Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM TRỰC

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 52/2023/HS-ST

Ngày 30 - 10 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lưu Xuân Tiến

Ông Nguyễn Văn Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Minh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Nam Trực.

- Đại diện VKS nhân dân huyện N tham gia phiên toà: Ông Lê Duy K - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án xét xử số: 46/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Thị Hồng V, sinh năm 19/11/1992; tên gọi khác: không; giới tính: nữ; nơi ĐKTT: 18 L, phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện tại: Số F, tổ A, khu3, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Đảng phái: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; bố đẻ: Đặng Quang H, sinh năm 1968; mẹ đẻ: Trần Thị Minh P, sinh năm 1968; hiện sinh sống tại thôn C, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội; chồng: Đỗ Hoàng D, sinh năm 1991 (đã ly hôn); con: có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2016.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2023 đến ngày 11/10/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh.

- Bị hại: Anh Vũ Văn T, sinh năm 1983 và chị Đoàn Thị L, sinh năm 1983; đều trú tại: Thôn Đ, xã B, huyện N, tỉnh Nam Định.

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo Đặng Thị Hồng V, vắng mặt anh Vũ Văn T và chị Đoàn Thị L)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu tìm người mang thai hộ, chị Đoàn Thị L vào mạng xã hội tìm kiếm và được Đặng Thị Hồng V đồng ý mang thai hộ. Ngày 26/5/2021, chị Đoàn Thị L và chồng là anh Vũ Văn T có thỏa thuận và ký hợp đồng mang thai hộ với Đặng Thị Hồng V, tại thành phố Hà Nội, trong đó vợ chồng chị L, anh T thỏa thuận sẽ chuyển phôi thai của vợ chồng anh chị vào tử cung của V, còn V sẽ là người mang thai thai hộ, tiền công mang thai hộ là 200.000.000 đồng, trong đó chị L đưa trước cho V 30.000.000 đồng tiền công, hàng tháng chị L sẽ tiếp tục trả 10.000.000 đồng cho V tiền công, sau khi sinh em bé thì chị L sẽ thanh toán toàn bộ số tiền còn lại. Hai bên còn thỏa thuận tiền bồi dưỡng sức khỏe cho V từ khi mang thai đến khi sinh con là 3.000.000 đồng/tháng, các khoản chi phí thăm khám, thuốc, điều trị trong quá trình mang thai do chị L chi trả, nếu quá trình mang thai dẫn đến xảy thai thì V có trách nhiệm thông báo cho chị L biết để giải quyết hậu quả, nếu do lỗi của V thì V phải trả lại toàn bộ số tiền đã nhận cho chị L, nếu không có lỗi của V thì chị L phải chịu toàn bộ chi phí trước đó. Sau đó vợ chồng chị L, anh TV làm thủ tục khám, xét nghiệm tại Bệnh viện P1, có trụ sở tại phường L, quận T, thành phố Hà Nội và đặt phôi thai của vợ chồng chị L, anh T vào tử cung của V vào ngày 17/6/2021. Sau ngày 17/6/2021, do tình hình dịch bệnh COVID-19 bùng phát nên chị L không đến thành phố Hà Nội gặp V được, chỉ liên lạc và trao đổi với V thông qua điện thoại và mạng xã hội Zalo. Đến ngày 15/7/2021, V thấy vùng kín của mình chảy máu, đi khám tại phòng khám thì xác định V không đậu thai. Lúc này do cần tiền chi tiêu cá nhân, V nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của chị L, anh T nên nói dối chị L, anh T là mình mang thai hộ thành công và sử dụng các hình ảnh, giấy tờ về kết quả siêu âm thai do V lấy trên mạng rồi chỉnh sửa để gửi qua mạng xã hội Zalo cho chị L tin tưởng tiếp tục thực hiện hợp đồng. Trước đó trong khoảng thời gian từ khi ký hợp đồng đến ngày 15/7/2021, chị L, anh T đã đưa và chuyển khoản cho V để thực hiện hợp đồng với tổng số tiền là 114.000.000 đồng. Sau đó từ ngày 16/7/2021 đến ngày 27/11/2021, chị L và anh T không biết mình bị lừa dối nên đã chuyển khoản cho V tổng số tiền là 125.000.000 đồng vào tài khoản 19034774514018 Ngân hàng T1 mang tên Đặng Thị Hồng V để tiếp tục thực hiện theo hợp đồng. Tổng số tiền chị L, anh T đã thanh toán và chuyển khoản cho Đặng Thị Hồng V để thực hiện hợp đồng mang thai hộ là 239.000.000 đồng. Trong đó số tiền 114.000.000 đồng là giao dịch dân sự giữa vợ chồng chị L, anh TV, số tiền 125.000.000 đồng là số tiền V dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của vợ chồng chị L, anh T. Sau khi chiếm đoạt được tiền của chị L, anh T, V đã chi tiêu cá nhân hết. Đến ngày 10/8/2023, V đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đầu thú.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đồ vật, tài liệu gồm: 01 Hợp đồng mang thai hộ ngày 26/5/2021; nội dung tin nhắn thông qua ứng dụng Zalo giữa chị LV, được in ra giấy A4; lịch sử giao dịch của tài khoản Ngân hàng T1 số 19034774514018, mang tên Đặng Thị Hồng V, do Ngân hàng T1. Bị cáo V đã tác động đến gia đình để bồi thường và khắc phục hậu quả cho chị L, anh T tổng số tiền là 155.000.000 đồng, ngoài ra không có yêu cầu gì khác và có đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại cơ quan CSĐT Công an huyện N bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 11 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Đặng Thị Hồng Vân về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Đặng Thị Hồng V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
  2. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Đặng Thị Hồng V từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm.
  3. Về phần dân sự: Bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả và bị hại không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, 24 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Điều tra viên cũng như Kiểm sát viên đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố là hợp pháp được chấp nhận để làm cơ sở giải quyết vụ án.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai của bị cáo Đặng Thị Hồng V tại cơ quan CSĐT công an huyện N phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; 01 Hợp đồng mang thai hộ ngày 26/5/2021 giữa chị Đoàn Thị L và anh Vũ Văn T với Đặng Thị Hồng V; nội dung tin nhắn thông qua ứng dụng Zalo giữa chị Đoàn Thị LĐặng Thị Hồng V, được in ra giấy A4; lịch sử giao dịch của tài khoản Ngân hàng T1 số 19034774514018, mang tên Đặng Thị Hồng V, do Ngân hàng T1 cung cấp.

Như vậy đã có cơ sở xác định, thông qua việc thực hiện hợp đồng mang thai hộ, trong khoảng thời gian từ ngày 16/7/2021 đến ngày 27/11/2021, bị cáo Đặng Thị Hồng V, có thủ đoạn gian dối trong việc thực hiện hợp đồng để chiếm đoạt tài sản của vợ chồng chị Đoàn Thị L và anh Vũ Văn T, tổng số tiền là 125.000.000 đồng.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự, nên bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

[4] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng nhiệm hình sự của bị cáo.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo tự nguyện tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại; bị hại có đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Trong quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[5] Đánh giá nhân thân, tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo Đặng Thị Hồng V có nhân thân tốt được thể hiện chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo Đặng Thị Hồng V ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, để bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực là phù hợp.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo V đã bồi thường cho bị hại tổng số tiền 155.000.000 đồng (trong đó 125.000.000 đồng là số tiền bị V dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt, 30.000.000 đồng là số tiền V nhận ứng trước của chị L khi ký kết hợp đồng). Trong quá trình giải quyết vụ án bị hại không có yêu cầu bồi thường, khắc phục hậu quả gì khác nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

  1. Tuyên bố bị cáo Đặng Thị Hồng V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo Đặng Thị Hồng V 30 (ba mươi ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 30/10/2023 (Bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2023 đến ngày 11/10/2023).
  3. Giao bị cáo Đặng Thị Hồng V cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án Hình sự.
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Đặng Thị Hồng V phải nộp 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Nơi nhận:

  • -Bị cáo;
  • -Bị hại;
  • -VKSND huyện Nam Trực;
  • -Công an huyện Nam Trực
  • -TAND tỉnh Nam Định;
  • -Chi cục THA dân sự huyện Nam Trực;
  • -Trại tạm giam;
  • -UBND phường Bà Triệu, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định;
  • -UBND phường Hà Khánh, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan THA hình sự H. Nam Trực;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2023/HS-ST ngày 30/10/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 52/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Thị Hồng V (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger