Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 522/2024/DSPT

Ngày: 13 - 12 - 2024

V/v “tranh chấp hợp đồng

thi công”

 

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Hoàng Dũng;

Bà Nguyễn Thị Trang Thư.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Trần Thanh Vũ - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 13 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 237/2024/TLPT- DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng thi công”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 77/2024/DS - ST ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ có bị đơn kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 386/2024/QĐPT-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 369/2024/QĐ-PT ngày 19 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Thanh M, sinh năm 1995; địa chỉ: B, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

Đại diện theo ủy quyền: Ông Lâm Hoàng N, sinh năm: 2000; địa chỉ: B, QL1A, KDC Trung tâm văn hóa T, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

2. Bị đơn: Công ty T1; địa chỉ: B N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức H. (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền:

  • Bà Lê Thị Ngọc D, sinh năm 1983; (vắng mặt)
  • Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1999; (vắng mặt)
  • Ông Thái Trung N1, sinh năm 1981; (vắng mặt)
  • Ông Nguyễn Thái V, sinh năm 1998; (vắng mặt)
  • Ông Dương Minh P, sinh năm 2000; (vắng mặt)
  • Bà Võ Ngọc N2, sinh năm: 200; (có mặt)

Cùng địa chỉ: B N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Tấn V1, sinh năm: 1994; địa chỉ: khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

Đại diện hợp pháp của ông Lê Tấn V1 là ông Trần Quốc M1, sinh năm 1992; địa chỉ: A L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

4. Người kháng cáo: Công ty T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15/7/2023 và quá trình tố tụng người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Thanh M trình bày:

Ngày 04/5/2023, ông Lê Thanh M và chủ đầu tư là Công ty TNHH T1 (Công ty T1) cùng thỏa thuận và thống nhất ký kết Hợp đồng khoán việc số: 01-05/HĐKV/2023/LV. Theo đó, ông M sẽ nhận khoán toàn bộ vật tư và nhân công để thi công trọn gói phần thô công trình nhà ở cấp 4 tại: Thửa đất số 3150, tờ bản đồ số: 4, khu tái định cư T, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ theo GCN QSD đất số: CX 759136 do UBND thành phố C cấp ngày 27/07/2020 (chuyển nhượng cho Ông Lê Tấn V1 ngày 11/01/2023). Cụ thể, ông M sẽ hoàn thành các hạng mục quy định tại mục 1.1 Điều 1 Hợp đồng khoán việc, thời gian hoàn thành tất cả các hạng mục được giao là 45 ngày (bao gồm ngày nghỉ, ngày lễ) tính từ ngày hai bên ký hợp đồng (trừ trường hợp bất khả kháng và theo thỏa thuận hai bên). Tổng giá trị Hợp đồng là: 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng) (chưa bao gồm cừ tràm, nâng nền và các chi phí vật tư phát sinh khác). Việc thỏa thuận trên hoàn toàn tự nguyện, có đầy đủ chữ ký của hai bên và con dấu của đại diện Công ty T1.

Tuy nhiên đến nay, ông M đã hoàn thành xong các hạng mục được giao tại mục 1.1 Điều 1 của Hợp đồng nhưng phía Công ty T1 chỉ mới thanh toán cho ông M đợt 01 và đợt 02, số tiền còn lại của đợt 03 và 04 tổng cộng là: 110.000.000 đồng (Một trăm mười triệu đồng), nhưng Công ty T1 chỉ mới thanh toán cho ông M 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), còn 80.000.000 đồng (T mươi triệu đồng) vẫn chưa thanh toán. Đồng thời, phía Công ty còn phải thanh toán cho ông M số tiền vật tư phát sinh khác tổng cộng là: 24.280.000 đồng (Hai mươi bốn triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng) (có phiếu giao hàng đợt 01 ngày 04/6/2023, đợt 02 ngày 06/07/2023 đính kèm theo đơn).

Vì vậy, ông M yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều buộc Công ty T1 tiếp tục thực hiện Hợp đồng khoán việc số: 01-05/HĐKV/2023/LV ký ngày 04/05/2023 giữa ông M và Công ty T1. Buộc Công ty TNHH T1 phải thanh toán cho ông M giá trị Hợp đồng còn lại là: 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng) và buộc Công ty T1 phải trả lại cho ông M số tiền vật tư phát sinh khác tổng cộng: 24.280.000 đồng (Hai mươi bốn triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng).

Theo đơn phản tố ngày 20/11/2023 và quá trình tố tụng đại diện theo ủy quyền bị đơn Công ty TNHH T1 trình bày:

Thống nhất ngày 04/5/2023 giữa là Công ty TNHH T1 cùng thỏa thuận với ông Lê Thanh M có ký kết Hợp đồng khoán việc số: 01-05/HĐKV/2023/LV (gọi là Hợp đồng). Nhưng trong quá trình thực hiện Hợp đồng khoán việc thời hạn 45 ngày phía ông M đã thực hiện không đúng tiến độ, đến ngày 20/6/2023 hai bên đã lập biên bản nghiệm thu. Nhưng ông M vẫn chưa thực hiện xong công việc và vẫn còn rất nhiều hạng mục chưa hoàn thiện. Từ ngày nghiệm thu chưa đạt thì ông M ngưng thi công cho đến nay.

Công ty T1 đã thanh toán cho ông M hai đợt, đợt 1: 60.000.000 đồng (giai đoạn 1) và đợt 2: 80.000.000 đồng (giai đoạn 2 và ½ giai đoạn 3). Trong lần nghiệm thu này, Công ty đã thanh toán cho ông M những hạng mục đạt chất lượng: đào móng, đóng cừ, bể phốt, hệ thống thoát nước thải, đà kiềng-cột, đổ cát nền cao hơn vỉa hè 700mm và đà dằn. Các hạng mục còn lại ông M thực hiện không đạt chất lượng theo yêu cầu nên Công ty không thể nghiệm thu thanh toán và yêu cầu ông M phải bảo hành các hạng mục đã hoàn thiện.

Riêng phần hạng mục mái tole (tôn) do ông M thi công không đạt chất lượng (tôn không đúng chủng loại, không đúng yêu cầu) dẫn đến phần trần nhà và rãnh vách giữa trần nhà và tường bị ẩm ướt, dột khi trời mưa, ảnh hưởng trực tiếp đến nội thất, chất lượng kết cấu kiến trúc của ngôi nhà. Và phần sân trước, bậc tam cấp, nhà vệ sinh trước nguyên đơn thi công cũng không đúng bản vẽ, không đạt các chất lượng, làm chậm tiến độ công trình, so với hợp đồng cam kết là 45 ngày phải hoàn thành nhưng tính đến ngày 1/7/2023 thì ông M đã thi công chậm tiến độ 1 tuần, gây mất uy tín, niềm tin với khách hàng nên Công ty T1 đã chấm dứt hợp đồng với phía ông M vì nhận thấy ông M không đủ năng lực hoàn thành công việc. Bên công ty đã phải thuê lại bên thứ ba khác để kịp thời khắc phục các phần công trình chưa hoàn thiện và đập đi xây lại phần sân trước, bậc tam cấp, nhà vệ sinh trước do lỗi của nguyên đơn thi công không đúng như cam kết hợp đồng với toàn bộ chi phí sửa chữa, khắc phục là 94.665.000 đồng (Chín mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn đồng). Riêng đối với số tiền ông M mua vật tư 24.280.000 đồng thì Công ty không biết nên không đồng ý theo yêu cầu nguyên đơn. Căn cứ Điều 6.1 nếu phát sinh tăng hoặc giảm khối lượng thì hai bên bàn bạc và thỏa thuận bằng văn bản để làm cơ sở cho việc thanh toán.

Do đó, yêu cầu ông M phía Công ty không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng.

Ngày 20/11/2023 Công ty TNHH T1 có gửi đơn phản tố, nội dung yêu cầu ông Lê Thanh M phải bối thường thiệt hại số tiền 94.665.000 đồng là phần thiệt hại mà Công ty đã khắc phục thiệt hại công trình do ông M thi công không đảm bảo chất lượng; Yêu cầu ông M hoàn trả số tiền 2.200.000 đồng đây là tiền phạt vi phạm do thi công chậm tiến độ được các bên thỏa thuận trong hợp đồng (phạt 1% trên nghĩa vụ vi phạm); Yêu cầu ông M bảo hành công trình và chịu chi phí bảo hành có liên quan đến hạng mục đã hoàn thiện theo thời hạn 5 năm Hợp đồng khoán việc.

Lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền anh Lê Tấn V1: là chủ căn nhà tại khu T, phường P, quận C. Cuối tháng 4 đầu tháng 5 năm 2023 anh V1 có ký Hợp đồng xây dựng với Công ty T1 để thực hiện trọn gói xây dựng nhà cấp 4 giá là 7.000.000 đồng/1m². Đến tháng 7 năm 2023, Công ty T1 đã bàn giao nhà và anh V1 thanh toán toàn bộ số tiền 700.000.000 đồng. Riêng việc Công ty T1 thuê cá nhân nào thực hiện công trình thì anh V1 không biết nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 77/2024/DS – ST ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ đã tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thanh M về “tranh chấp hợp đồng thi công” đối với bị đơn Công ty T1;

Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn.

Buộc Công ty T1; phải thanh toán số tiền còn lại theo Hợp đồng khoán việc cho phía ông Lê Thanh M là 31.600.000 đồng.

Kể từ khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ việc trả khoản tiền nêu trên cho nguyên đơn, thì hàng tháng bên có nghĩa vụ còn phải trả cho nguyên đơn tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự 2015.

Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm; quyền kháng cáo và thời hiệu kháng cáo của các bên đương sự.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, bị đơn có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện bị đơn bà N2 trình bày: bị đơn vẫn giữ yêu cầu kháng cáo, không cung cấp chứng cứ mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm Chủ tọa, thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

- Về hình thức kháng cáo: Đơn kháng cáo trong hạn luật định và đóng tạm ứng án phí đầy đủ nên hợp lệ về mặt hình thức.

- Về nội dung kháng cáo:

Đối với Hợp đồng khoán việc số: 01-05/HĐKV/2023/LV ngày 04/5/2023 giữa công ty T1 và ông M trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Giữa nguyên đơn và bị đơn đều trình bày thống nhất hình thức và nội dung của Hợp đồng khoán việc mà hai bên đã ký kết với nhau. Do đó, hợp đồng khoán việc số 01-05/HĐKV/2023/LV ngày 04/5/2023 có hiệu lực thi hành đối với các bên.

Tổng số tiền Công ty T1 đã thanh toán cho ông M theo Hợp đồng khoán việc là 140.000.000 đồng (chia làm 02 đợt). Số tiền còn lại theo Hợp đồng khoán việc được hai bên thống nhất là 80.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị đơn cho rằng bên ông M thi công không đạt chất lượng theo yêu cầu Công ty T1 nên không thể nghiệm thu và thanh toán số tiền 80.000.000 đồng theo Hợp đồng đã ký.

Tại Biên bản nghiệm thu số: 01/T6/2023/BBNT-KV/LAVA ngày 20/6/2023 (Bút lục 46-48) những hạng mục đạt chất lượng bao gồm: Đào móng, đóng cừ, bể phốt, hệ thống thoát nước thải, đà kiềng - cột, đổ cát nền cao hơn vỉa hè 700mm và đà dằn. Các hạng mục còn lại ông M thực hiện không đạt chất lượng: Xây tường, máy tol, tô tường, máy tol nhà xe, nhà chính, gạch vỉa hè, tháo cót pha đà giằng, cạnh cửa phòng tắm sau nhà, phần trám trét dưới máy tol, tường ngoài nhà anh K. Kết luận: “không chấp nhận nghiệm thu hoàn thiện hạng mục công trình. 1. Chấm dứt hợp đồng bên B không đủ năng lực hoàn thiện công việc. 2. Mọi công việc còn lại + sửa chữa sẽ được giao lại cho bên thứ 3”. Trong biên bản nghiệm thu có chữ ký xác nhận của ông M và đại diện Công ty T1. Tuy nhiên, nguyên đơn nại ra rằng phần ghi thêm (viết tay) các đoạn cuối biên bản là không đúng với ý chí của nguyên đơn là không thể chấp nhận.

Do vậy, căn cứ Biên bản nghiệm thu nêu trên và các bên thống nhất cùng ký vào biên bản thì bên A đã không chấp nhận nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình. Bên B đã thống nhất 09 hạng mục thi công chưa đạt được thể hiện trên biên bản nghiệm thu. Đồng thời, các bên đã thống nhất, mọi công việc còn lại, sửa chữa được giao cho bên thứ ba. Nhưng các bên không đề cập gì đến số tiền còn lại của Hợp đồng khoán việc, không có chứng cứ nào thể hiện giá trị của những hạng mục đạt và những hạng mục chưa đạt (09 hạng mục) sẽ cấn trừ số tiền cụ thể là bao nhiêu. Vì Công ty đã không thanh toán toàn bộ số tiền còn lại theo Hợp đồng khoán việc là 80.000.000 đồng cho ông M nên các bên phát sinh tranh chấp, bị đơn phản tố và cung cấp chứng cứ là Hợp đồng với bên thứ ba.

Nên, ngày 21/6/2023 Công ty T1 đã ký Hợp đồng khoán việc với ông Nguyễn Phước H2 để thực hiện 09 hạng mục công việc với tổng giá trị là 48.400.000 đồng. Bị đơn cung cấp bản sao Hợp đồng để chứng minh việc Công ty T1 đã thuê bên thứ ba thực hiện việc còn lại và sửa chữa các hạng mục không đạt yêu cầu của nguyên đơn thực hiện. Đồng thời, Công ty T1 đã gửi Bảng báo giá đối với hạng mục cần sửa chữa và làm lại như chi phí phần mái tol không đạt chuẩn; Sữa chữa lại phần thô và các chi phí khác. Tổng cộng số tiền theo bảng báo giá là 94.665.000 đồng. Bị đơn phản tố yêu cầu nguyên đơn phải hoàn trả các khoản chi phí khắc phục theo bảng báo giá là 94.665.000 đồng. Nguyên đơn không đồng ý yêu cầu theo đơn phản tố của bị đơn.

Thời gian thực hiện công việc theo Hợp đồng khoán việc là 45 ngày (04/5/2023-18/6/2023), tuy nhiên bên Công ty T1 và ông M có trao đổi với nhau qua điện thoại, để ông M gia hạn thời gian thêm 01 tuần (có tin nhắn) nhưng ngày 20/6/2023 phía Công ty và ông M đã thực hiện biên bản nghiệm thu kể từ đó Công ty chấm dứt hợp đồng nên ông M không thể tiếp tục thực hiện và khắc phục sữa chữa những phần việc chưa đạt. Nay Công ty lại tự báo giá quá cao và không hợp lý nên ông M không đồng ý với số tiền 94.665.000 đồng.

Do đó, Hợp đồng khoán việc với bên thứ ba giữa Công ty T1 với ông H2 mà không có ý kiến của ông M, dù rằng Công ty T1 thuê ông H2 thực hiện phần việc ông M chưa hoàn thành. Đồng thời, bảng báo giá bên bị đơn cung cấp chưa thể hiện rõ công việc bên thứ ba thực hiện là sữa chữa, khắc phục các hạng mục chưa đạt theo Biên bản nghiệm thu như lát gạch vỉa hè, thi công ốp lát toàn bộ gạch trong nhà...vì phần việc ông M theo Hợp đồng là “Thi công trọn gói phần thô”. Như vậy, việc ông M thi công công trình theo như Hợp đồng khoán việc nhưng kết quả đánh giá còn một số hạng mục chưa đạt là có dẫn đến việc thi công chậm tiến độ, một số hạng mục chưa đạt chất lượng như các bên trình bày và theo biên bản nghiệm thu thì lỗi là phía ông M nên Công ty T1 chưa thanh toán số tiền còn lại theo Hợp đồng 80.000.000 đồng. Để tính toán cụ thể công việc khắc phục, sửa chữa khi thuê bên thứ ba (ông H2) thì cần có sự thỏa thuận, trao đổi ba bên nhưng các bên đã không thực hiện. Khi số tiền bị trừ quá cao so với công sức bỏ ra thì ông M xin làm việc lại trực tiếp với Công ty T1, xin đến công trường nhưng không được chấp nhận và cho rằng các chi phí sửa chữa sẽ trừ vào phần tất toán (BL: 73, 76).

Như vậy, công việc sữa chữa, khắc phục các hạng mục bên ông M chưa hoàn thiện (chưa đạt) đối với công trình là có thật, ông M phải chịu trách nhiệm cho những thiệt hại, tổn thất do công trình kém hiệu quả, không đảm bảo chất lượng và căn cứ chứng cứ bị đơn cung cấp số tiền bên thứ ba khắc phục số tiền là 48.400.00) đồng (Hợp đồng khoán việc với ông H2) là có cơ sở.

Do đó, chỉ có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Số tiền được cấn trừ như sau 80.000.000 đồng – 48.400.000 đồng = 31.600.000 đồng.

Đối với số tiền vật tư phát sinh nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn hoàn trả là 24.280.000 đồng (Hai mươi bốn triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng) thì không có sự thông báo và cũng không có sự đồng ý hoặc giấy tờ xác nhận của hai bên nên bị đơn không thống nhất. Nguyên đơn cung cấp 02 phiếu giao hàng ngày 04/6/2023, ngày 06/7/2023.

Tại Điều 6 - Giá trị Hợp đồng: “Giá trị Hợp đồng là giá trị khoán trọn gói; Trong quá trình thi công nếu có phát sinh tăng hoặc giảm khối lượng các hạng mục xây lắp, hai bên cùng bàn bạc và thỏa thuận bằng văn bản để làm cơ sở cho việc thanh toán”. Tương tự đối với “yêu cầu kỹ thuật và chi phí phát sinh (nếu có) được các bên thống nhất và sẽ được bên A thanh toán cho bên B khi xong công trình”. Nguyên đơn cho rằng, số tiền mua vật tư ông M có thông báo cho Công ty Q nhưng đến nay các tin nhắn trên không còn để cung cấp. Mặt khác, phiếu giao hàng ngày 06/7/2023 tổng giá trị là 15.380.000 đồng là sau ngày các bên ký nghiệm thu công trình, ông M đã không còn thi công tại công trình nêu trên. Do đó, không có cơ sở để xem xét yêu cầu đối với số tiền mua vật tư phát sinh của nguyên đơn.

Bị đơn Công ty T1 phản tố yêu cầu: Ông M phải bồi thường thiệt hại số tiền 94.665.000 đồng là phần thiệt hại mà Công ty đã khắc phục thiệt hại công trình do ông M thi công không đảm bảo chất lượng. Số tiền yêu cầu được bị đơn chứng minh thông qua bảng báo gia do chính Công Ty T1 lập ra và gửi cho ông M và đã không được nguyên đơn chấp nhận. Như vậy, Công ty T1 giữ lại toàn bộ số tiền còn lại trên Hợp đồng khoán việc và cho đến sau khi thuê bên thứ ba khắc phục một số hạng mục chưa đạt thì vẫn không đồng ý cấn trừ lại cho nguyên đơn là không thể cháp nhận được. Nay, Công ty lập bảng báo giá để yêu cầu phản tố số tiền ông M phải trả được nêu trên là là không có cơ sở.

Bị đơn phản tố yêu cầu nguyên đơn hoàn trả số tiền 2.200.000 đồng đây là tiền phạt vi phạm do thi công chậm tiến độ được các bên thỏa thuận trong hợp đồng (phạt 1% trên nghĩa vụ vi phạm).

Đối với yêu cầu phạt vi phạm 1% số tiền 2.200.000 đồng bên Công ty căn cứ Hợp đồng khoán viện tại Điều 9.1.1 điểm b do ông M chậm tiến độ “chậm tiến độ mỗi tuần bên B phải chịu phạt 1% phần giá trị hợp đồng bị chậm cho mỗi tuần chậm trễ,...”. Theo Hợp đồng khoán việc, thời gian thực hiện 45 ngày (4/5/2023-18/6/2023). Nhưng ngày 20/6/2023 các bên đã lập biên bản nghiệm thu công trình. Đồng thời theo chứng cứ hai bên cung cấp các tin nhắn Zalo (BL: 70) và các bên thống nhất bên Công ty T1 có gia hạn thời gian cho ông M thêm 01 tuần do mùa mưa bảo như đương sự đã trình bày và cung cấp chứng cứ nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu phạt vi phạm của bị đơn.

Đối với yêu cầu ông M bảo hành công trình và chịu chi phí bảo hành có liên đến hạng mục đã hoàn thiện theo thời hạn 5 năm Hợp đồng khoán việc.

Theo Điều 13 của Hợp đồng khoán việc “Bên B có trách nhiệm bảo hành về chất lượng cho toàn bộ công việc do bên B thực hiện (phần kiến trúc thẩm mỹ). Thời gian bảo hành: Kết cấu 05 năm tính từ ngày có biên bản nghiệm thu giữa bên A và B”. Tuy bị đơn trình bày, Công ty và ông M có nghiệm thu từng hạng mục khi thanh toán tiền nhưng không cung cấp chứng cứ mỗi lần nghiệm thu. Phía nguyên đơn cho rằng chỉ nghiệm thu duy nhất một lần vào ngày 20/6/2023 nhưng phía công ty đã không chấp nhận nghiệm thu hoàn thiện hạng mục công trình và tiếp theo Công ty đã thuê nhiều nhân công đến sữa chửa thậm chí đập và xây lại nhiều hạng mục mà đội thi công nguyên đơn đã thực hiện. Do đó, bị đơn phản tố yêu cầu ông M bảo hành công trình thời hạn 5 năm Hợp đồng khoán việc là không thực hiện được.

Từ những phân tích trên nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có cơ sở chấp nhận một phần, đối với yêu cầu phản tố của bị đơn có căn cứ nên chấp nhận một phần. Đối với kháng cáo không có căn cứ nên không xem xét.

Như vậy, bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều tuyên là phù hợp với quy định pháp luật. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Phần án phí và chi phí thẩm định: Các đương sự nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đại diện nguyên đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt không có lý do; đại diện người có quyền và nghĩa vụ liên quan ông Lê Tấn V1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông M, ông V1.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn: Theo đơn kháng cáo và lời trình bày của đại diện ủy quyền bị đơn xác định, bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận một phần phản tố của bị đơn buộc ông M bồi thường cho bị đơn số tiền 46.295.000 đồng, buộc ông M phải chịu tiền phạt do chậm tiến độ 2.200.000 đồng và phải bảo hành công trình trong thời hạn 05 năm.

[2.1] Đối với yêu cầu của bị đơn về việc buộc ông M bồi thường cho bị đơn số tiền 46.295.000 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy, theo Hợp đồng khoán việc số: 01-05/HĐKV/2023/LV ngày 04/5/2023 giữa công ty TNHH T1 với ông Lê Thanh M thì ông M thực hiện các hạng mục xây thô như: Đóng cừ, đào móng; Thi công sắt, thép móng; Thi công hầm tự hoại theo yêu cầu; Thi công nâng nền cao hơn mặt vỉa hè 700mm; Thi công bê tông, móng, đà kiềng, cột; Xây tô toàn bộ tường trong, ngoài; Thi công thép nền, cán nền bê tông dày 80mm. Thời gian thực hiện các hạng mục này là 45 ngày và tổng giá trị thi công các hạng mục là 220.000.000đồng. Trong quá trình thực hiện công ty đã thanh toán cho ông M số tiền 140.000.000 đồng còn lại số tiền 80.000.000 đồng chưa thanh toán. Do bên phía công ty cho rằng ông M thực hiện công trình không đạt chất lượng nên ngày 20/6/2023 hai bên đã thực hiện nghiệm thu công trình và chấm dứt hợp đồng khoán việc. Theo biên bản nghiệm thu số: 01/T6/2023/BBNT-KV/LAVA ngày 20/6/2023 các bên thống nhất có 09 hạng mục thi công chưa đạt hai bên thỏa thuận sẽ thuê bên thứ 3 hoàn thành các hạng mục này và sẽ khấu trừ chi phí vào khoản thanh toán còn lại. Ngày 21/6/2023 Công ty T1 đã ký Hợp đồng khoán việc với bên thứ 3 là ông Nguyễn Phước H2 để thực hiện 09 hạng mục công việc với tổng giá trị là 48.400.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ khấu trừ khoản tiền này và buộc Công ty có trách nhiệm thanh toán số tiền còn lại cho ông M 31.600.000 đồng là có cơ sở. Công ty T1 cho rằng ngoài khoản tiền thuê bên thứ 03 hoàn thiện thì Công ty còn bỏ tiền ra để mua thêm vật tư để khắc phục và hoàn thiện công trình. Tuy nhiên, khoản chi phí này các bên không có thỏa thuận trong Biên bản nghiệm thu, hơn nữa ông M ký hợp đồng với Công ty là thi công phần thô không phải là công trình hoàn thiện nên Công ty yêu cầu ông trả số tiền mua thêm vật tư là không có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Xét yêu cầu của bị đơn về việc buộc nguyên đơn trả số tiền phạt vi phạm do thi công chậm tiến độ 2.200.000 đồng. Theo Hợp đồng khoán việc, thời gian thực hiện 45 ngày (4/5/2023-18/6/2023). Nhưng ngày 20/6/2023 các bên đã lập biên bản nghiệm thu công trình và chấm dứt hợp đồng. Đồng thời theo chứng cứ hai bên cung cấp các tin nhắn Zalo (BL: 70) và các bên thống nhất bên Công ty T1 có gia hạn thời gian cho ông M thêm 01 tuần do mùa mưa bảo. Do đó, yêu cầu phạt vi phạm của bị đơn là không có cơ sở chấp nhận.

[2.3] Đối với Yêu cầu ông M bảo hành công trình và chịu chi phí bảo hành có liên quan đến hạng mục đã hoàn thiện theo thời hạn 5 năm Hợp đồng khoán việc. Theo Điều 13 của Hợp đồng khoán việc “Bên B có trách nhiệm bảo hành về chất lượng cho toàn bộ công việc do bên B thực hiện (phần kiến trúc thẩm mỹ). Thời gian bảo hành: kết cấu 05 năm tính từ ngày có biên bản nghiệm thu giữa bên A và B”. Tuy bị đơn trình bày, Công ty và ông M có nghiệm thu từng hạng mục khi thanh toán tiền nhưng không cung cấp chứng cứ mỗi lần nghiệm thu. Phía nguyên đơn cho rằng chỉ nghiệm thu duy nhất một lần vào ngày 20/6/2023 nhưng phía công ty đã không chấp nhận nghiệm thu hoàn thiện hạng mục công trình và tiếp theo công ty đã thuê nhiều nhân công đến sữa chửa thậm chí đập và xây lại nhiều hạng mục mà đội thi công nguyên đơn đã thực hiện. Do đó, bị đơn phản tố yêu cầu ông M bảo hành công trình thời hạn 5 năm Hợp đồng khoán việc là không thực hiện được.

Từ các nhận định trên cho thấy Bản án sơ thẩm đã tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và một phần yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ mới nên yêu cầu kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở chấp nhận.

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Công ty TNHH T1 phải chịu 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, Công ty TNHH T1.

2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 77/2024/DS – ST ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

2.1 Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thanh M về “tranh chấp hợp đồng thi công” đối với bị đơn Công ty TNHH T1.

2.2 Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn.

Buộc Công ty TNHH T1 phải thanh toán số tiền còn lại theo Hợp đồng khoán việc cho phía ông Lê Thanh M là 31.600.000 đồng (ba mươi mốt triệu sáu trăm nghìn đồng).

Kể từ khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ việc trả khoản tiền nêu trên cho nguyên đơn, thì hàng tháng bên có nghĩa vụ còn phải trả cho nguyên đơn tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn Lê Thanh M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận là 2.420.000 đồng (hai triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng). Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí là 2.907.000 đồng (hai triệu chín trăm lẻ bảy nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001445 ngày 03 tháng 8 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn công ty TNHH T1 chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu phản tố không được chấp nhận là 2.303.000 đồng (hai triệu ba trăm lẻ ba nghìn đồng). Bị đơn được nhận lại tiền tiền tạm ứng án phí (phản tố) là 2.421.000 đồng (hai triệu bốn trăm hai mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000565 ngày 21 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), Công ty TNHH T1 phải chịu. Công ty TNHH T1 được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001559 ngày 05/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ thành án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, ngưòi phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điêu 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP.Cần Thơ;
  • - TAND quận Ninh Kiều;
  • - Chi Cục THADS quận Ninh Kiều;
  • - Các đương sự;
  • - Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tuyết Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 522/2024/DSPT ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng thi công

  • Số bản án: 522/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thi công
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mừng - CTY LaVa - T/c HĐ thi công.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger