Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 524/2024/DS-PT

Ngày: 11-11-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Sang.
Các Thẩm phán: Ông Hồ Văn Cường;
Bà Võ Thị Hồng Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Anh Thư, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gọn – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 412/2024/TLPT-DS, ngày 07-10-2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 136/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 506/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 148/2024/ QĐ-PT, ngày 06-11-2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Anh P năm 1974, địa chỉ: Số E, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

- Bị đơn: Ông Phạm Thanh P1, sinh năm: 1976; địa chỉ: Số E, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt có ủy quyền.

Người đại diện hợp pháp của ông Phạm T P1: Bà Phạm Thanh H, sinh năm 1969; địa chỉ: Số G, Tổ H, Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh – là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 23/12/2023); có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Nguyễn Ngọc A sinh năm 1972; địa chỉ: Số E, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
  • + Bà Nguyễn Thanh T1 sinh năm 1978; địa chỉ: E C, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn xin vắng mặt.
  • + Ông Đoàn Quốc N (Đoàn Quốc Đ năm 1976 và bà Dương Thị T2 sinh năm 1980; cùng địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1968 và bà Lê Thị Bé S, sinh năm 1969; cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin vắng mặt.

- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Anh P2 nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/7/2023, quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa – nguyên đơn bà Nguyễn Anh P3 trình bày:

Phần diện tích đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà P4 nguồn gốc từ việc nhận chuyển nhượng của người tên Đ1vào năm 2007, đây là tài sản riêng của bà P5 tiền trúng số có được nhưng do ông Nguyễn Ngọc A1 bà P2 người trực tiếp liên hệ Uỷ ban nhân dân xã làm hồ sơ đăng ký đất nên ông A được cùng bà P6 tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại thời điểm 2007 đất còn trống, chưa có công trình gì trên đất, chiều ngang trước đất dài 12,5m, chiều ngang sau dài hơn 14m, có ranh sẵn bằng kẽm gai hai bên và hàng trúc, bà P7 yêu cầu cơ quan có thẩm quyền đo đạc kiểm tra lại diện tích. Khi nhận chuyển nhượng, ông Đoàn Quốc Đ1 chủ đất liền kề đã có sẵn căn nhà vách đất xây cất ở giữa đất, chưa lấn đất bà PMột thời gian sau, ông Đ2 rằng trụ ranh mục nên tự ý nhổ trụ ranh cột kẽm gai, bà P7 có ý kiến. Đến khi ông Đ3 nhà mới (bà P7 nhớ rõ thời gian) lấn qua đất bà P8 tích lấn chiếm bao nhiêu không rõ nhưng bà P7 tranh chấp vì nghĩ tình nghĩa sui gia.

Sau khi ông Đ3 nhà xong khoảng hơn 01 năm thì bà P9 hành xây nhà, làm hàng rào B40, phía đất giáp ông Đ, bà P chừa lại phía trước 1,1m, phía sau 06 tấc (0,6m), lý do của việc chừa 01 phần diện tích đất giáp ông Đ4 rào là vì trước đất giáp đường có trụ điện, thợ hồ không xây rào được. Từ đó đến nay hơn 10 năm hai bên không tranh chấp, trường hợp vợ chồng ông Đoàn Quốc Đ5 sinh sống trên đất thì bà P10 chấp nhận ranh hiện trạng. Tuy nhiên, đến cuối năm 2022 vợ chồng ông Đoàn Quốc Đ6 không muốn tiếp tục sinh sống trên đất mà bán đất cho vợ chồng ông Phạm T3 P2nên nay bà P7 đồng ý theo ranh hiện trạng, yêu cầu ông P2là người mua đất phải trả lại bà P11 đất ông Đ7 chiếm trước đó với diện tích ngang trước 1,1m, ngang sau 0,6m theo kết quả đo đạc của Văn phòng đăng ký đất đai là 38,1 m² tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh

Đối với ông Nguyễn Ngọc A – người cùng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cư trú cùng địa chỉ với bà P12 do mâu thuẫn vợ chồng nên ông A3 bỏ nhà đi, theo bà P13 biết ông Nguyễn Ngọc A2 tranh chấp với ông Đ8 ông P2thống nhất ranh hiện trạng với ông Đ9 P2tuy nhiên đây là tài sản riêng của bà P14 đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà P15 với ông Phạm Thành P16

– Quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa – người đại diện hợp pháp của bị đơn – bà Phạm Thanh H trình bày:

Ngày 21/9/2022, ông Phạm Thanh P17 vợ Nguyễn Thanh T4 nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Đoàn Quốc Đ10 Dương Thị T1quyền sử dụng đất diện tích ngang trước 6m, ngang sau 6m, tổng diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 259,6 m² tọa lạc tại tổ A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninhtrên đất có 01 căn nhà cấp 4. Khi thỏa thuận chuyển nhượng, cán bộ thuộc Văn phòng đăng ký đất đai huyện C đo đạc hiện trạng đất thực tế, kết quả đo đạc thể hiện chiều ngang trước đất đủ 6m nhưng có mất vài tấc đất ở hậu đất, ngang sau chỉ còn 5,6m nên ông Đ10 T1đồng ý giảm bớt tiền chuyển nhượng đất cho ông P1bà T5 Như vậy ông P1bà Tđã mua đất đúng hiện trạng, phía ranh giáp bà P18 có sẵn hàng rào B40 do bà P19 xây từ rất lâu. Ngày 18/11/2022, ông P1bà Tđược Ủy ban nhân dân huyện C giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích trên, chưa từng thay đổi hiện trạng ranh sau khi mua đất.

Tháng 12/2022, ông P1tiến hành xây tường bê tông trong khuôn viên diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bên cạnh hàng rào B40 của bà P20 sửa lại căn nhà, tuy nhiên bà P21 tục đập phá tường bê tông do thợ xây.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn khẳng định ông P1bà Tsử dụng đúng diện tích được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đúng diện tích nhận chuyển nhượng của ông Đoàn Quốc Đ10 Dương Thị T1vào năm 2022, hoàn toàn không lấn chiếm đất bà Pđề nghị Tòa án xem xét bác yêu cầu khởi kiện của bà P

- Tại đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt ngày 08/5/2024 – người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thanh T6 bày:

Bà T7 nhất mọi lời trình bày của ông Phạm T P1đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật, ngoài ra bà T8 vắng mặt, không có ý kiến, yêu cầu gì thêm.

- Tại Biên bản lấy lời khai và đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt cùng ngày 22/5/2024 – người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Quốc N(Đoàn Quốc Đbà D thống nhất trình bày:

Ông Đoàn Quốc Đ11 thật là Đoàn Quốc N1 giấy khai sinh, nhưng chứng minh nhân dân cũ tên là Đoàn Quốc Đ12 năm 2023 ông N2 lại căn cước thì lấy tên theo giấy khai sinh là Đoàn Quốc N

Nguồn gốc phần diện tích đất ông N3 T1chuyển nhượng cho vợ chồng ông P1bà Tdo ông bà nội ông N4 lại, trên đất có mộ của ông nội nên vợ chồng ông bà bỏ tiền ra di dời mộ và được gia đình cho sinh sống trong căn nhà tạm trên đất từ năm 2003. Bà Dương Thị T1được UBND huyện C giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng năm 2003. Thời điểm đó, giữa hai bên đất tiếp giáp bà P4 ranh là hàng rào cây dông kéo kẽm gai, phía đất bà P22 còn chủ cũ. Sau đó vài năm, bà P23 Ađến sinh sống, xây hàng rào lưới B40, do không kiểm tra kỹ ranh nên đất của vợ chồng ông bị bà P24 lấn đất phía sau 04 tấc (0,4m) nhưng ông bà không tranh chấp.

Đến năm 2007, vợ chồng ông bà cắt 220 m² đất chuyển nhượng cho bà Đoàn Thị Ngọc M sửa lại căn nhà và tiếp tục sinh sống cho đến năm 2022 thì chuyển nhượng đất cho ông P1bà Ttoàn bộ nhà đất với diện tích còn lại ngang trước 6m, ngang sau 5,6m (do bà P25 đất nên không còn đủ 6m hậu) nên ông bà phải trừ lại tiền 04 tấc phía sau vì mất đất, xem như đã chấp nhận ranh B40 hiện trạng, chỉ lấy phía sau ngang 5,6m. Việc chuyển nhượng hoàn tất, ông bà không còn liên quan đến phần đất này vì đã chuyển giao quyền sử dụng đất cho phía ông P1bà TKhi ông P1xây thêm tường thì phát sinh tranh chấp, bà P26 sắt, đập phá tường ông P1xây trong khi việc xây tường nằm hoàn toàn trên đất của ông P27 bà P28 rằng vợ chồng ông đã lấn đất từ trước nên ông P1có nghĩa trả lại đất lấn chiếm là hoàn toàn không có cơ sở, đề nghị Tòa án xem xét bác yêu cầu khởi kiện của bà P15 với ông P1

- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 23/5/2024 và đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt ngày 24/5/2024 – người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C1 bà Lê Thị B S thống nhất trình bày:

Vợ chồng ông C2 cư trú tại căn nhà của ông Phạm Thanh P29 ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninhcó ký hợp đồng thuê nhà đối với bà Phạm Thanh H1 người đại diện của ông P1thỏa thuận thời gian thuê trong 03 năm, từ 10/3/2024-10/3/2027, giá thuê hàng tháng 1.500.000 đồng. Đối với tranh chấp giữa bà P20 ông P1đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, một phần vách nhà của ông P1nằm trên diện tích tranh chấp với bà P30 trường hợp quyết định của Tòa án có liên quan đến căn nhà của ông P1nơi vợ chồng ông bà sinh sống thì ông bà tự giải quyết với ông P1không yêu cầu gì trong vụ án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 136/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, đã quyết định:

Căn cứ Điều 158, 175 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 166, 170, 202, 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Anh P3 đối với ông Phạm Thanh P1 về việc yêu cầu ông Phạm Thanh P1 giao trả phần đất diện tích 38,1 m² ngang mặt trước 1,1m; ngang mặt sau 0,6m; dài hết đất, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 04-9-2024 nguyên đơn bà Nguyễn Anh Pkháng C3, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, theo hướng chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; buộc ông Phạm Thanh P31 trả lại phần đất diện tích 38,1m² ngang mặt trước 1,1m; ngang mặt sau 0,6m; dài hết đất, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh

Tại phiên toà phúc thẩm, bà Nguyễn Anh P32 nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:

  • + Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa;
  • + Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Anh P3; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về sự vắng mặt của đương sự: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thanh Tông Nguyễn Văn C4 Lê Thị B Sông Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt; ông Nguyễn Ngọc A3 được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự trên theo quy định của pháp luật.

[1.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04-9-2024 nguyên đơn bà Nguyễn Anh P33 cáo. Qua xem xét, Đơn kháng cáo của bà P30 thời hạn luật định và hợp pháp theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tại phiên toà, các bên đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án; nguyên đơn bà Nguyễn Anh P32 nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo; bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Anh P34 đồng xét xử nhận thấy:

[3.1] Căn cứ vào biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 17/01/2024 của Tòa án cấp sơ thẩm; thể hiện:

  • - Hiện trạng phần đất bà P35 quản lý, sử dụng trên đất có 01 căn nhà cấp 4, sân có mái che, xung quanh đất có rào B40 chân gạch, trước nhà có hàng rào sắt kiên cố, cổng sắt.
  • - Hiện trạng phần đất ông P1đang quản lý, sử dụng trên đất có 01 căn nhà cấp 4, sân có mái che, xung quanh xây tường rào kiên cố, một đoạn giáp đất bà P rào lưới B40, phía trước hàng rào bằng sắt và cổng sắt kiên cố.
  • - Phần diện tích đất đang tranh chấp có xây hàng rào tường kiên cố, một phần rào lưới B40, một phần diện tích tranh chấp nằm ngoài hàng rào B40 của bà P

[3.2] Kết quả đo đạc và thực tế hiện trạng sử dụng đất, thể hiện:

Phần đất bà Pông A4 cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại 02 thửa đất 344, 220 tờ bản đồ số 22, có tổng diện tích là 522,6 m² (248,5 m² + 274,1 m²). Tuy nhiên, theo kết quả đo đạc, phần đất bà P35 quản lý, sử dụng có diện tích hiện trạng là 533,5 m². Như vậy, phần đất bà P35 quản lý, sử dụng thực tế lớn hơn diện tích được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Phần diện tích đất thực tế ông P1bà T đang sử dụng đúng với diện tích được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 259,6m² và nằm trong ranh bản đồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Phần diện tích đất bà P36 chấp 38,1 m² (ngang trước 1,1m, ngang sau 0,6m) nằm hoàn toàn trong phần diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông P1bà T

[3.3] Tại toà, bà P37 nhận khi nhận chuyển nhượng đất từ người khác vào năm 2007, giữa hai bên không tiến hành đo đạc hay kiểm tra diện tích đất, chỉ chuyển nhượng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cho rằng từ lúc vợ chồng ông N(Đbà T1xây nhà (cách đây hơn mười năm) đã lấn chiếm một phần diện tích đất của bà P nhưng bà P7 có ý kiến phản đối và không khởi kiện tranh chấp.

[3.4] Hội đồng xét xử xét thấy: Hàng rào lưới B40 kiên cố như ranh hiện trạng là do tự bà P24 dựng hơn 10 năm, toàn bộ phần diện tích tranh chấp 38,1 m² nằm trong diện tích đất của ông P1bà T9 nằm ngoài hàng rào lưới B40 của bà PPhần đất ông P1khi mua đã có sẵn nhà trên đất, sau khi nhận chuyển nhượng, ông P42 chỉ xây thêm tường rào bê tông bên ngoài. Ông P1bà T đang sử dụng đúng với diện tích được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 259,6m². Bà P38 đang quản lý, sử dụng phần diện tích đất nhiều hơn diện tích được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà P7 bị lấn chiếm đất, không bị mất đất; nên bà P39 kiện tranh chấp quyền sử dụng đất với ông P1 là không có cơ sở.

Do đó, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Anh P3, về việc yêu cầu ông P1trả lại phần đất diện tích 38,1 m² , ngang mặt trước 1,1m; ngang mặt sau 0,6m; dài hết đất; tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[4] Bà Pkháng cáo nhưng không cung cấp thêm tình tiết nào khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo. Nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà P32 nguyên bản án sơ thẩm.

[5] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên có căn cứ chấp nhận.

[8] Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bà P phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự

  • - Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Anh P3
  • - Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 136/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Tuyên xử:

Căn cứ Điều 158, 175 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, 170, 202, 203 Luật Đất đai năm 2013 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Anh P3 đối với ông Phạm Thanh P1, về việc yêu cầu ông Phạm Thanh P1 giao trả phần đất diện tích 38,1 m² ngang mặt trước 1,1m; ngang mặt sau 0,6m; dài hết đất, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh
  2. Về chi phí tố tụng: Bà P40 chịu toàn bộ chi phí đo đạc, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản tranh chấp là 3.963.000 đồng. Ghi nhận bà P đã nộp xong.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Anh P40 chịu 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà P đã nộp là 2.500.000 đồng theo biên lai thu số 0019100 ngày 06/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành. Hoàn trả cho bà P41 tiền 2.200.000 (hai triệu hai trăm nghìn) đồng.
  4. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Bà Nguyễn Anh P40 chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm; khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà P đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009670 ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh; bà P18 nộp đủ án phí phúc thẩm.

  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND.TTN;
  • - TAND huyện Châu Thành
  • - CCTHADS H. Châu Thành
  • - Phòng KTNV. TATTN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VP TAND tỉnh;
  • - Lưu Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 524/2024/DS-PT ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 524/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger