|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 522/2024/HS-ST Ngày: 23/9/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thành Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Vinh Toan
- Bà Nguyễn Thị Hồng Phượng
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Như Nên - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 461/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 479/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa xét xử vụ án số 1120/TB-TA ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thiên T
Tên gọi khác: Không; giới tính: Nam
Sinh ngày 20/10/1982, tại tỉnh Ninh Thuận.
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Thiên Chúa
- Nơi cư trú:
- + Nơi đăng ký thường trú: 39, Nguyễn Trường T1, khu phố B, thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
- + Chỗ ở: Ấp V, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Nghề nghiệp: Thợ cắt tóc
Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không
Trình độ học vấn: Lớp 6/12.
Họ tên cha: Nguyễn M, sinh năm 1954 (Đã chết).
Họ tên mẹ: Cao Thị Hồng H, sinh năm 1958, còn sống.
Gia đình có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ tư.
Họ tên vợ: Lê Thị H1-sinh năm 1990; bị can có 02 con, sinh năm 2012 và năm 2019.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt theo Quyết định truy nã từ ngày 26/3/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trạm giam B5 Công an tỉnh Đ.
Bị hại: Ông Mai Hoàng C, sinh năm 1979.
Bà Nguyễn Thị Bé H2, sinh năm 1983
Địa chỉ: K, tổ G, khu phố D, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt).
Người làm chứng:
- Bà Lê Thị L, sinh năm 1944; (vắng mặt)
- Ông Mai Hoàng D, sinh năm 1962; (vắng mặt)
- Ông Phan Bá N, sinh năm 1965; (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thiên T và bà Nguyễn Thị Bé H2 (sinh năm 1983, Đăng ký thường trú tại K, khu phố D, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) có quan hệ quen biết nhau do cả hai đều là nhân viên làm thuê cho ông Phan Bá N1 tại tiệm hớt tóc "Anh T2" ở khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Khoảng tháng 02/2015 (không nhớ ngày), trong lúc T và bà H2 đang làm việc tại tiệm hớt tóc “Anh T2” thì giữa T và bà H2 xảy ra mâu thuẫn cãi nhau liên quan đến nhận chia tiền bồi dưỡng (tiền bo) của khách. Sau đó, bà H2 đã kể lại sự việc này cho ông Mai Hoàng C-sinh năm 1979 (là chồng bà H2, cùng cư trú tại địa với bà H2) biết.
Đầu tháng 3/2015 (không rõ ngày) ông C rủ tên K (thuê trọ tại phường B, không rõ lai lịch) đến tiệm tóc “Anh T2" gặp T để nói chuyện, giải quyết mâu thuẫn. Sau đó hai bên cãi nhau, K và C xông vào xô xát dùng tay đánh T nhưng được ông N1 và mọi người can ngăn nên T không bị thương tích. Tức giận vì bị ông C và tên K đến gây sự đánh T nên T nảy sinh ý định tìm đánh K và ông C.
Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 10/3/2015, sau khi T uống rượu cùng với nam thanh niên tên B (chưa rõ lai lịch) tại khu nhà trọ tại khu phố C, phường H, thành phố B, T chuẩn bị 01 dao bấm bằng kim loại, mũi nhọn, dài khoảng 18cm giấu trong túi quần của T đang mặc và rủ tên B điều khiển xe mô tô (không rõ biển số, xe của B) chở T đi tìm K để đánh. Khi đi ngang qua nhà ông C thuộc K2/20, khu phố D, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, thì T nhìn thấy ông C đang ngồi ở sân nhà. Lúc này, T kêu B dừng xe, T đẩy cổng đi vào nhà, tay phải C móc dao bấm từ trong túi quần của T xông đến đâm 01 nhát trúng cánh tay trái của ông C gây thương tích. Ông C kêu la và bỏ chạy vào phía sau nhà thì T cầm dao tiếp tục đuổi theo ông C vào phía trong phòng khách. Cùng lúc này, bà H2 nghe tiếng kêu la nên từ trong phòng ngủ chạy ra phòng khách thì thấy C cầm dao và B đang ở phòng khách. Thấy vậy bà H2 cầm ghế nhựa (có sẵn trong nhà) để đánh trả T. T cầm dao xông vào thì bà H2 đi lùi lại, T sử dụng dao đâm 01 nhát từ trên xuống dưới trúng vùng thái dương trái bà H2, lưỡi dao tiếp tục trượt xuống vùng mi mắt trái, mắt trái, rãnh mũi má trái của bà H2 gây thương tích chảy máu, bà H2 quay lưng bỏ chạy thì T tiếp tục đâm một nhát trúng lưng trái bà H2 gây thương tích. Thấy bà H2 bị thương tích, T dừng lại bỏ chạy ra ngoài đường lên xe mô tô của B bỏ đi. Bà H2 được gia đình đưa đến Bệnh viện C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh cấp cứu điều trị. Sau đó chuyển đến Bệnh viện “Mắt” Thành phố Hồ Chí Minh điều trị. Ông C được gia đình đưa đến Bệnh viên đa khoa Đồng Nai cấp cứu điều trị.
Ngày 06/8/2015, bị hại Mai Hoàng C có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Sau khi đánh gây thương tích cho bà H2 và ông C thì T đã bỏ trốn và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B khởi tố và ra Quyết định truy nã. Đến ngày 26/3/2024, T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B bắt theo Quyết định truy nã. Quá trình điều tra, Nguyễn Thiên T khai nhận hành vi phạm tội như trên.
* Vật chứng vụ án: 01 (một) dao gấp bằng kim loại, mũi nhọn, dài khoảng 18cm của Nguyễn Thiên T sử dụng làm công cụ đâm bị hại Mai Hoàng C và Nguyễn Thị Bé H2 gây thương tích. Sau khi gây án, T vứt mất không rõ địa điểm nên không thu hồi được.
* Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 0269/GĐPY/2015 ngày 21/4/2015 của Giám định viên Trung tâm pháp y tỉnh Đ, xác định bị hại Nguyễn Thị Bé H2 bị thương tích như sau:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- - Vết thương vùng mắt trái gây rách giác củng mạc, vỡ nhãn cầu, bong võng mạc đã được phẫu thuật khâu bảo tồn nhãn cầu mắt trái, khâu giác mạc, củng mạc, kết mạc, hiện tại mù mắt trái, thị lực mắt phải bình thường. Tỷ lệ 41%.
- - Vết thương trán trái- mi mắt trái- rãnh mũi má trái để lại sẹo kích thước 08x03cm, xơ cứng, dính, xấu về thẩm mỹ. Tỷ lệ 11%.
- - Vết thương lưng trái thấu ngực, tràn máu màng phổi trái đã phẫu thuật dẫn lưu, hiện không để lại di chứng, bao gồm mẻ xương sườn số VIII bên trái. Tỷ lệ 05%.
- - Vết thương lưng trái để lại sẹo kích thước 05x0,2cm. Tỷ lệ 01%.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể (Áp dụng theo phương pháp cộng lùi) do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 51% (Năm mươi mốt phần trăm).
* Tại Công văn số 204/TTPY/2015 ngày 15/7/2015 kết luận cơ chế hình thành vết thương của bị hại Nguyễn Thị Bé H2 như sau:
“ Vết thương thái dương trái – mi mắt trái (trán trái – mi mắt trái – rãnh mũi má trái) 05cm, rách toàn bộ mi trên dưới, rách giác củng mạc phía thái dương, vỡ nhãn cầu, bong võng mạc. Vết thương lưng khoang liên sườn V ngay góc dưới xương bả vai trái dài 04cm thấu ngực, tràn máu màng phổi trái. Cả hai tổn thương này do vật sắc tác động lực nhẹ theo hướng tiếp tuyến với da hoặc vật sắc nhọn tác động theo hướng vuông góc với da gây nên”.
* Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 0268/GĐPY/2015 ngày 15/4/2015 của Giám định viên Trung tâm pháp y tỉnh Đ, xác định bị hại Mai Hoàng C bị thương tích như sau:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- - Vết thương cánh tay trái để lại sẹo kích thước 1,5x0,2cm. Tỷ lệ 01%.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 01% (Một phần trăm).
* Tại Công văn số 203/TTPY/2015 ngày 15/7/2015 kết luận cơ chế hình thành vết thương của bị hại Mai Hoàng C như sau:
“ Vết thương 1/3 trên mặt trước trong cánh tay trái kích thước 02cm, kèm sưng bầm tụ máu. Tổn thương này do vật sắc tác động lực nhẹ theo hướng tiếp tuyến với da hoặc vật sắc nhọn tác động theo hướng vuông góc với da gây nên”.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Bé H2 yêu cầu bị cáo Nguyễn Thiên T bồi thường tiền điều trị thương tích và các yêu cầu khác với tổng số tiền 330.000.000₫ (Ba trăm ba mươi triệu đồng). Hiện bà Lê Thị H1 (vợ bị can Nguyễn Thiên T) đã bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Bé H2 số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng). Riêng bị hại Mai Hoàng C không yêu cầu T bồi thường.
Qua trình điều tra, bị can Nguyễn Thiên T khai, T quen biết B (không rõ lai lịch) tại khu nhà trọ khu phố C, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. T rủ B đi cùng đến hiện trường nhưng không bàn bạc đi đánh nhau và B không biết T đi đánh nhau. Khi đến trước nhà bị hại C thì T nói B dừng xe đứng bên ngoài. Sau đó, T xông vào nhà ông C đánh gây thương tích cho ông C và bà H2; T không rõ B có vào trong nhà ông C hay không. Sau khi gây thương tích cho ông C, bà H2, T bỏ chạy ra ngoài đường thì B đã bỏ đi đâu không rõ nên T chạy bộ ra ngoài đường lớn đón xe ôm bỏ trốn. Bị hại C, H2 và bà Lê Thị L (mẹ bị hại C, có mặt tại hiện trường) đều khai thấy người điều khiển xe mô tô chở T đi cùng với T vào phòng khách và có cầm dao nhưng không tham gia đánh ông C, bà H2. Ông Mai Hoàng D (anh của bị hại C) khai, đang ở nhà sát bên nhà ông C thì nghe thấy bên nhà ông C to tiếng, ông D đi ra đường để sang nhà ông C tìm hiểu sự việc thì thấy T (quen biết từ trước) đang ngồi phía sau xe mô tô của người thanh niên (không rõ lai lịch) để nổ máy bỏ đi, T có chào ông D, sau đó cùng thanh niên trên chạy xe bỏ đi. Sau đó, ông D đi vào nhà ông C thì thấy ông C và bà H2 bị thương tích. Kết quả điều tra, chưa rõ nhân thân lai lịch của đối tượng B.
Tại cáo trạng số: 464/CT/VKS-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố Nguyễn Thiên T phạm tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thiên T với mức án 06 (sáu) năm đến 07 (bảy) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thiên T bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Bé H2 theo quy định pháp luật.
Về án phí: Bị cáo nộp án phí theo quy định.
Bị cáo có ý kiến tranh luận là đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố còn mức hình phạt xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ. Bị hại không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Về tố tụng:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đều hợp pháp, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
-
Về nội dung vụ án, tội danh và áp dụng điều luật:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai quanh co và bất nhất về việc chuẩn bị hung khí, hành vi của người đàn ông tên B đi cùng bị cáo đến nhà bị hại và hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên đối chiếu lời khai của bị cáo trong biên bản hỏi cung bị can, kết luận giám định, biên bản ghi lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 15 giờ 15 phút ngày 10/3/2015, tại nhà của ông Mai Hoàng C và bà Nguyễn Thị Bé H2 thuộc K, khu phố D, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, xuất phát trước đó khoảng 01 tuần giữa Nguyễn Thiên T và bà H2 có xảy ra mâu thuẫn cãi nhau liên quan đến nhận chia tiền bo của khách. Ông C biết được sự việc đã rủ tên K (chưa rõ lai lịch) đến tiệm cắt tóc gặp T và xẩy ra xô xát đánh nhau nhưng không ai bị thương tích. Tức giận, T nảy sinh tìm đánh K và ông C nên đã chuẩn bị 01 dao bấm bằng kim loại, mũi nhọn, dài khoảng 18cm cất giấu trong túi quần, sau đó rủ tên B (chưa rõ lai lịch) sử dụng xe mô tô (không rõ biển số) chở T đến nhà tìm đánh ông C. Khi thấy ông C đang ở ngoài, T xông vào, dùng dao bấm đâm 01 nhát trúng cánh tay trái của ông C gây thương tích. Cùng lúc này, bà H2 từ trong phòng chạy ra, cầm ghế nhựa chống trả thì bị C dùng dao bấm đâm 01 nhát trúng vùng thái dương trái bà H2, lưỡi dao tiếp tục trượt xuống vùng mi mắt trái, mắt trái, rãnh mũi má trái của bà H2 gây thương tích chảy máu. T tiếp tục đâm một nhát trúng lưng trái bà H2 gây thương tích rồi bỏ đi. Hậu quả, ông C bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 01% (Một phần trăm), bà H2 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 51% (Năm mươi mốt phần trăm).
-
Về tính chất mức độ hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự, gây bất bình cho quần chúng nhân dân tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành nên có đủ nhận biết hành vi cố ý gây thương tích cho bị hại là vi phạm pháp luật. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ từ trước mà bị cáo đã dùng dao đâm liên tiếp bị hại gây tổn thương cơ thể cho ông C với tỷ lệ 1%, bà H2 với tỷ lệ là 51%. Hành vi dùng hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho bị hại của bị cáo thể hiện tính chất hung hãn, côn đồ. Sau khi gây thương tích cho ông C và bà H2, bị cáo đã bỏ trốn và bị truy nã đến ngày 26/3/2024 bị bắt, gây khó khăn cho công tác điều tra, mặt khác thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Do đó, cần thiết xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, cải tạo giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
-
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Do quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai quanh co, không thống nhất về các vấn đề liên quan đến vụ án nên bị cáo không được hưởng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, đã bồi thường một phần chi phí điều trị thương tích cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung đồng thời xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo để thể hiện tính nhân đạo và sự khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.
-
Về xử lý vật chứng:
01 (một) dao gấp bằng kim loại, mũi nhọn, dài khoảng 18cm của Nguyễn Thiên T sử dụng làm công cụ đâm bị hại ông C và bà H2 gây thương tích. Sau khi gây án, T vứt mất không rõ địa điểm nên không thu hồi được.
-
Về bồi thường dân sự:
Ông Mai Hoàng C không yêu cầu bị cáo bồi thường. Bị hại bà Nguyễn Thị Bé H2 yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích, tổn hại sức khỏe và các khoản khác tổng cộng: 320.000.000₫ (ba trăm hai mươi triệu đồng), cụ thể:
- Tiền khám, nằm viện điều trị thương tích: 60.000.000₫.
- Tiền chi phí thuốc men khám điều trị phòng khám tư nhân: 20.000.000₫.
- Thu nhập thực tế bị mất do không lao động được trong thời gian điều trị tại nhà: 10.000.000/tháng x 12 tháng = 120.000.000₫.
- Tiền công người chăm sóc 02 tháng: 10.000.000₫ x 2 = 20.000.000đ.
- Tiền tổn thương sức khỏe: 100.000.000₫.
Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại các các khoản trên. Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại 10.000.000đ, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đồng ý bồi thường tiếp cho bị hại số tiền là 310.000.000đ (ba trăm mười triệu đồng).
-
Các vấn đề khác:
Đối với đối tượng B (chưa rõ lai lịch) có hành vi sử dụng xe mô tô giúp sức chở Nguyễn Thiên T đến nhà bị hại Nguyễn Thị Bé H2 đánh bà H2 và ông Mai Hoàng C gây thương tích, tuy nhiên do chưa làm việc và chưa xác định được nhân thân của B, Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục làm rõ xử lý sau.
-
Về án phí:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
-
Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa,
xét thấy phù hợp với những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định về vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thiên T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thiên T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2024.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng các Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Nguyễn Thiên T có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Bé H2 số tiền 310.000.000đ (ba trăm mười triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên thi hành án phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015
Bản án này được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
-
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Thiên T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 15.500.000đ (mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Bị cáo và bị hại được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thành Thị Thu Trang |
Bản án số 522/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 522/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo cố ý gây thương tích cho 02 bị hại
