Xuân T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung của anh M cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật. Anh Công Văn M có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được ngăn cản. Con Công Khánh L1 đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về tài sản chung, nhà ở chung và nợ chung: Chị Ngô Thị Xuân T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Giành quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác về tài sản chung, nhà ở chung và nợ chung khi chị Ngô Thị Xuân T, anh Công Văn M có đơn yêu cầu.
  4. Về án phí: Chị Ngô Thị Xuân T chịu án phí sơ thẩm 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0005237 ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày 29 tháng 7 năm 2024. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình;
  • - Chi Cục THA dân sự quận Ba Đình;
  • - UBND phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ vụ án Hôn nhân và gia đình.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đinh Ngọc Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 524/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 524/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hôn nhân gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger