|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2024/HS-ST Ngày 30/09/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC - TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Tuyển
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Nam Văn
Ông Vũ Đức Lâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thụy C - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2024/TLST - HS ngày 17 tháng 09 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXX-HSST ngày 17 tháng 09 năm 2024, đối với bị cáo:
1. Hoàng Trọng T; Giới tính: Nam; tên gọi khác: không; sinh ngày 03/02/1996, tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 3/12; Con ông Hoàng Trọng T1 (đã chết) và bà Hoàng Thị T2; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; vợ con: chưa có;
* Nhân thân:
- - Ngày 28/04/2011 bị đưa vào trường giáo dưỡng theo QĐ số: 1083 ngày 25/04/2011 của Chủ tịch UBND huyện H, đã chấp hành xong QĐ ngày 01/11/2013.
- - Ngày 22 tháng 07 năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong hình phạt.
- - Ngày 21/07/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “ Chống người thi hành công vụ” đến ngày 13/10/2017 đã chấp hành xong hình phạt trở về địa phương, đã được xóa án tích.
* Tiền án:
- - Ngày 27/08/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, đến ngày 20/08/2021 chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích.
- - Ngày 25/04/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 27 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, đến ngày 04/04/2024 chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích.
* Tiền sự: không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/06/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H. Có mặt tại phiên tòa
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1991 (vắng mặt)
- Địa chỉ : Thôn X, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Người làm chứng:
- Anh Hoàng Văn M, sinh năm 1984 (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, Thanh Hóa
Người chứng kiến:
- Ông Vũ Ngọc L, sinh năm 1967 (vắng mặt)
- Anh Ngôc Văn D, sinh năm: 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 26/6/2024, tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H phối hợp với Công an xã T đang làm nhiệm vụ tại khu vực Nhà văn hóa thôn T6, xã T, huyện H thì phát hiện Hoàng Trọng T đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 76V2 - 8900 có biểu hiện nghi vấn nên đã kiểm tra và phát hiện trong lòng bàn tay phải của Hoàng Trọng T đang cầm 01 (một) gói nilon màu trắng có chứa ma túy loại Heroine với mục đích để bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hoàng Trọng T và thu giữ tang vật gồm: 01 (một) gói nilon màu trắng có chứa ma túy loại Heroine (niêm phong ký hiệu M1); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu đen cũ có gắn sim số 0334.414.751 (niêm phong ký hiệu M2) và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 76V2 - 8900 Quá trình điều tra, Hoàng Trọng T đã khai nhận như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 25/6/2024, anh Hoàng Văn M (sinh năm: 1984, trú tại thôn T, xã T, huyện H) gặp và đưa 01 (một) gói nilon màu trắng có chứa ma túy loại Heroine cho Hoàng Trọng T tại cầu X, xã T, huyện H, T mang gói ma túy về cất giấu để bán kiếm lời. Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 26/6/2024, anh Nguyễn Văn T3 (sinh năm: 1990, trú tại thôn T, xã T, huyện H) gọi điện thoại cho Hoàng Trọng T hỏi “biết chỗ nào mua đồ thì mua cho chú cái 5” (T hiểu ý anh T3 nói biết chỗ nào bán ma túy thì mua cho anh T3 gói ma túy với giá 500.000 đồng), T trả lời anh T3 “sang bên Tiến Lộc cháu đưa cho”, anh T3 trả lời lại “chú không có xe, mày mang sang chỗ chú tý”. Sau đó, Hoàng Trọng T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 76V2 - 8900 mang theo gói ma túy đi bán cho anh Nguyễn Văn T3. Khi Hoàng Trọng T đi đến khu vực Nhà văn hóa thôn T6, xã T, huyện H thì bị tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H phối hợp với Công an xã T phát hiện, bắt quả tang
Khám xét khẩn cấp chỗ ở và người của Hoàng Trọng T và Hoàng Văn M nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án
Tại bản kết luận giám định số: 2477/KL-KTHS ngày 01/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,263 g (không phẩy hai sáu ba gam) loại: Heroine Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Hoàng Trọng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là phù hợp với những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 (một) phong bì thư màu trắng dán kín niêm phong vật chứng hoàn trả sau giám định và 01 (một) điện thoại di động Vsmart màu đen cũ có gắn sim số 0334.414.751 của Hoàng Trọng T là vật chứng của vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện H chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện H để bảo quản và thi hành theo bản án.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 76V2 - 8900 là tài sản hợp pháp của anh Hoàng Văn Đ (sinh năm 1991, trú tại thôn X, xã T, huyện H, là bạn của T), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho chủ sở hữu.
* Tại bản cáo trạng: 52/CT-VKSHL ngày 17/09/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Hoàng Trọng T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về các tội danh, điều luật nêu trên. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả đối với hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) của bị cáo đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Hoàng Trọng T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hoàng Trọng T.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Trọng T từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (26/06/2024).
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định, vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy một phong bì ma túy đã niêm phong hoàn lại sau giám định. Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu đen cũ đã qua sử dụng gắn sim số 0334.414.751 của Hoàng Trọng T là vật chứng vụ án.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 301/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sự dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:
Về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng trên.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, lời khai báo và nhận tội của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời trình bày của những người làm chứng, chứng kiến, phù hợp với nội dung của các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. HĐXX, đủ căn cứ kết luận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 26/06/2024, Hoàng Trọng T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H phối hợp với Công an xã T, huyện H đang làm nhiệm vụ tại khu vực nhà văn hóa thôn T, xã T, huyện H thì phát hiện Hoàng Trọng T có biểu hiện nghi vấn nên đã kiểm tra và thấy trong lòng bàn tay phải của Hoàng Trọng T đang cầm 01 (một) gói ni lông màu trắng có chứa ma túy, Hoàng Trọng T khai với mục đích bán để kiếm lời. Tổ công đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hoàng Trọng T và thu giữ các tang vật theo quy định.
Tại bản kết luận giám định số: 2477/KL-KTHS ngày 01/07/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0.263 gam (không phẩy hai sáu ba gam) loại Heroine.
Như vậy, hành vi của Hoàng Trọng T đã đủ yếu tố cấu thành tội ‘Mua bán trái phép chất ma túy”. Nhưng trước đó bị cáo đã bị kết án với tình tiết “ Tái phạm”, chấp hành xong hình phạt ngày 04/04/2024, chưa được xóa án tích thì lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “ Tái phạm nguy hiểm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
[3]. Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội; hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, cũng là mối hiểm họa làm suy đồi đạo đức, lối sống, gây nguy hại cho thể chất và tinh thần của con người, làm thui chột thế hệ tương lai và còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội pham khác. Do vậy, cần phải được xét xử nghiêm minh theo quy định của Bộ luật hình sự đối với bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):
Trong vụ án bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.Bị cáo có bà nội là Nguyễn Thị X là người có công với Cách mạng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5]. Về hình phạt: Từ những nhận định trên, HĐXX cần lên cho bị cáo một mức hình phạt tù nghiêm phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo. Song HĐXX cũng xem xét đến tình tiết giảm nhẹ TNHS mà bị cáo được hưởng để lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt, để bị cáo yên tâm cải tạo tốt sớm trở về hòa nhập với cộng đồng, đồng thời cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề lao động tự do thu nhập không ổn định. Do đó, HĐXX không áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
[6]. HĐXX cũng xem xét trong vụ án và nhận định:
Trong vụ án này, Hoàng Trọng T khai báo số ma túy bị cáo có được là do anh Hoàng Văn M, sinh năm 1984 tại Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, quá trình điều tra không đủ căn cứ để xác định anh M đưa ma túy cho bị cáo T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không xem xét trách nhiệm là đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với anh Nguyễn Văn T3 là người gọi điện thoại cho bị cáo Hoàng Trọng T để mua ma túy sử dụng nhưng anh T3 chưa nhận được ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không đề nghị xem xét trách nhiệm lá phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với anh Hoàng Văn Đ cho Hoàng Trọng T mượn chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 76V2 – 8900 để làm phương tiện đi lại nhưng bị cáo T sử dụng làm phương tiện đi bán ma túy thì anh Đ không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không đề nghị xem xét trách nhiệm và đã trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu tài sản hợp pháp của anh Đ cho anh Đ là phù hợp theo quy định của pháp luật.
[7]. Về vật chứng: HĐXX nhận thấy cần tịch thu tiêu hủy; tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước những vật, tiền, công cụ, phương tiện trực tiếp liên quan đến tội phạm theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[8]. Tại phiên tòa HĐXX nhận thấy: Bản cáo trạng, quyết định truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là phù hợp, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đối với bị cáo tại cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, lời nói sau cùng của bị cáo xin HĐXX xử phạt mức án thấp để bị cáo chấp hành và cải tạo tốt, sớm trở về hòa nhập với cộng đồng, làm công dân chấp hành pháp luật tốt. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời trình bày có trong hồ sơ vụ án là trung thực những tình tiết liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình; người làm chứng, lời trình bày có trong hồ sơ vụ án là trung thực những vấn đề trực tiếp liên quan đến nguồn tin về tội phạm, vụ án và lý do biết được những tình tiết đó; người chứng kiến: trình bày trung thực những tình tiết mà mình chứng kiến theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, ký biên bản về hoạt động mà mình chứng kiến.
[9]. Về án phí: Bà Hoàng Thị T2 là mẹ đẻ của bị cáo T có giao nộp cho Tòa án 01(một) giấy chứng nhận hộ nghèo (bản phô tô chứng thực) của hộ bà Kiều Thị D1; HKTT: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. HĐXX xét thấy không phù hợp nên không có căn cứ xem xét để miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo T theo quy định của pháp luật. Do vậy, buộc bị cáo Hoàng Trọng T phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hoàng Trọng T.
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Trọng T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Trọng T 08 (T4) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (26/06/2024).
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong màu trắng dán kín đựng vật chứng hoàn trả sau giám định, ghi Phòng K Công an tỉnh T, có đóng 06 dấu đỏ và ký tên (Lê Minh T5, Lưu Bình N và Phạm văn Q); Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu đen cũ đã qua sử dụng, bị vỡ màn hình, gắn sim số 0334.414.751 của bị cáo Hoàng Trọng T. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/09/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sự dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Hoàng Trọng T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Văn Tuyển |
Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC - TỈNH THANH HÓA về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 52/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC - TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
