Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 524/2024/HS-PT

Ngày 01 tháng 7 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Thịnh;

Các Thẩm phán: Ông Phạm Công Mười

Ông Chung Văn Kết

- Thư ký phiên tòa: Bà Ức Minh Thanh Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở; Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 965/2023/TLPT-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Minh M và đồng phạm; Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2023/HS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Minh M, sinh năm 1962 tại tỉnh Bến Tre; trú tại: thôn C, xã Q, huyện Đ' L, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị M1; có vợ Lê Thị M2 và 02 con; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/10/2013 đến ngày 05/6/2014; tại ngoại. Hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt;
  2. Thái Văn T1, sinh năm 1979 tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKHKTT: thôn B, xã N, huyện Đ' Lấp, tỉnh Đắk Nông; chỗ ở hiện nay: thôn A, xã Đ, huyện Đ' Lấp, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Thái H (đã chết) và bà Hoàng Thị L; có vợ Nguyễn Thị Thu H1 và 02 con; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/11/2013 đến ngày 28/6/2014; tại ngoại. Hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt;
  3. Trần Q, sinh năm 1983 tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; nơi ĐKHKTT: thôn T, xã K, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; chỗ ở hiện nay: tổ E, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; con ông Trần T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H2; có vợ Hà Thị Kim D và 01 con; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/11/2013 đến ngày 30/12/2014; tại ngoại. Hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt.

Người bào chữa cho các bị cáo:

Luật sư Bùi Minh V, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Trần Quyền . Có mặt

Luật sư Phạm Xuân Thủy, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H, nào chữa cho các bị cáo Nguyễn Minh M3, Thái Vă T. Có mặt

Nguyên đơn dân sự:

  • Cục Thuế tỉnh Đ - Vắng mặt
  • Chi cục Thuế thành phố G, tỉnh Đắk Nông (Nay là Chi cục Thuế khu vực G – Đắk G'long).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Đ – Phó Chi cục trưởng Vắng mặt.

  • Chi cục Thuế huyện Đ' Lấp, tỉnh Đắk Nông (Nay là Chi cục Thuế khu vực Đ5 – T).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Văn Đ1 – Phó Chi cục trưởng – vắng mặt.

  • Chi cục Thuế huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (Nay là Chi cục Thuế khu vực Đ6 – Đ).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn N – Phó Chi cục trưởng – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Các Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên S (Công ty S1), Công ty S (Công ty Pl) và Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên T7 (Công ty T7) đều có địa chỉ đăng ký kinh doanh trên địa bàn huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Các công ty này do một số đối tượng chưa xác định nhân thân lai lịch đứng ra thành lập. Tuy thành lập nhưng trên thực tế các đối tượng này không hoạt động sản xuất, kinh doanh mà chỉ phát hành hóa đơn giá trị gia tăng để hợp thức hóa hàng hóa thu mua không có hóa đơn, sau đó xuất cho các đơn vị khác để chiếm đoạt tiền thuế giá trị gia tăng 5% (GTGT) của nhà nước.

Các đối tượng này sử dụng chứng minh nhân dân của người bị mất hoặc mang đi cầm cố nhưng không lấy lại để đứng tên đăng ký thành lập các công ty nói trên. Cụ thể, Công ty S1 đứng tên anh Trần Thanh T3 – SN 1980 (HKTT: Khu phố A, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai), Công ty P1 đứng tên ông Nguyễn Văn T4 – SN 1969 (HKTT: Thôn D, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang) và Công ty T7 đứng tên anh Trịnh Duy Đ2 – SN 1985, (HKTT: Thôn F, xã M, N, Thanh Hóa).

Khoảng tháng 10/2011, các đối tượng đến gặp Nguyễn Minh M – SN 1962 để đặt vấn đề về việc cung cấp giấy giới thiệu và giấy ủy quyền, hóa đơn GTGT đã ký và đóng dấu sẵn nhưng chưa ghi nội dung, cung cấp ủy nhiệm chi hoặc séc khống để M đứng ra đại diện cho các công ty trên đi thu mua cà phê (với giá cao hơn giá thị trường từ 1.000đ – 1.200₫) sau đó M tự ghi nội dung theo từng lần xuất hàng cụ thể để xuất bán cho các doanh nghiệp khác với giá tương đương giá thị trường kèm theo hóa đơn GTGT. Khi các đơn vị mua hàng chuyển tiền hàng và tiền thuế GTGT thì M sử dụng ủy nhiệm chi hoặc séc khống chủ động rút tiền hàng và tiền thuế GTGT. Khi tiền thuế được rút ra khỏi tài khoản thì các đối tượng này chia nhau, theo thỏa thuận Mẫn được hưởng từ 2,5 – 3% (bao gồm cả chi phí mua đội giá) trong tổng số 5% tiền thuế GTGT.

Bắt đầu từ tháng 11/2012, như thỏa thuận với các đối tượng cung cấp hóa đơn, Nguyễn Minh M bắt đầu đi mua cà phê nhân xô của các hộ dân và các hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Đ. Để gom được lượng hàng lớn M thường mua với giá cao hơn so với giá thị trường sau đó bán lại ngay trong ngày cho Công ty Cổ phần Đ7, địa chỉ đăng ký kinh doanh tại: Thôn A, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (Công ty Đ7) do ông Nguyễn Nho L1, làm giám đốc và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ7, địa chỉ đăng ký kinh doanh tại: Thôn F, xã K, Đ, tỉnh Đắk Nông (Công ty Đ7) do bà Nguyễn Thị Minh N1 làm giám đốc với giá chỉ tương đương với giá thị trường và sử dụng hóa đơn GTGT của các Công ty T7, Công ty P1 và Công ty S1. Sau khi các Công ty Đ7 và Hồng Đ3 chuyển trả tiền hàng và tiền thuế GTGT vào tài khoản của 03 công ty trên thì M sử dụng Séc hoặc ủy nhiệm chi khống để rút tiền ra hoặc chuyển khoản vào tài khoản cá nhân của M để sử dụng. Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2012 đến tháng 03/2013, với thủ đoạn trên M đã sử dụng 11 hoá đơn GTGT của Công ty T7 và 08 hoá đơn GTGT của Công ty S1 xuất bán cà phê nhân xô cho Công ty Đ7 với tổng doanh số là 21.410.000.000 đồng, tiền thuế GTGT là 1.070.500.000 đồng. Sử dụng 35 hóa đơn của Công ty T7, 06 hóa đơn của Công ty S1 và 24 hóa đơn của Công ty P1 xuất bán cà phê nhân xô cho Công ty Đ7 với tổng doanh số là 86.315.000.000 đồng, tiền thuế GTGT là 4.311.370.000 đồng.

Tổng cộng Nguyễn Minh M đã sử dụng 84 hoá đơn GTGT của các Công ty T7, Công ty S1 và Công ty P1 để xuất bán cà phê nhân xô cho các Công ty Đ7, Công ty Đ7 với tổng doanh số là 107.725.000.000 đồng, tiền thuế GTGT là 5.381.870.000 đồng, những hóa đơn này Công ty Đ7 và Công ty Đ7 đã sử dụng để kê khai báo cáo thuế và đã được Chi cục thuế huyện Đ5, tỉnh Đăk Nông chấp nhận khấu trừ. Toàn bộ số tiền thuế GTGT các Công ty Đ7 đã chuyển vào tài khoản của các Công ty Trịnh Duy Đ2, Song T5 và Phước T6 là 5.381.870.000 đồng, M đã rút ra sử dụng cá nhân (nhưng không chứng minh được chuyển trả cho ai).

Trong quá trình mua cà phê M có mua lại cà phê của Điểm thu mua nông sản Hiếu Tư ở xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông của bà Nguyễn Thị Thu H1 là vợ của Thái Văn T1 (sinh năm 1979). Thấy M mua cao hơn giá của thị trường nên T1 đã hỏi M về cách làm và xin làm theo. M đã đưa cho T1 một tập hóa đơn của Công ty S1 để Tư tự thực hiện như cách thức của M với điều kiện T1 phải chia cho M 10.000đ/01 tấn cà phê bán ra. Một thời gian sau (không xác định cụ thể ngày, tháng) sau khi sử dụng hết số hóa đơn do M đưa (không xác định số lượng) thì T1 tiếp tục nhận 02 cuốn hóa đơn GTGT của Công ty S1 và Phước T6 từ M để hợp thức hóa nguồn hàng đã mua vào. Cũng trong thời gian này có hai đối tượng (chưa xác định nhân thân lai lịch) trực tiếp tìm đến gặp và đưa cho T1 các hóa đơn của Công ty S1 và Phước T6 (không xác định số lượng) đồng thời đưa các ủy nhiệm chi và séc để T1 thực hiện việc mua và xuất hàng như cách T1 đã làm.

Trong thời gian từ tháng 12/2012 đến tháng 02/2013, Thái Văn T1 đã sử dụng 41 hóa đơn GTGT của Công ty S1 với doanh số là 54.901.960.400đ, tiền thuế GTGT là 2.745.098.020đ; 44 hóa đơn của Công ty P1 (do sử dụng xen kẽ nên không xác định được hóa đơn nào do M cung cấp và hóa đơn nào do hai đối tượng nêu trên cung cấp) với doanh số là 35.970.291.100đ, tiền thuế GTGT là 1.798.505.555đ để xuất bán cà phê nhân xô cho Công ty C2, có địa chỉ đăng ký kinh doanh tại: Thôn N, xã Đ, thị xã G (nay là thành phố G), tỉnh Đắk Nông do ông Nguyễn C làm giám đốc. Toàn bộ 85 hóa đơn này Công ty C2 đã sử dụng để kê khai báo cáo thuế và đã được Chi cục thuế thành phố G, tỉnh Đắk Nông chấp nhận khấu trừ tổng số tiền 4.543.603.575 đồng, Công ty C2 đều đã chuyển vào tài khoản của Công ty S1 và Công ty P1 và T1 đã rút ra sử dụng cá nhân (nhưng không chứng minh được chuyển trả cho ai).

Ngày 23/10/2012, Trần Q (sinh năm 1983) và Nguyễn Hồng P (sinh năm 1989, tên gọi khác Phước E) cùng nhau thành lập Doanh nghiệp tư nhân H3,do P làm chủ doanh nghiệp để cùng làm ăn. Khoảng đầu tháng 11/2012, một đối tượng tự giới thiệu tên T3 là giám đốc Công ty S1 đến gặp Q và P trao đổi việc Q và P đứng ra mua cà phê hoặc T3 cho người chở hàng đến giao tại doanh nghiệp H3, sử dụng hóa đơn đầu vào của Công ty S1 để kê khai tại doanh nghiệp H3 sau đó xuất cho Công ty C2 với giá bán bằng giá mua vào (không có lợi nhuận) và sử dụng hóa đơn của H3. Làm như vậy Quyền và P sẽ được hưởng 200đ/kg. Mặc dù nhận thức được việc làm như trên là không bình thường và có dấu hiệu vi phạm pháp luật tuy nhiên Quyền và P vẫn thực hiện. Sau một thời gian thấy việc kê khai thuế phức tạp nên Q và P chuyển sang sử dụng trực tiếp hóa đơn của Công ty S1 để xuất cho Công ty C2 mà không thông qua pháp nhân của H3.

Cũng trong thời gian này, T3 tiếp tục thỏa thuận với Q sử dụng hóa đơn của Công ty S1 để xuất cho Đ4 thu mua nông sản Trần Văn B(do ông Trần Văn B, trú tại Thôn B, xã T, huyện Đ làm chủ). Như thỏa thuận, từ tháng 12/2012, Q bắt đầu thực hiện việc mua hàng của các cá nhân và đại lý, đồng thời nhận hàng của T3 cho người chở đến tại kho của Q, sau đó trộn hàng theo quy cách để xuất cho Công ty C2 và điểm thu mua nông sản Trần Văn B kèm theo hóa đơn của Công ty S1. Trong thời gian từ tháng 12/2012 đến tháng 01/2013 Q đã sử dụng 18 hóa đơn của Công ty S1 xuất bán cà phê nhân xô cho Công ty C2 với tổng doanh số 20.022.700.000 đồng thuế GTGT 1.001.135.000đồng;12 hóa đơn của Công ty S1 xuất cho điểm thu mua nông sản Trần Văn B với tổng doanh số 10.484.300.000đ, thuế GTGT 524.215.000đồng. Toàn bộ 30 hóa đơn này Công ty C2 và điểm thu mua nông sản Trần Văn B đã sử dụng để kê khai báo cáo thuế và đã được các Chi cục thuế huyện Đ và thành phố G chấp nhận khấu trừ. Sau khi Công ty C2 và Đ4 thu mua nông sản Trần Văn B chuyển tiền thuế GTGT vào tài khoản của Công ty S2 đã rút ra 1.525.350.000đồng sử dụng cá nhân (nhưng không chứng minh được chuyển trả cho ai).

Tại 02 Bản kết luận giám định lại ngày 17/11/2016, của Giám định viên thuộc Cục thuế tỉnh Đ kết luận: Tổng số tiền thuế GTGT do Nguyễn Minh M, Thái Văn T1 và Trần Q đã sử dụng các hóa đơn bất hợp pháp của các Công ty Trịnh Duy Đ2, Công ty P1 và Công ty S1 lập khi bán hàng cho các Công ty Đ7, Công ty Đ7, Công ty C2, Điểm thu mua nông sản Trần Văn B và các công ty này đã kê khai khấu trừ gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước là 11.450.823.575đồng; Cụ thể số tiền thuế thiệt hại từ các hóa đơn do Nguyễn Minh M sử dụng là 5.381.870.000đồng, trong đó gây thiệt hại cho ngân sách tỉnh Đắk Nông là 3.229.122.000 đồng, ngân sách huyện Đ 1.614.561.000 đồng, ngân sách xã Q 431.137.000đ và ngân sách xã K 107.050.000đ; Thái Văn T1 là 4.543.603.575đồng, trong đó gây thiệt hại cho ngân sách tỉnh Đắk Nông là 3.180.522.503 đồng, ngân sách thành phố G 1.272.209.001 đồng và ngân sách xã Đ 90.872072 đồng; Trần Q là 1.525.350.000đồng, trong đó gây thiệt hại cho ngân sách tỉnh Đắk Nông là 1.015.323.500đ, ngân sách thành phố G 280.317.800đ và ngân sách xã Đ 20.022.700đ, ngân sách huyện Đ 157.264.500₫ và ngân sách xã T 52.421.500đ.

Ngoài ra trong quá trình điều tra vụ án, Nguyễn Minh M khai Nguyễn Thị Kim C1 và Dương Thị Thu M4 (cùng trú tại xã K, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu) là những người đã cung cấp hóa đơn của các Công ty S1, Phước T6 và Trịnh Duy Đ2 cho M sử dụng tuy nhiên kết quả điều tra ngoài lời khai của M ra thì các tài liệu khác không đủ căn cứ để xác định M4 và C1 đã có hành vi cung cấp hóa đơn như lời khai của M.

Vụ án được điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm hai lần đối với các bị cáo Nguyễn Minh M, Thái Văn T1 và Trần Q về tội danh “Trốn thuế” theo khoản 3 Điều 161 Bộ luật hình sự. Cả hai bản án sơ thẩm điều bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy để xét xử lại với nhận định các bị cáo phạm tội danh khác không phải tội danh trốn thuế.

Cáo trạng số: 25/CTr-VKS-P1 ngày 09/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đã truy tố các bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự 2015.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2023/HS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông đã quyết định:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Minh M, Thái Văn T1 và Trần Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
    1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh M 13 (Mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/10/2013 đến ngày 05/6/2014;
    2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Thái Văn T1 12 (mười hai) năm 06(sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/11/2013 đến ngày 28/6/2014.
    3. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 của Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Trần Q 10 (mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/11/2013 đến ngày 30/12/2014.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015:
    1. Buộc bị cáo Nguyễn Minh M phải nộp trả số tiền 5.381.870.000đ (năm tỷ ba trăm tám mươi mốt triệu tám trăm bảy mươi nghìn đồng), được trừ số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) đã trả lại tại uỷ nhiệm chi số: 04 ngày 02/6/2015 giữa Công an tỉnh Đ và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông, còn phải nộp trả 5.331.870.000đ (năm tỷ ba trăm ba mươi mốt triệu, tám trăm bảy mươi ngàn đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước tỉnh Đắk Nông để điều tiết theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước.
    2. Buộc bị cáo Thái Văn T1 phải nộp trả số tiền 4.543.603.575đ (bốn tỷ năm trăm bốn mươi ba triệu sáu trăm linh ba nghìn năm trăm bảy mươi lăm đồng) được trừ số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng đã nộp) còn phải nộp trả 4.443.603.575đ (bốn tỷ bốn trăm bốn mươi ba triệu, sáu trăm lẻ ba ngàn, năm trăm bảy lăm đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước tỉnh Đắk Nông để điều tiết theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước nộp vào ngân sách Nhà nước tỉnh Đắk Nông để điều tiết theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước.
    3. Buộc bị cáo Trần Q phải trả số tiền 1.525.350.000đ (một tỷ năm trăm hai mươi lăm triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng), được trừ số tiền 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng) đã trả lại tại ủy nhiệm chi số: 04 ngày 02/6/2015 giữa Công an tỉnh Đ và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông, còn phải trả 1.425.350.000đ (một tỷ bốn trăm hai mươi lăm triệu, ba trăm năm mươi nghìn đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước tỉnh Đắk Nông để điều tiết theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Ngày 29/9/2023, các bị cáo Nguyễn Minh M, Thái Văn T1 và Trần Q có đơn kháng cáo kêu oan.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như án sơ thẩm quy kết, tuy nhiên các bị cáo cho rằng đã chuyển toàn bộ các số tiền hoàn thuế cho các đối tượng đã nhờ các bị cáo hợp thức hóa nguồn hàng của các công ty S1, Phước T6 và Trịnh Duy Đ2. Các bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo từ kêu oan sang xin giảm nhẹ hình phạt.

Các bị cáo xuất trình tình tiết giảm nhẹ mới, cụ thể:

  • Bị cáo Nguyễn Minh M nộp thêm 100.000.000 đồng để khắc phục hậu quả (thể hiện tại biên lai số 0000043 ngày 24/4/2024 và 0000059 ngày 14/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đăk Nông)
  • Bị cáo Trần Q nộp thêm 1.425.350.000 đồng để khắc phúc hậu quả (Thể hiện tại các biên lai số 0000053 và 0000063 cùng ngày 20/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đăk Nông)
  • Bị cáo Thái Văn T1 nộp thêm 4.443.600.000 đồng để khắc phục hậu quả (thể hiện tại các biên lai số 0000044 ngày 24/4/2024; biên lai số 0000054 và 0000055 cùng ngày 20/5/2024; biên lai số 0000060 ngày 14/6/20242024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đăk Nông).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ vào chứng cứ có tại hồ sơ và được thẩm vấn công khai tại phiên toà thì có đủ cơ sở để kết luận cả 03 bị cáo đều không biết thông tin gì về 03 Công ty S1, Phước T6 và Trịnh Duy Đ2 nhưng khi được các đối tương đưa hoá đơn GTGT và séc, uỷ nhiệm chi đã giúp sức cho các đối tượng này đi thu mua gom cà phê không có hoá đơn chứng từ rồi sử dụng hoá đơn GTGT của 03 ty nêu trên xuất bán cho các công ty khác và khi các Công ty mua hàng chi trả tiền thuế VAT 5% thì các bị cáo chiếm đoạt với tổng số tiền 11.450.823.575 đồng, trong đó bị cáo M phải chịu trách nhiệm đối với số tiền 5.381.870.000 đồng; bị cáo Thái Văn T1 phải chịu trách nhiệm về số tiền 4.543.603.575 đồng; bị cáo Trần Q phải chịu trách nhiệm về số tiền 1.525.350.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự như án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm cả ba bị cáo đều có đơn kháng cáo kê oan, tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như án sơ thẩm quy kết. Các bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo từ kêu oan sang xin giảm nhẹ hình phạt. Xét các bị cáo không phải là chủ mưu mà tham gia với vai trò đồng phạm, tại phiên tòa hôm nay có thêm tình tiết giảm nhẹ mới là bị cáo M nộp thêm 100.000.000 đông khắc phục hậu quả, bị cáo T1 và Q khắc phục toàn bộ hậu quả, cụ thể bị cáo T1 nộp 4.443.600.000 đồng, bị cáo Q nộp 1.425.350.000 đồng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo và áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T1, Quyền xử phạt các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

  • Xử phạt bị cáo M từ 11 đến 12 năm tù
  • Xử phạt bị cáo T1 từ 08 đến 09 năm tù
  • Xử phạt bị cáo Q từ 07 đến 08 năm tù.

Luật sư bào chữa cho các bị cáo phát biểu:

Thống nhất về tội danh như án sơ thẩm đã tuyên, các bị cáo đều thay đổi nội dung kháng cáo từ kêu oan sang nhận tội và chỉ xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là vụ án có định lượng, bị cáo M chỉ sử dụng hóa đơn rút 71 tỷ đồng và số tiền thuế hơn 05 tỷ đồng là do ông Nho L1 rút trong tài khoản của M nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Bị cáo M có nhân thân tốt, hiện nay bị nhiều bệnh và tài sản thì bị kê biên nên không bán để bồi thường toàn bộ được.

Đối với bị cáo T1 thì chỉ rút 66 tỷ đồng còn 21 tỷ đồng chưa rút, bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả, bị cáo chỉ là người buôn bán nhỏ lẻ.

Đối với bị cáo Q sử dụng hóa đơn của Công ty S1 bán hàng cho Công ty O, Công ty C2 và Cơ sở Trần Văn B nhưng bị cáo lại bị truy tố xét xử về hai tội là bất lợi cho bị cáo. Đề nghị xem xét lại, bị cáo đã tích cực khắc phục toàn bộ hậu quả.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo giảm hình phạt cho các bị cáo và cho bị cáo T1, bị cáo Q được hưởng án treo vì các bị cáo chỉ tham gia với vai trò đồng phạm, giúp sức, các đối tượng chủ mưu chưa bắt được.

Bị cáo thống nhất với phần trình bày bào chữa của luật sư, bị cáo không tranh luận gì thêm.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Qúa trình điều tra đã chứng minh được như sau: Một số đối tượng chưa xác định được nhân thân, lai lịch dùng thủ đoạn gian dối bằng cách sử dụng các chứng minh nhân dân của những người bị mất hoặc mang cầm cố nhưng không lấy lại để thành lập các Công ty S1, Công ty P1, Công ty T8, các công ty này sau khi thành lập không hoạt động kinh doanh mà chỉ phát hành hóa đơn giá trị gia tăng để hợp thức hóa hàng hóa thu mua không có hóa đơn, sau đó xuất cho các đơn vị khác để chiếm đoạt tiền thuế giá trị gia tăng.

Các đối tượng thành lập Công ty đã câu kết, móc nối với các bị cáo Nguyễn Minh M, Thái Văn T1 và Trần Q, giao các tài liệu đã ký đóng dấu sẵn như: Giấy giới thiệu, giấy ủy quyền, hóa đơn giá trị gia tăng, ủy nhiệm chi, séc đã đóng dấu của công ty cho Nguyễn Minh M, Thái Văn T1 và Trần Q là đại diện đi thu mua cà phê tại thị trường xuất bán cho các doanh nghiệp khác nhằm mục đích chiếm đoạt thuế giá trị gia tăng.

Các bị cáo M, T1, Q đã tích cực hiện theo sự chỉ đạo của các đối tượng tự xưng là chủ doanh nghiệp, cụ thể: Trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2012 đến tháng 3 năm 2013 M, T1, Q đã thu mua cà phê nhân xô từ những hộ gia đình trực tiếp sản xuất và các đại lý không có hoá đơn, các bị cáo sử dụng hoá đơn GTGT của các Công ty P1, Song T5 và Trịnh Duy Đ2 để làm chứng từ bán hàng cho các Công ty Cổ phần Đ7, Công ty TNHH Đ7, Công ty TNHH MTV C2, Điểm thu mua nông sản Trần Văn B. Khi các đơn vị này chuyển số tiền thuế GTGT vào tài khoản của các Công ty P1, Song T5 và Trịnh Duy Đ2 thì các bị cáo M, T1, Q đã sử dụng các uỷ nhiệm chi hoặc séc đã được ký tên, đóng dấu từ trước của các Công ty P1, Song T5 và Trịnh Duy Đ2 để rút 5% tiền thuế GTGT chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước. Trong đó bị cáo Nguyễn Minh M đã sử dụng 84 hoá đơn GTGT chiếm đoạt số tiền 5.381.870.000 đồng, Thái Văn T1 sử dụng 85 hóa đơn GTGT chiếm đoạt 4.543.603.575 đồng và Trần Q sử dụng 30 hóa đơn GTGT chiếm đoạt 1.525.350.000 đồng.

[3] Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự như án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ đúng pháp luật.

[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo:

[4.1] Các bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm, giúp sức, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo đã nộp thêm tiền để khắc phục hậu quả, cụ thể: bị cáo M nộp thêm 100.000.000 đồng; bị cáo T1 nộp 4.543.603.575 đồng, bị cáo Q nộp 1.425.350.000 đồng. Xét các bị cáo có tình tiết mới nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, đặc biệt các bị cáo T1 và Q khắc phục toàn bộ số tiền chiếm đoạt nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Ngoài ra, xét bị cáo Q có vai trò thấp hơn các bị cáo khác (chiếm đoạt số tiền ít nhất) nên mức nhẹ hơn so với các bị cáo khác.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Do các bị cáo nộp thêm tiền khắc phục hậu quả nên sửa Bản án sơ thẩ về trách nhiệm dân sự: bị cáo M còn phải nộp tiếp 5.231.870.000 đồng; bị cáo T1 và bị cáo Q đã thực hiện xong phần trách nhiệm dân sự.

[6] Xét bị cáo T1 đã khắc phục toàn bộ hậu quả nên không cần thiết kê biên tài sản của bị cáo, do đó hủy lệnh kê biên tài sản số 03 ngày 14/01/2014 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Đ đối với bị cáo Thái Văn T1.

[7] Quan điểm của đại diện Việm kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và các luật sư bào chữa cho các bị cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là có căn cứ chấp nhận.

[8] Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

[9] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Minh M, Thái Văn T1 và Trần Quyền .

Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 33/2023/HS-ST ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông về quyết định hình phạt, trách nhiệm dân sự, biện pháp tư pháp..

Tuyên xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh M, Thái Văn T1 và Trần Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự 2015, áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Trần Q và Thái Văn T1.

  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh M 11 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/10/2013 đến ngày 05/6/2014;
  • Xử phạt bị cáo Thái Văn T1 06 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/11/2013 đến ngày 28/6/2014.
  • Xử phạt bị cáo Trần Q 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/11/2013 đến ngày 30/12/2014.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015:

Buộc bị cáo Nguyễn Minh M phải nộp trả số tiền 5.381.870.000đ (năm tỷ ba trăm tám mươi mốt triệu tám trăm bảy mươi nghìn đồng), được trừ số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) đã trả lại tại uỷ nhiệm chi số: 04 ngày 02/6/2015 giữa Công an tỉnh Đ và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông; 100.000.000 đồng đã nộp tại biên lai số 0000043 ngày 24/4/2024 và của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đăk Nông, còn phải nộp trả 5.231.870.000₫ (năm tỷ ba trăm ba mươi mốt triệu, tám trăm bảy mươi ngàn đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước tỉnh Đắk Nông để điều tiết theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước.

Buộc bị cáo Thái Văn T1 phải nộp trả số tiền 4.543.603.575đ (bốn tỷ năm trăm bốn mươi ba triệu sáu trăm linh ba nghìn năm trăm bảy mươi lăm đồng) được trừ số tiền 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng đã nộp); 4.443.600.000 đồng (thể hiện tại các biên lai số 0000044 ngày 24/4/2024; biên lai số 0000054 và 0000055 cùng ngày 20/5/2024; biên lai số 0000060 ngày 14/6/20242024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đăk Nông. Bị cáo đã nộp xong

Buộc bị cáo Trần Q phải trả số tiền 1.525.350.000đ (một tỷ năm trăm hai mươi lăm triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng), được trừ số tiền 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng) đã trả lại tại ủy nhiệm chi số: 04 ngày 02/6/2015 giữa Công an tỉnh Đ và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông; 1.425.350.000 đồng (Thể hiện tại các biên lai số 0000053 và 0000063 cùng ngày 20/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đăk Nông. Bị cáo đã nộp xong.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Hủy Lệnh kê biên tài sản số 03 ngày 14 tháng 01 năm 2014 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đối với bị cáo Thái Văn T1, bao gồm:

  • Quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 025764 ngày 11/8/2004, thửa đất số 111, tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại: Thôn C, xã N (nay là xã Đ), huyện Đ, tỉnh Đắk Nông với diện tích 1.800m² (400m² đất ở và 1.400m² đất cà phê) và tài sản gắn liền với đất là 01 ngôi nhà cấp IV diện tích 160m² (trong đó có 01 phòng khách, 02 phòng ngủ, 01 nhà bếp và 01 kho chứa hàng), phía trước có 01 sân làm bằng nền xi măng, có cổng và tường rào.
  • Quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 324378 ngày 20/3/2009 thửa đất số 234, tờ bản đồ số 01 tọa lạc tại: Thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông với diện tích 1.216m² đất trồng cây công nghiệp lâu năm.
  • Quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 402336 ngày 13/5/2011 thửa đất số 55, tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại: Thôn C, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông với diện tích 1.844m² (300m² đất ở và 1.544m² đất trồng cây công nghiệp lâu năm).
  • Quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 828539 ngày 31/12/2010 thửa đất số 257, tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại: Thôn C, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông với diện tích 1.140m² đất trồng cây công nghiệp lâu năm.

Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Minh M, Thái Văn T1 và Trần Q không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM(1);
  • - TAND tỉnh Đăk Nông(4);
  • - VKSND tỉnh Đăk Nông (1);
  • - Cục THADS tỉnh Đăk Nông (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đăk Nông (1);
  • - Công an tỉnh Đăk Nông (1);
  • - BCTN (3);
  • - NLQ (6);
  • - Lưu VP(3), HS(2). 20b NThuy.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Minh Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 524/2024/HS-PT ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 524/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo. Sửa một phần Bản án sơ thẩm.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger