Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 521/2024/DS-PT

Ngày: 30/10/2024

V/v tranh chấp: “Hợp đồng góp hụi”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Tâm.

Các Thẩm phán:

  1. Bà Lâm Ngọc Tuyền.
  2. Ông Nguyễn Thanh Triều.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Bạch, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 340/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp "Hợp đồng góp hụi".

Do bản án dân sự sơ thẩm số 150/2024/DS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 418/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Trần Thị Phương M, Sinh năm 1993

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện ủy quyền cho nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1965. Địa chỉ: Đ, ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang (có mặt).

* Bị đơn:

  1. Bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1974.
  2. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1973

Cùng địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện ủy quyền cho bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1967. Địa chỉ: số F, tổ C, khu B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang (xin vắng mặt).

* Người kháng cáo: bị đơn Lê Thị Thu H, Nguyễn Văn Đ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm,

* Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Văn T, người đại diện ủy quyền cho nguyên đơn, trình bày:

Phía bà Lê Thị Thu H làm đầu thảo hụi và chị Trần Thị Phương M có tham gia các dây hụi như sau:

  • Dây thứ 1: Hụi 1.000.000 đồng/tháng, mở hụi ngày 20/11/2022, phía nguyên đơn tham gia 01 phần, chưa hốt dây hụi này, dây hụi này đã mãn hụi ngày 20/6/2023, đã đóng hụi được 07 kỳ cụ thể 1.000.000 đồng x 7 kỳ = 7.000.000 đồng (đã tính hụi có lãi).
  • Dây thứ 2: Hụi 2.000.000 đồng/tháng, mở hụi ngày 20/01/2023, phía nguyên đơn tham gia 01 phần, chưa hốt dây hụi này, dây hụi này đã mãn hụi ngày 20/6/2023, đã đóng hụi được 05 kỳ cụ thể 2.000.000 đồng x 5 kỳ = 10.000.000 đồng (đã tính hụi có lãi).
  • Dây thứ 3: Hụi 2.000.000 đồng/tháng, mở hụi ngày 20/3/2023, phía nguyên đơn tham gia 06 phần, chưa hốt dây hụi này, dây hụi này đã mãn hụi ngày 20/5/2023, đã đóng hụi được 12 kỳ (02 x 6 phần) cụ thể 2.000.000 đồng x 12 kỳ = 24.000.000 đồng (đã tính hụi có lãi).

Như vậy, tổng cộng 03 dây hụi phía bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền là 41.000.000 đồng (tính theo hụi có lãi), còn phía bị đơn bà H có tờ khai xác định số tiền nợ hụi là 30.190.000 đồng là tính theo hụi không lãi.

Phía nguyên đơn xác định ông Đ mặc dù không trực tiếp góp tiền hụi nhưng mỗi lần giao dịch hụi có mặt ông Đ, việc giao dịch hụi giữa các bên cũng nhằm mục đích phục vụ sinh hoạt chung gia đình ông Đ và bà H, việc ông Đ và bà H khai nại ông, bà đã ly hôn theo Quyết định số 155/2023/QĐCNTTLH ngày 23/8/2023 là nhằm trốn tránh trách nhiệm trả nợ bởi vì các giao dịch hụi giữa các bên đều xác lập trước thời điểm ông Đ và bà H ly hôn.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Nguyễn Văn T2, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Trần Thị Phương M xác định yêu cầu bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Văn Đ liên đới trả số tiền nợ hụi vốn là 30.190.000 đồng, trả ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

* Bị đơn Lê Thị Thu H, ông Nguyễn Văn Đ, người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn T1 trình bày:

Bà Lê Thị Thu H làm đầu thảo hụi và chị Trần Thị Phương M có tham gia các dây hụi như sau:

  • - Dây thứ 1: Hụi 1.000.000 đồng/tháng, mở hụi ngày 20/11/2022, phía nguyên đơn tham gia 01 phần, chưa hốt dây hụi này, dây hụi này đã mãn hụi ngày 20/6/2023, đã đóng hụi sống được 07 kỳ với số tiền là 5.250.000 đồng (chỉ tính hụi vốn).
  • - Dây thứ 2: Hụi 2.000.000 đồng/tháng, mở hụi ngày 20/01/2023, phía nguyên đơn tham gia 01 phần, chưa hốt dây hụi này, dây hụi này đã mãn hụi ngày 20/6/2023, đã đóng hụi được 05 kỳ với số tiền là 7.200.000 đồng (chỉ tính hụi vốn).
  • - Dây thứ 3: Hụi 2.000.000 đồng/tháng, mở hụi ngày 20/3/2023, phía nguyên đơn tham gia 06 phần, chưa hốt dây hụi này, dây hụi này đã mãn hụi ngày 20/5/2023, đã đóng hụi được 12 kỳ (02 x 6 phần) với số tiền là 17.740.000 đồng (chỉ tính hụi vốn).

Như vậy tính hụi vốn tổng các dây hụi nêu trên thì bà Lê Thị Thu H còn nợ nguyên đơn Trần Thị Phương M số tiền hụi là 30.190.000 đồng.

Ông Nguyễn Văn Đ và bà Lê Thị Thu H đã ly hôn theo quyết định số 155/2023/QĐCNTTLH ngày 23/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, nên mỗi người sẽ có trách nhiệm trả ½ số tiền nợ hụi vốn cho bà M, tức mỗi người sẽ trả 15.095.000 đồng, phía bà H và ông Đ không đồng ý cùng trách nhiệm liên đới theo yêu cầu của bà M.

Bản án dân sự sơ thẩm số 150/2024/DS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang đã áp dụng điều 471, 357 và 468 của Bộ luật dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Phương M.

Buộc bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Văn Đ cùng trách nhiệm liên đới trả cho chị Trần Thị Phương M số tiền nợ hụi là 30.190.000 đồng (Ba mươi triệu một trăm chín mươi ngàn đồng)

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

* Ngày 31 tháng 5 năm 2024, bị đơn Lê Thị Thu H, Nguyễn Văn Đ kháng cáo yêu cầu chia mỗi người có trách nhiệm trả ½ số tiền 30.190.000 đồng là 15.095.000 đồng.

* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang:

Về tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn Đ và Lê Thị Thu H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bị đơn Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị Thu H thực hiện quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Văn T1, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị Thu H có đơn xin vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T1 theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Nguyên đơn Trần Thị Phương M khởi kiện bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Văn Đ liên đới trả số tiền nợ hụi vốn là 30.190.000 đồng.

[2.2] Bị đơn bà Lê Thị Thu H, ông Nguyễn Văn Đ thừa nhận còn nợ nguyên đơn Trần Thị Phương M số tiền hụi là 30.190.000 đồng, nhưng cho rằng đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của đương sự số 155/2023/QĐCNTTLH ngày 23/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, nên mỗi người có trách nhiệm trả ½ số tiền nợ hụi cho bà Trần Thị Phương M, tức mỗi người sẽ trả 15.095.000 đồng, không đồng ý cùng trách nhiệm liên đới theo yêu cầu của bà M.

[2.3] Bản án sơ thẩm nhận định cho rằng: thời điểm xác lập các giao dịch hụi thì ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị Thu H là vợ chồng. Ông Đ, bà H đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của đương sự số 155/2023/QĐCNTTLH ngày 23/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè nhưng theo xác nhận của Trưởng ấp H, xã H, huyện C ngày 10/5/2024, hiện nay ông Đ và bà H vẫn còn ở chung gia đình. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị Thu H có trách nhiệm liên đới trả cho bà Trần Thị Phương M số tiền nợ hụi là 30.190.000 đồng, là có căn cứ, phù hợp Điều 27 và Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

[3]. Ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị Thu H kháng cáo yêu cầu mỗi người có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị Phương M ½ số tiền 30.190.000 đồng là 15.095.000 đồng.

Xét, mặc dù ông Nguyễn Văn Đ và bà Lê Thị Thu H đã ly hôn, nhưng theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 155/2023/QĐCNTTLH ngày 23/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè thì phần tài sản chung ông bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị Thu H kháng cáo yêu cầu mỗi người có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị Phương M ½ số tiền 30.190.000 đồng là 15.095.000 đồng, là không phù hợp.

[4] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang, là có căn cứ

[5] Về án phí: Ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị Thu H phải nộp mỗi người 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471, khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 và Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị Thu H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 150/2024/DS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Phương M.

Buộc bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Văn Đ cùng trách nhiệm liên đới trả cho chị Trần Thị Phương M số tiền nợ hụi là 30.190.000 đồng (Ba mươi triệu một trăm chín mươi ngàn đồng)

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị Thu H mỗi người phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Ông, bà đã nộp 600.000 đồng tạm ứng án phí theo hai biên lai thu số 0015429 và số 0015428 ngày 31/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Bè, nên xem như nộp xong án phí phúc thẩm.

Ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị Thu H phải nộp 1.509.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

H1 lại cho chị Trần Thị Phương M số tiền 1.025.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0015030 ngày 05/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - TAND huyện Cái Bè;
  • - Chi cục THADS huyện Cái Bè;
  • - Các đương sự;
  • - Cổng thông tin điện tử;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
  • DSPT-2024-Tâm

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Hồng Tâm

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 521/2024/DS-PT ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 521/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Phương M khởi kiện yêu cầu Lê Thị Thu Hương, Nguyễn Văn Đông trả số tiền nợ hụi 30.190.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger