|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 524/2024/DS-ST Ngày: 26/7/2024 Về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Long
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Lan
- Bà Phạm Thị Mai
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bảo Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 112/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 381/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 208/2024/QĐST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á
Trụ sở: D N, Phường E, Quận C, T phồ Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Ý L, sinh năm 2001; Địa chỉ liên hệ: Lầu H, Toà nhà A, D C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền số 257/UQ-QLN.24 ngày 27/02/2024). Có đơn xin vắng mặt.
-
- Bị đơn: Hoàng Thị Ngọc C, sinh năm 1979; Vắng mặt.
Địa chỉ: 3 C, Phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á và các bản tự khai của bà Trần Thị Ý L là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á (gọi tắt là Ngân hàng Á) cấp tín dụng cho bà Hoàng Thị Ngọc C (bà C) căn cứ theo Hợp đồng tín dụng trả góp số SGN.CN.465.110316 (Số tài khoản vay: 212912009) ngày 11/3/2016, chi tiết như sau: Số tiền cho vay: 110.000.000 đồng; Mục đích cho vay: Tiêu dùng tín chấp - Hỗ trợ tiêu dùng - Tiêu dùng; Phương thức cho vay: Cho vay từng lần; Phương thức giải ngân: Chuyển toàn bộ tiền vay vào tài khoản tiền gửi số [...] của bà C tại Ngân hàng Á; Thời hạn cho vay: 60 tháng, kể từ ngày Bên được cấp tín dụng nhận tiền vay; Lãi suất trong hạn: 11.00%/năm (tính theo số tiền vay ban đầu); Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Phạt chậm trả lãi: 200.000 đồng/kỳ trễ hạn.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà C đã thanh toán cho Ngân hàng Á tổng số tiền 97.703.001 đồng (gồm vốn gốc: 62.344.678 đồng, lãi trong hạn: 31.258.323 đồng, phạt chậm trả lãi: 4.100.000 đồng). Đến ngày 23/01/2019 bà C vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Căn cứ thỏa thuận giữa hai bên về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn, ngày 23/4/2020, Ngân hàng Á ra Thông báo thu hồi nợ trước hạn đối với khoản vay của Hợp đồng tín dụng trả góp nêu trên và khởi kiện bà C tại Tòa án, yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Hoàng Thị Ngọc C thanh toán một lần toàn bộ khoản nợ còn thiếu cho Ngân hàng Á tạm tính đến ngày 28/6/2023 là: 95.220.317 đồng (gồm nợ gốc: 47.655.322 đồng, lãi trong hạn: 19.561.667 đồng, lãi quá hạn: 24.703.328 đồng và phạt trễ kỳ: 3.300.000 đồng). Bà Hoàng Thị Ngọc C phải tiếp tục thanh toán lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng trả góp của Ngân hàng Á tính từ ngày 29/6/2023 cho đến khi trả hết nợ. Thứ tự trả nợ: vốn gốc, phạt trễ kỳ, lãi quá hạn, lãi trong hạn
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Tân Bình đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập đương sự để bà C đến Tòa trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn vào lúc 14 giờ ngày 20/5/2024 nhưng bà C vắng mặt không lý do. Ngày 04/6/2024, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn cũng vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn là bà Trần Thị Ý L trình bày vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện, do Bị đơn không có thiện chí trả nợ và không đến Tòa làm việc, không có thiện chí hòa giải về tranh chấp nên đề nghị Tòa án không tiếp tục hòa giải, và đề nghị sớm đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, Tòa án tiến hành tống đạt Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và Quyết định xét xử số 381/2024/QĐXXST-DS mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án lần thứ nhất vào lúc 14 giờ ngày 09 tháng 7 năm 2024 nhưng Bị đơn vắng mặt không lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Để tạo điều kiện cho Bị đơn đến Tòa án trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa lần thứ nhất.
Tại phiên tòa;
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà Trần Thị Ý L có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi bản tự khai, tóm tắt sao kê trình bày: Nguyên đơn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện buộc bà Hoàng Thị Ngọc C trả số tiền vốn gốc và tiền lãi tính đến ngày 26/7/2024 là: 103.826.073 đồng (trong đó: Nợ gốc: 47.655.322 đồng, lãi trong hạn: 19.561.667 đồng, lãi quá hạn: 33.309.084 đồng, phạt chậm trả lãi, phạt trễ kỳ: 3.300.000 đồng). Kể từ ngày 27/7/2024, bà C còn phải chịu lãi suất quá hạn theo thỏa thuận quy định tại Hợp đồng tín dụng trả góp số SGN.CN.465.110316 (Số tài khoản vay: 212912009) ngày 11/3/2016 cho Ngân hàng Á đến khi thanh toán dứt nợ. Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn bà Hoàng Thị Ngọc C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về việc thực hiện thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quá trình diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á có đơn khởi kiện yêu cầu bà Hoàng Thị Ngọc C trả tiền vay từ hợp đồng tín dụng trả góp nhằm mục đích tiêu dùng còn thiếu, đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền: Tại Kết quả trả lời xác minh của Công an P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện: “Công dân Hoàng Thị Ngọc C, sinh năm 1979 có đăng ký thường trú tại địa chỉ 3 C, Phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay, công dân trên không thực tế cư trú tại địa phương”. Tuy nhiên, tại Đơn khởi kiện của Ngân hàng Á; Hợp đồng tín dụng trả góp ngày 11/3/2016 thì bà C có địa chỉ tại 3 C, Phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
[3] Về người tham gia tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng vắng mặt (Lần thứ nhất vào ngày 09 tháng 7 năm 2024, lần thứ hai ngày 26 tháng 7 năm 2024), nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Xét Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ gốc 47.655.322 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ lời trình bày của Nguyên đơn, Bị đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện Nguyên đơn và Bị đơn có ký Hợp đồng tín dụng trả góp ngày 11/3/2016. Theo đó, Nguyên đơn đã đồng ý cấp tín dụng với số tiền vay là 110.000.000 đồng cho Bị đơn với mục đích Tiêu dùng tín chấp - Hỗ trợ tiêu dùng - Tiêu dùng và đã giải ngân đủ số tiền 110.000.000 đồng cho Bị đơn vào ngày 11/3/2016. Theo bảng tính lãi theo tài khoản của khách hàng Hoàng Thị Ngọc C thì tính đến ngày 026 tháng 7 năm 2024, Bị đơn chưa thanh toán nợ gốc 47.655.322 đồng. Do Bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng trả góp ngày 11/3/2016 đã ký nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc Bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền nợ gốc 47.655.322 đồng là phù hợp khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Xét yêu cầu bị đơn trả tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn và phạt chậm trả lãi:
Căn cứ vào Bảng tính lãi theo tài khoản của bà C, đối với số tiền vốn 47.655.322 đồng, tính đến ngày 26 tháng 7 năm 2024 thì bà C chưa thanh toán lãi trong hạn: 19.561.667 đồng, lãi quá hạn: 33.309.084 đồng, phạt chậm trả lãi, phạt trễ kỳ: 3.300.000 đồng (mức lãi suất trong hạn là 11.00%/năm, mức lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tương đương 16.50%/năm). Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” và Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N quy định: “Tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng”. Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 22 của quyết định số 04/VBHN-NHNN của Ngân hàng N ban hành ngày 24/4/2014 đã quy định nghĩa vụ của chủ thẻ như sau: “Thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho Tổ chức phát hành thẻ các khoản phí, tiền vay và lãi phát sinh từ việc sử dụng thẻ theo đúng thỏa thuận tại hợp đồng sử dụng thẻ”.
Từ những quy định nêu trên thì việc thỏa thuận lãi quá hạn giữa Nguyên đơn và Bị đơn là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật. Do đó Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn trả tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn và phạt chậm trả lãi tính đến ngày 26 tháng 7 năm 2024 là 56.170.751 đồng và tiếp tục trả tiền lãi quá hạn phát sinh từ ngày 27 tháng 7 năm 2024 cho đến khi trả dứt nợ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về thời hạn thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn phải thanh toán ngay một lần số nợ trên. Hội đồng xét xử xét thấy: Từ ngày 23/01/2019, Bị đơn đã không tiếp tục thanh toán cho Nguyên đơn như thỏa thuận trong Hợp đồng hai bên đã ký, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn. Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn phải thanh toán ngay một lần khoản nợ trên là không trái quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên toàn bộ yêu cầu của Nguyên đơn mà được Tòa án chấp nhận là 5.191.304 đồng. H lại Nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.380.507 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á.
Buộc bà Hoàng Thị Ngọc C có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền vốn và lãi tính đến ngày 26 tháng 7 năm 2024 là 103.826.073 đồng (trong đó: Nợ gốc: 47.655.322 đồng, lãi trong hạn: 19.561.667 đồng, lãi quá hạn: 33.309.084 đồng, phạt chậm trả lãi, phạt trễ kỳ: 3.300.000 đồng). Kể từ ngày 27/7/2024, bà Hoàng Thị Ngọc C còn phải chịu lãi suất quá hạn theo thỏa thuận quy định tại Hợp đồng tín dụng trả góp số SGN.CN.465.110316 (Số tài khoản vay: 212912009) ngày 11/3/2016 cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á đến khi thanh toán dứt nợ.
Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại cơ quan có thẩm quyền thi hành án dân sự.
-
Về án phí:
Bà Hoàng Thị Ngọc C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.191.304 (năm triệu một trăm chín mươi mốt nghìn ba trăm lẻ bốn) đồng.
H lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.380.507 (hai triệu ba trăm tám mươi nghìn năm trăm lẻ bảy) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001154 ngày 22 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
-
Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên Tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Long |
Bản án số 524/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 524/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP HĐ VAY TÀI SẢN
