Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 521/2023/HS-PT

Ngày: 30/10/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Tuấn
  • Các Thẩm phán: Ông Võ Ngọc Thông
    Bà Võ Thị Ngọc Dung
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Tuyết Trinh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại Điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kết nối với Điểm cầu thành phần tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 464/2023/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Trần Hoài N về tội “Giết người”.

Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 80/2023/HS-ST ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Hoài N (tên gọi khác: N1) sinh năm 1990, tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con Trần Văn L và bà Nguyễn Thị Ngọc T, hiện trú tại: Thôn C, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại Bản án phúc thẩm số 45/2009/HSPT ngày 10/6/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước đã xử phạt bị cáo 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Chống người thi hành công vụ”, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (10/6/2009).

Bị cáo bị tạm giữ, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 15/10/2022 tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Đ, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Hoài N:

Luật sư Phạm Ngọc T1, Văn phòng L4 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ. Địa chỉ: Tổ I, thôn A, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  • + Bà Thạch Thị Mỹ C, sinh năm 1964, vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Thành L1, sinh năm 1986, vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

  • + Bà Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm 1988, vắng mặt;

Nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: Tổ A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.

Người đại diện theo ủy quyền cho bà C, ông L1, bà T2: Ông Võ Tuấn A, sinh năm 1982, vắng mặt;

Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: Tổ A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 09/2022, Trần Hoài N (sinh năm 1990, trú tại thôn B, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước) đặt mua trên mạng xã hội facebook 01 khẩu súng hơi bắn đạn chì, hiệu AIR FORCE, mục đích sử dụng để bắn chim. Ngày 10/10/2022, N từ nhà đón xe đến khu vực tiểu khu B, thuộc lâm phần công ty L5, tại xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk để phụ làm rẫy giúp anh trai Trần Hữu B đang bị gãy chân, khi đi N có đem theo khẩu súng hơi bắn đạn chì nêu trên để săn, bắn chim. Khi đến xã E, Nam ở nhờ lán trại của ông Trương Đình Q (sinh năm 1967, trú tại Tiểu khu B) từ ngày 10/10/2022. Đến trưa ngày 13/10/2022, N mang ba lô và khẩu súng chuyển đến ở nhờ chòi rẫy của ông Đinh Minh L2 (còn gọi là Hai L3, sinh năm 1959), ở gần đó để tiện làm rẫy. Cùng ở nhờ tại chòi rẫy của ông Đinh Minh L2 còn có ông Nguyễn Thành S (sinh năm 1963, nơi đăng ký HKTT TDP 3, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương). Đến khoảng 18h00' cùng ngày, N đi đến chòi rẫy của Bùi Văn Ú ở gần đó để uống rượu cùng với ông Ú, vợ chồng ông L2, Mai Văn T3, Đặng Văn T4 và Siu Y K; Ông S cũng đi bộ đến chòi rẫy của ông Trương Đình Q uống rượu.

Đến khoảng 19h00' cùng ngày, N dừng không uống rượu nữa rồi đi về chòi rẫy của ông L2 và nằm ngủ trên võng đã được mắc sẵn trong chòi rẫy.

Còn ông Nguyễn Thành S, sau khi đã uống rượu ở rẫy của ông Q cũng đi đến chòi rẫy của ông Ú và tiếp tục uống rượu với ông Ú, ông T3 và ông L2. Đến khoảng 20h00' thì ông S đã say nên đi về, khi đứng lên, do say rượu nên ông S bị té ngã và được Siu Y K dìu ông S về đến gần bờ suối thì Y K quay về lại, còn ông S lội suối về chòi rẫy của ông Đinh Minh L2. Khi vào chòi rẫy, thấy N đang nằm ngủ trên võng thì ông S giật hất võng làm Nam ngã xuống rồi ông S leo lên võng nằm ngủ. Bực tức vì bị giành chỗ ngủ, Nam đi về phía góc lán trại, cách vị trí võng khoảng 2-3m, lấy khẩu súng hơi đã lắp sẵn 01 viên đạn chì, hướng nòng súng về phía võng nơi ông S đang nằm bắn 01 phát về phía ông S, thấy máu chảy xuống N biết đã bắn trúng ông S nên N liền thu dọn đồ đạc, xách ba lô và mang theo khẩu súng rồi đi bộ ra đến Quốc lộ A, đón xe về nhà tại huyện B, tỉnh Bình Phước.

Đến khoảng 09h00' ngày 14/10/2022, người dân phát hiện ông Nguyễn Thành S tử vong nên đã trình báo cơ quan điều tra. Còn Trần Hoài N sau khi biết được ông S đã tử vong nên đã đến CQCSĐT Công an huyện B, tỉnh Bình Phước đầu thú.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường nơi tiến hành khám nghiệm là chòi rẫy của ông Đinh Minh L2, thuộc Tiểu khu B, địa phận xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Chòi rẫy có mái bằng tôn, các vách ngăn bằng ván gỗ. Trong chòi rẫy có một sàn gỗ, cách mặt đất 01m, phía trên sàn gỗ có 01 võng dù, mặt ngoài màu xanh lá cây, mặt trong có hoa văn dạng rằn ri và được mắc thêm 01 mùng màu xanh nước biển. Trên võng và mùng có bám dính chất màu nâu đỏ, dây võng một đầu được cột vào khung cửa sổ, một đầu cột vào trụ gỗ giữa chòi rẫy.

Trên võng có 01 tử thi được người dân và gia đình nhận dạng là Nguyễn Thành S, sinh năm 1963, đầu quay về hướng T, chân quay về hướng Đông Bắc, vùng đầu, mặt, cổ và áo dính nhiều chất màu nâu đỏ. Hai tay đặt ở vị trí hạ bộ, chân phải duỗi thẳng, chân trái co. Tại vị trí bên dưới võng, trên nền sàn gỗ có đám chất màu nâu đỏ, trong diện (140x150)cm, đã khô. Mở rộng hiện trường không phát hiện dấu vết nghi vấn (BL 21-24).

* Kết quả khám nghiệm tử thi:

Tử thi được gia đình; chính quyền và nhân dân địa phương nhận dạng đúng là Nguyễn Thành S, sinh năm 1963, nơi đăng ký HKTT tại: TDP C, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Các dấu vết tổn thương trên cơ thể: Mũi, miệng trào nhiều chất màu nâu đỏ xuống ngực. Toàn thân da niêm xanh, giác mạc đục, đồng tử giãn. Tại vùng thái dương trái, vị trí cách cung đuôi mày trái, cách bình tai trái khoảng 06cm có 01 vết thương dạng hình tròn, đường kính 0,5cm, da xung quanh vết thương dập, rách, bầm tím; bờ mép vết thương nham nhở, dập nát ở chiều hướng từ trái sang phải, từ ngoài vào trong (xung quanh vị trí vết thương không có vết ám khói), vết bầm tím da vùng đỉnh chẩm trái kích thước (3,5x3)cm. Vết bầm tím và dập môi dưới bên trái có kích thước (2x1)cm.

Mổ tử thi: Tụ máu dưới da dầu vùng đỉnh thái cách đường giữa đỉnh 03cm, có tụ máu lan toả kích thước (3x2)cm, tổn thương làm nứt sọ dài 1 cm, rộng 0,1cm. máu chảy nhiều qua đường vỡ.

Tụ máu diện rộng dưới da đầu vùng thái dương trái, tương đương vết thương vùng thái dương, tụ máu trong diện (3x2)cm. Tổn thương làm vỡ xương vòm sọ, đường kính 0,5cm.

Bên trong hộp sọ: Vùng thuỳ đỉnh trái tụ máu dưới màng cứng kích thước (5x3)cm, tụ máu thuỳ thái dương đỉnh trái, tổn thương dập xuất huyết não vùng thuỳ trái, kích thước (6x4)cm vào sâu trong tổ chức não 3cm.

Dập và xuất huyết vùng thuỳ thái dương trái kích thước (13x7)cm, tổn thương vào sâu nhu mô não.

Vùng tiểu não bên trái có nhiều vết máu đông. Kiểm tra đường đạn xuyên từ thái dương trái qua não nằm lại giữa thân xương bướm gây vỡ thân xương bướm thành nhiều mảnh. Tại giữa thân xương bướm có 01 mảnh kim loại màu xám kích thước (1x0,6)cm (nghi đầu đạn chì) (BL 17-20)..

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 416/TTh-TTPY ngày 30/11/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Đ kết luận nguyên nhân tử vong của ông Nguyễn Thành S: Ngưng hô hấp, tuần hoàn do vết thương sọ não nặng (do hoả khí) và chấn thương sọ não nặng.

Vật tác động và cơ chế hình thành thương tích:

  • -Vết thương sọ não:
  • + Mảnh kim loại màu xám, kích thước 01x0,6cm;
  • + Lỗ đạn vào: Vết thương dạng hình tròn, đường kính: 0,5cm, tại vùng thái dương trái vị trí đuôi cung mày trái, cách bình tai trái khoảng 06cm;
  • + Lỗ đạn ra: Vết thương chột.
  • + Hướng bắn: Từ trái sang phải, từ trước ra sau, hơi chếch từ trên xuống dưới.
  • + Tầm bắn: Không có dấu vết của tầm gần.
  • + Rãnh xuyên: Từ vùng thái dương trái xuyên qua não đến giữa thân xương bướm (từ trái sang phải, từ trước ra sau, hơi chếch từ trên xuống dưới).
  • -Chấn thương sọ não:
  • + Do vật tày cứng tác động trực tiếp với lực mạnh hướng từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, với phương gần ngang (và do cơ chế tăng-giảm tốc đột ngột trong chân thương sọ não).

Thời gian tử vong: Sau bữa ăn cuối ít nhất 06 giờ;

- Trong khoảng 12 giờ đến 24 giờ cho đến khi khám nghiệm (BL 40-42);

Tại bản Kết luận giám định số 1877/KL-KTHS ngày 06/01/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng thuộc V, kết luận:

  • - Khẩu súng chưa hoàn chỉnh, ống kim loại hình trụ rỗng, bình chứa hơi màu đen có đặc điểm nêu trên gửi giám định lắp ráp được lại thành khẩu súng hơi cỡ nòng 5,5mm, sử dụng bắn được và thuộc súng săn.
  • - Không có cơ sở, điều kiện để thực nghiệm khi sử dụng khẩu súng trên bắn người trong khoảng cách từ 3-5m có gây chết người (bị thương hoặc chết) hay không.
  • - 237 viên đạn gửi giám định là đạn súng hơi cỡ 5,5mm, sử dụng được cho khẩu súng nêu trên và thuộc súng săn.
  • - Mảnh kim loại gửi giám định là đạn súng hơi cỡ 5,5mm và thuộc súng săn. Hiện viên đạn (mảnh kim loại gửi giám định là đạn súng hơi cỡ 5,5mm và thuộc súng săn. Hiện viên đạn (mảnh kim loại) đã móp méo, biến dạng nên không xác định được có phải do khẩu súng trên bắn ra hay không.
  • - Xác định ký tự đóng chìm trên bình chứa hơi gửi giám định là: “Air C418679 TP45 WP30 TS LF 20y. W0.90 V0.45 S6 122.05 TS2210L 82.GB/T11640 – H363 137” (cổ và đít bình chứa hơi). Không phát hiện thấy dấu vết đục phá, sửa chữa các ký tự nêu trên (BL 47-48).

Tại bản Kết luận giám định vật gây thương tích số 317/VGTT ngày 03/3/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Đ, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là 01 khẩu súng hơi mà CQCSĐT Công an tỉnh Đ gửi đến Trung tâm Pháp y tỉnh Đ để giám định thì:

  • Có khả năng gây ra vết thương sọ não do hoả khí của ông Nguyễn Thành S như trong nội dung Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 416/TTh-TTPY ngày 30/11/2022.
  • Có khả năng ít hơn gây ra những chấn thương vùng đỉnh trái (chấn thương sọ não) của ông Nguyễn Thành S như trong nội dung Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 416/TTh-TTPY ngày 30/11/2022 (BL 51-53).

* Việc thu giữ đồ vật, tài liệu:

Quá trình khám nghiệm tử thi CQCSĐT Công an tỉnh Đ đã thu giữ 01 mảnh kim loại đã bị móp méo, biến dạng (đạn súng săn); bị can Trần Hoài N tự nguyện giao nộp 01 khẩu súng hơi (loại súng săn, được lắp ráp từ nhiều bộ phần tách rời), 237 viên đạn (Cơ quan giám định đã sử dụng và lưu mẫu 137 viên đạn, hoàn lại 100 viên đạn).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 80/2023/HS-ST ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

[1] Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Trần Hoài N phạm tội “Giết người”.

[2] Về điều luật áp dụng và hình phạt: áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Hoài N 20 (hai mươi) năm tù về tội “Giết người”, thời hạn phạt tù được tính kể từ ngày bắt tạm giam 15/10/2022.

Về phần trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 591 Bộ luật dân sự:

Buộc bị cáo Trần Hoài N phải bồi thường cho gia đình người bị hại (gồm: Bà Thạch Thị Mỹ C, ông Nguyễn Thành L1, bà Nguyễn Thị Thu T2) số tiền 285.000.000 đồng (Hai trăm tám mươi lăm triệu đồng), được khấu trừ vào số tiền 38.000.000 đồng (Ba mươi tám triệu đồng) mà gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường trước đó. Như vậy, bị cáo còn phải bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 247.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi bảy triệu đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 25/8/2023, bị cáo Trần Hoài N có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và giảm trách nhiệm dân sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu ý kiến về quan điểm giải quyết vụ án như sau: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Hoài N về tội giết người theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ đã được Tòa án sơ thẩm áp dụng và xử với mức án 20 năm tù là đúng pháp luật; đề nghị Tòa án phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Hoài N giữ nguyên bản án sơ thẩm; về trách nhiệm dân sự: Tòa án sơ thẩm buộc bị cáo N phải trả khoản tiền 10 triệu đồng về chi phí đi lại là không đúng đề nghị sửa Bản án sơ thẩm về dân sự không buộc bị cáo N phải trả 10 triệu chi phí đi lại, các khoản bồi thường khác giữ nguyên.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Hoài N trình bày luận cứ bào chữa như sau: Bị cáo có hành vi dùng súng tự chế bắn vào người bị hại; hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ, Tòa án sơ thẩm đã áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS xử phạt bị cáo là đúng pháp luật; tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo.

Bị cáo Trần Hoài N thống nhất với lời bào chữa của luật sư bào chữa và cho rằng bị cáo có làm từ thiện, xin giảm nhẹ hình phạt tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Hoài N tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở nhận định: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 13/10/2022, tại chòi rẫy của ông Đinh Minh L2, thuộc Tiểu khu B, địa phận xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk do bực tức vì bị giành chỗ ngủ, bị cáo Trần Hoài N đã sử dụng súng hơi, loại súng bắn đạn chì, bắn một phát vào đầu ông Nguyễn Thành S khiến ông S tử vọng. Tòa án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS là có căn cứ đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù và giảm mức bồi thường thiệt hại của bị cáo Trần Hoài N, thấy: Hành vi của bị cáo thể hiện tính côn đồ, xem thường tính mạng, sức khỏe người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong nhân dân, ảnh hưởng xấu an ninh xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả bị cáo gây ra, nhân thân của bị cáo, áp dụng đúng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo 20 năm tù về tội “Giết người” là nhẹ và có lợi cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự, quyết định của Bản án sơ thẩm buộc bị cáo phải bồi thường về trách nhiệm dân sự cho gia đình người bị hại là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và chứng cứ nào mới; do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt tù và giảm mức bồi thường thiệt hại, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.

[2] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3] Do kháng cáo không được chấp nhận, bị cáo Trần Hoài N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm và án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Hoài N và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Trần Hoài N 20 (hai mươi) năm tù về tội “Giết người”, thời hạn phạt tù được tính kể từ ngày bắt tạm giam 15/10/2022.

Về phần trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015:

Buộc bị cáo Trần Hoài N phải bồi thường cho gia đình người bị hại(gồm: Bà Thạch Thị Mỹ C, ông Nguyễn Thành L1, bà nguyễn Thị Thu T5) số tiền 285.000.000 đồng (Hai trăm tám mươi lăm triệu đồng), được khấu trừ vào số tiền 38.000.000đồng (Ba mươi tám triệu đồng) mà gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường trước đó. Như vậy, bị cáo Trần Hoài N còn phải bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền: 247.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi bảy triệu đồng).

2. Về án phí:

  • - Bị cáo Trần Hoài N phải chịu 12.350.000 đồng (mười hai triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Bị cáo bị cáo Trần Hoài N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm và 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 80/2023/HSST ngày 17/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Cơ quan CSĐT-Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Phòng HSNV-Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Cơ quan CSTHAHS-CAtỉnh Đắk Lắk;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - Cục THADS tỉnh Đắk Lắk;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HSVA, PHCTP, LT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trương Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 521/2023/HS-PT ngày 30/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về hình sự về tội "giết người"

  • Số bản án: 521/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội "Giết người"
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Hoài N và giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Hoài N 20 (hai mươi) năm tù về tội “Giết người”, thời hạn phạt tù được tính kể từ ngày bắt tạm giam 15/10/2022. Về phần trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Trần Hoài N phải bồi thường cho gia đình người bị hại(gồm: Bà Thạch Thị Mỹ C, ông Nguyễn Thành L1, bà nguyễn Thị Thu T5) số tiền 285.000.000 đồng (Hai trăm tám mươi lăm triệu đồng), được khấu trừ vào số tiền 38.000.000đồng (Ba mươi tám triệu đồng) mà gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường trước đó. Như vậy, bị cáo Trần Hoài N còn phải bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền: 247.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi bảy triệu đồng).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger