Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN T

THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 522/2024/DS-ST.

Ngày 26-7-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T, THÀNH PHỐ H

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Th.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị T.
  2. Bà Võ Phương Tr.

Thư ký phiên tòa: Ông Chiêm Tiền Quí Nh – Thư ký Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang L – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 110/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 02 năm 2024, về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 267/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 196/2024/QĐST-DS ngày 28/6/2024, giữa:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP T,

    Địa chỉ: Phường T, Quận B, Thành phố H.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành Nh, địa chỉ: Phường S, Quận B, Thành phố H, là người đại diện ủy quyền. (Giấy ủy quyền số 3168/2024/UQ-TGĐ ngày 23/4/2024). (Có đơn xin xét xử mặt).

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Duy N, sinh năm 1991,

    Địa chỉ: huyện C, tỉnh G. Địa chỉ liên lạc: phường A, quận T, Thành phố H. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và bản tự khai, Ngân hàng TMCP T (gọi tắt là S) có ông Nguyễn Thành Nh đại diện ủy quyền, trình bày: Ngày 10/5/2021, ông Nguyễn Duy N có ký với S Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điền khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ của S), hạn mức tín dụng là 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, với mức lãi suất trong hạn 2,77%/tháng.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 43.310.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông N đã thanh toán cho S số tiền 21.842.404 đồng (chi tết các lần thanh toán theo bản sao kê tóm tắt đính kèm) và thứ tự thanh toán được áp dụng theo Điều 21 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông N vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông N vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều 18 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S nên ngày 11/12/2022, S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu làm nợ gốc là 44.319.427 đồng sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 24 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S và áp dụng lãi suất quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại. Tính đến ngày 26/7/2024, ông N còn nợ các khoản sau: nợ gốc là 44.319.427 đồng; lãi quá hạn là 36.408.636 đồng. Tổng cộng: 80.728.063 đồng.

Do đó, S yêu cầu ông N phải trả làm một lần tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 26/7/2024 là 80.728.063 (tám mươi triệu bảy trăm hai mươi tám nghìn không trăm sáu mươi ba) đồng, trong đó, nợ gốc là 44.319.427 đồng; lãi quá hạn là 36.408.636 đồng và ông N phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 27/7/2024 cho đến khi hoàn tất việc trả nợ.

Ông Nguyễn Duy N đã được triệu tập hợp lệ để giải quyết việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với S nhưng vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa.

  • * Ngân hàng TMCP T (gọi tắt là S) có ông Nguyễn Thành Nh đại diện ủy quyền, vẫn giữ yêu cầu khởi kiện buộc ông Nguyễn Duy N phải trả làm một lần tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 26/7/2024 là 80.728.063 (tám mươi triệu bảy trăm hai mươi tám nghìn không trăm sáu mươi ba) đồng, trong đó, nợ gốc là 44.319.427 đồng; lãi quá hạn là 36.408.636 đồng và ông N phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 27/7/2024 cho đến khi hoàn tất việc trả nợ và có đơn xin xét xử vắng mặt.

  • * Ông Nguyễn Duy N đã được triệu tập hợp lệ để giải quyết việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với S nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T phát biểu:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án tới thời điểm xét xử, Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật như thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng; Tiến hành xác minh thu thập chứng cứ; Thông báo và tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự đúng theo quy định, tuy nhiên về thời hạn xét xử có chậm hơn so với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án đúng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, tuân thủ đúng pháp luật; Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng pháp luật.

Về nội dung: Giữa S với ông N có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 10/5/2021, hạn mức tín dụng là 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng, có mức lãi suất trong hạn 2,77%/tháng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện giao dịch đối với tài khoản thẻ tín dụng nói trên, ông N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên S khởi kiện yêu cầu ông N phải trả làm một lần tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 26/7/2024 là 80.728.063 đồng, trong đó, nợ gốc là 44.319.427 đồng; lãi quá hạn là 36.408.636 đồng và ông N phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 27/7/2024 cho đến khi hoàn tất việc trả nợ là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Quan hệ pháp luật trong vụ án này là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng, bị đơn, ông Nguyễn Duy N có địa chỉ tại phường A, quận T, theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H.

    1. Ngân hàng TMCP T (gọi tắt là S) có ông Nguyễn Thành Nh đại diện ủy quyền vẫn giữ yêu cầu khởi kiện và có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Nguyễn Duy N đã được tống đạt hợp lệ lần thứ hai, yêu cầu có mặt để giải quyết việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với S nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

  2. Về nội dung: S với ông N có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 10/5/2021. Theo đó, S đã cấp cho ông N thẻ tín dụng số 472074-8629, có hạn mức sử dụng là 40.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông N đã vi phạm hợp đồng nên S có đơn khởi kiện ông N tại Tòa án nhân dân quận T. Qua yêu cầu khởi kiện của S, Hội đồng xét xử, xét thấy:

    1. Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đã được ký kết giữa đôi bên thì S đã cấp cho ông N thẻ tín dụng có hạn mức 40.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Do đó, có cơ sở xác định ông N có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 10/5/2021 và đã được S cấp thẻ tín dụng có hạn mức như trên.

    2. S cho rằng, sau khi được cấp thẻ tín dụng hạn mức 40.000.000 đồng có mức lãi suất trong hạn là 2,77%/tháng với mục đích tiêu dùng cá nhân, trong quá trình thực hiện hợp đồng thì ông N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 43.310.000 đồng, đã thanh toán số tiền là 21.842.404 đồng (chi tết các lần thanh toán theo bản sao kê tóm tắt đính kèm) và đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngày 11/12/2022, S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ, chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn tại thời điểm này là 44.319.427 đồng làm nợ gốc và áp dụng lãi suất nợ quá hạn 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại. Tính đến ngày 26/7/2024, ông N còn nợ tổng số tiền là 80.728.063 đồng, trong đó nợ gốc là 44.319.427 đồng và lãi quá hạn là 36.408.636 đồng. Do đó, S yêu cầu buộc ông N phải trả số tiền vốn và lãi quá hạn còn nợ là 80.728.063 đồng, trong đó, nợ gốc là 44.319.427 đồng; lãi quá hạn là 36.408.636 đồng và ông N phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 27/7/2024 cho đến khi hoàn tất việc trả nợ.

Xét thấy, theo khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng, quy định: “ Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 của Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng Nhà nước thì: “Thẻ tín dụng (credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ”; theo điểm đ khoản 1 Điều 13 quy định: “Quy định về phí (các loại phí, các thay đổi về phí)” và điểm g khoản 1 Điều 13 của Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 và được sửa đổi, bổ sung tại khoản 6 Điều 1 của Thông tư số 17/2021/TT-NHNN ngày 16/11/2021 của Ngân hàng Nhà nước, quy định: “Thỏa thuận về việc cấp tín dụng cho chủ thẻ, bao gồm: Các hạn mức và sự thay đổi hạn mức sử dụng thẻ, bao gồm cả hạn mức thấu chi (đối với thẻ ghi nợ) và hạn mức tín dụng; lãi suất, phương thức tính lãi tiền vay, thứ tự thu hồi nợ gốc và lãi tiền vay (đối với thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ được thấu chi); thời hạn cấp tín dụng, mục đích vay, thời hạn trả nợ, mức trả nợ tối thiểu, phương thức trả nợ, phí phạt khoản nợ quá hạn (nếu có). Thỏa thuận về việc cấp tín dụng cho chủ thẻ có thể được nêu trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ hoặc tại văn bản thỏa thuận riêng”. Đồng thời, theo điểm b khoản 1 Điều 15 của Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 và được sửa đổi, bổ sung tại khoản 7 Điều 1 của Thông tư số 17/2021/TT-NHNN ngày 16/11/2021 của Ngân hàng Nhà nước, quy định: “TCPHT phải có quy định nội bộ về cấp tín dụng qua thẻ tín dụng phù hợp với quy định pháp luật về đảm bảo an toàn trong hoạt động cấp tín dụng, trong đó quy định cụ thể về đối tượng, hạn mức, điều kiện, thời hạn cấp tín dụng, thời hạn trả nợ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, mức trả nợ tối thiểu, lãi suất áp dụng, phương thức tính lãi tiền vay, thứ tự thu hồi nợ gốc và lãi tiền vay, phí phạt khoản nợ quá hạn, mục đích vay, quy trình thẩm định và quyết định cấp tín dụng qua thẻ theo nguyên tắc phân định rõ trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cấp tín dụng, các biện pháp áp dụng thu hồi nợ để đảm bảo trách nhiệm các bộ phận tại TCPHT trong quá trình thu hồi nợ”.

Qua xem xét Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 10/5/2021 được ký kết giữa ông N với S, tại phần cam kết, có nội dung: “...Bằng việc ký vào Giấy đề nghị này, tôi xác nhận rằng tôi đã đọc và đồng ý bị ràng buộc bởi Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của S. Điều khoản và Điều kiện cùng với Giấy đề nghị này tạo thành hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng giữa tôi với S. Tôi chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ và trách nhiệm phát sinh từ hoặc liên quan đến việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng mà tôi đã được cấp....”. Như vậy, hợp đồng giữa ông N với S là thỏa thuận cấp thẻ tín dụng có hạn mức, theo đó S cấp cho ông N một khoản tiền là 40.000.000 đồng, lãi suất do các bên thỏa thuận theo quy định, đồng thời các bên phải thực hiện đúng theo Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S (Đơn vị phát hành thẻ). Theo Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S, có hiệu lực từ 29/11/2019, tại mục 1.1 quy định: “Thẻ tín dụng (Thẻ): là thẻ cho phép Chủ Thẻ thực hiện Giao Dịch trong Hạn Mức được cấp theo thỏa thuận với S, bao gồm Thẻ nội địa và Thẻ quốc tế” và tại mục 1.9 quy định: “Dư Nợ: là số tiền mà Chủ Thẻ đã sử dụng bao gồm giá trị các Giao Dịch, lãi và phí liên quan đến việc sử dụng Thẻ”. Đồng thời tại mục 23.1, quy định: “Chủ Thẻ đồng ý thanh toán lãi phát sinh trên Thẻ. Lãi được tính như sau: Đối với Giao Dịch Mua Hàng Hóa/Thanh Toán Thẻ Trực Tuyến (không áp dụng với Thẻ nội địa, phí, lệ phí): Nếu Chủ Thẻ không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ Số Tiền Đến Hạn vào hoặc trước Ngày Đến Hạn, Chủ Thẻ phải thanh toán lãi cho S đối với tất cả các khoản nợ được thể hiện trong TBGD hiện tại và bất kỳ khoản nợ nào phát sinh sau đó trên Thẻ cho đến khi toàn bộ các khoản nợ đến hạn ghi trong TBGD mới nhất được thanh toán vào hoặc trước Ngày Đến Hạn. Lãi được tính từ ngày Chủ Thẻ thực hiện giao dịch cho đến hết ngày việc thanh toán được thực hiện đầy đủ. Nếu Chủ Thẻ thanh toán toàn bộ Số Tiền Đến Hạn vào hoặc trước Ngày Đến Hạn theo TBGD thì Chủ Thẻ được miễn lãi đối với tất cả các giao dịch tại TBGD hiện tại. Giao Dịch Rút Tiền Mặt/ Tương Đương Rút Tiền Mặt: Lãi được tính từ ngày Chủ Thẻ thực hiện giao dịch cho đến hết ngày Chủ Thẻ thanh toán toàn bộ số tiền đã sử dụng/đã rút” và tại mục 23.2 quy định: “S có quyền sửa đổi mức lãi suất trong từng thời kỳ theo quyết định của mình mà không cần thông báo trước cho Chủ Thẻ”. Qua xem xét Quyết định số 2661/2022/QĐ-TTT ngày 28/10/2022 về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ S phát hành tại Việt Nam, có quy định về biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ S phát hành tại Việt Nam và có bảng mô tả nội dung thay đổi kèm theo thì mức lãi suất thẻ tín dụng quốc tế là 2,77%/tháng. Như vậy, khi thực hiện các hoạt động cấp tín dụng cho ông N thì S có quy định nội bộ về cấp tín dụng qua thẻ tín dụng phù hợp với quy định pháp luật, trong đó quy định cụ thể về đối tượng, hạn mức, điều kiện, thời hạn cấp tín dụng, thời hạn trả nợ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, mức trả nợ tối thiểu và lãi suất áp dụng. Do đó, đến ngày 11/12/2022, vì ông N đã vi phạm thỏa thuận thanh toán nên S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ, chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 44.319.427 đồng sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất nợ quá hạn là có căn cứ.

Theo bản tóm tắt sao kê ngày 26/7/2024 đối với số thẻ 472074-8629 của chủ thẻ Nguyễn Duy N, thì đến ngày 26/7/2024, ông N còn nợ là 80.728.063 đồng, trong đó, nợ gốc là 44.319.427 đồng; lãi quá hạn là 36.408.636 đồng. Như vậy, có cơ sở xác định đến ngày 26/7/2024, ông N còn nợ là 80.728.063 đồng.

Từ những nhận định nói trên, đối với yêu cầu của S buộc ông N phải trả tổng số tiền còn nợ đến ngày 26/7/2024 là 80.728.063 đồng, trong đó, nợ gốc là 44.319.427 đồng; lãi quá hạn là 36.408.636 đồng và ông N phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 27/7/2024 theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi hoàn tất việc trả nợ là có căn cứ, nên chấp nhận.

Ông Nguyễn Duy N đã được tống đạt hợp lệ lần thứ hai, yêu cầu có mặt để tham dự phiên tòa xét xử giải quyết việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với S nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Duy N.

  1. Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của S, buộc ông N phải trả số tiền tính đến ngày 26/7/2024 là 80.728.063 đồng, trong đó, nợ gốc là 44.319.427 đồng; lãi quá hạn là 36.408.636 đồng và ông N phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 27/7/2024 cho đến khi hoàn tất việc trả nợ. Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T tại phiên Tòa là có căn cứ và cũng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; khoản 3 Điều 144 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, thì: ông N chịu trách nhiệm trả tiền cho S nên phải chịu án phí trên số tiền phải trả là 80.728.063 đồng. Số tiền án phí là 80.728.063 đồng x 5% = 4.036.403 đồng. Ông N phải chịu án phí là 4.036.403 đồng.

    S không phải chịu án phí DSST. Hoàn trả cho S số tiền tạm ứng án phí là 1.506.397 đồng theo biên lai thu số 0011774 ngày 01/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận T, Thành phố H.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 146; Điều 147; Điều 203; Điều 220; Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Nghị quyết 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của UBTVQH.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T.

    1. Buộc ông Nguyễn Duy N có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP T số tiền còn nợ 80.728.063 (tám mươi triệu bảy trăm hai mươi tám nghìn không trăm sáu mươi ba) đồng, trong đó, nợ gốc là 44.319.427 đồng; lãi quá hạn là 36.408.636 đồng, thanh toán làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

    2. Ông Nguyễn Duy N tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 10/5/2021 đã ký giữa ông Nguyễn Duy N với Ngân hàng TMCP T kể từ ngày 27/7/2024 đến khi hoàn tất việc thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP T.

    Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  2. Án phí DSST:

    Ông Nguyễn Duy N phải chịu số tiền án phí là 4.036.403 (bốn triệu không trăm ba mươi sáu nghìn bốn trăm lẻ ba) đồng.

    Ngân hàng TMCP T không phải chịu án phí DSST. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP T số tiền tạm ứng án phí là 1.506.397 đồng (một triệu năm trăm lẻ sáu nghìn ba trăm chín mươi bảy) đồng theo biên lai thu số 0011774 ngày 01/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận T, Thành phố H.

  3. Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án tại địa phương.

  4. Trường hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

    (Đã giải thích quy định về quyền yêu cầu thi hành án cho các đương sự).

Nơi nhận:

  • - TAND TP.H;
  • - VKSND quận T;
  • - CC THADS quận T;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ; VP (Nh).

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký tên và đóng dấu)

Nguyễn Thành Th

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 522/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T, THÀNH PHỐ H về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 522/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T, THÀNH PHỐ H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T. 1.1. Buộc ông Nguyễn Duy N có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP T số tiền còn nợ 80.728.063 (tám mươi triệu bảy trăm hai mươi tám nghìn không trăm sáu mươi ba) đồng, trong đó, nợ gốc là 44.319.427 đồng; lãi quá hạn là 36.408.636 đồng, thanh toán làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. 1.2. Ông Nguyễn Duy N tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 10/5/2021 đã ký giữa ông Nguyễn Duy N với Ngân hàng TMCP T kể từ ngày 27/7/2024 đến khi hoàn tất việc thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP T. Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger