|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2024/HS-ST Ngày 30-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa
Ông Huỳnh Minh Nhì
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Trần Văn T (Tèo heo), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1982 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: ấp I, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Trần Văn Ú và bà Trịnh Thị S; vợ: Phạm Thị N; con: có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Cơ H (tên gọi khác Đ), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1978 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Oai H1 và bà Quách Thị L; vợ: Huỳnh Thị Bích V; con: 03 người; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
3. Trần Văn K, sinh ngày 19 tháng 10 năm 1983 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: ấp I, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới
2
tính: nam; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Trần Văn Y và bà Phan Thị P; vợ: Trương Hồng N1; con có 03 người; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
4. Trần Thị Bé S1, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1981 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi ĐKTT: ấp I, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nữ; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Trần Văn Y và bà Phan Thị P; chồng: Bùi Văn H2; con: có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị H3, sinh năm 1968. Địa chỉ: ấp G, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 07/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện A, tỉnh Kiên Giang bắt quả tang Trần Văn T cùng nhóm bạn gồm: Trần Thanh T1, Nguyễn Văn H4, Hồ Văn Đ1 đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại quán K2 thuộc ấp G, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
Quá trình bắt quả tang, Cơ quan điều tra thu giữ của bị can Trần Văn T 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A16K màu xanh, màn hình cảm ứng, số I 1: 863348054882419; số Imei 2: 863348054882401 trong máy có gắn sim điện thoại số 0818.215.xxx, trong điện thoại có đăng ký tài khoản Zalo tên “Thích đủ thứ”, bị can Trần Văn T dùng Zalo trên để đánh bạc bằng hình thức nhận phơi số đề của người khác nộp. Quá trình làm việc, bị can T tự thú về hành vi phạm tội đánh bạc của mình, bị can T khai nhận tham gia đánh bạc bằng hình thức chơi số đề từ đầu năm 2023 đến ngày bị phát hiện, hàng ngày bị can T sử dụng điện thoại di động để nhận phơi số từ người khác nộp, hình thức chơi là lấy kết quả xổ số kiến thiết của các đài M, Miền B, Miền T2 để làm kết quả mở thưởng, cách chơi số đầu là 02 (hai) con số của giải tám, số đuôi là 02 (hai) con số cuối cùng của giải đặt biệt, số lô là 02 (hai) con số cuối của tất cả các giải, còn số đá là 02 (hai) cặp số cuối của tất cả các giải, hình thức ăn thua là 01 trúng 80 lần (nghĩa là nếu mua 1.000đ khi trúng sẽ được trả thưởng 80.000đ) áp dụng cho tất
3
cả các giải thưởng, số lô kết quả mở thưởng có tất cả là 18 lô nhưng khi bán tính tiền 15 lô, nghĩa là mua 1.000₫ phải trả 15.000đ (gom phơi tính tiền 14.500đ) số lô đài miền B tính 22 lô (nghĩa là mua 1.000₫ phải trả 22.000đ) còn số đá đài miền N và miền T nếu mua 1.000₫ phải trả 30.000đ (gom phơi tính tiền 29.000đ), số đá đài miền B mua 1.000đ tính tiền 45.000đ (gom phơi tính 44.000đ). Hàng ngày khoảng 15 đến 16 giờ thì bị can T bắt đầu nhận phơi qua Z, những người nộp phơi cho bị can T tổng hợp từng con số như: Số đầu, đuôi, lô và số đá và số tiền từng con số và của đài nào, rồi dùng điện thoại chụp ảnh rồi gởi qua Zalo của bị can T, bị can T đồng ý nhận thì trả lời OK hoặc 1,2,3... (1 nghĩa là 1 tin nhắn...).
Cụ thể vào ngày 06/8/2023, bị can Trần Văn T có nhận phơi như sau:
- Nhận phơi số của bị can Nguyễn Cơ H (Anh Đ), cụ thể như sau:
Đài K: Số đầu tổng cộng 23 con số với số tiền là 1.470.000đ (Một triệu bốn trăm bảy mươi ngàn đồng); Số đuôi tổng cộng 07 con số với số tiền là 120.000đ. Số lô tổng cộng 03 con số với số tiền là 580.000đ; Số đá tổng cộng 01 cặp số với số tiền là 145.000đ. Tổng số tiền gôm phơi là 2.315.000đ. Đối chiếu kết quả mở thưởng thì số đầu, số 50 trúng thưởng số tiền 150.000đ x 80.000đ = 12.000.000đ. Như vậy, số tiền gôm phơi và số tiền trúng thưởng của đài K3 mở thưởng ngày 06/08/2023 là 14.315.000đ.
Đài Đ: Số đầu tổng cộng 06 con với số tiền là 60.000đ; Số đuôi tổng cộng 05 con số với số tiền là 50.000đ. Tổng số tiền gôm phơi là 110.000đ. Đối chiếu kết quả mở thưởng thì số đầu, số 70 trúng thưởng số tiền 10.000₫ x 80.000đ = 800.000đ. Như vậy, số tiền gôm phơi và số tiền trúng thưởng của đài Đà L1 mở thưởng ngày 06/08/2023 là 910.000đ.
Đài Tiền Giang: Số đầu tổng cộng 06 con số với số tiền là 60.000đ. Số đuôi tổng cộng 05 con số với số tiền là 50.000đ. Số lô tổng cộng 03 con số với số tiền là 580.000đ. Tổng số tiền gôm phơi là 690.000đ. Đối chiếu kết quả mở thưởng không có trúng thưởng.
Tổng số tiền gôm phơi số và số tiền trúng thưởng của các đài xổ số kiến thiết: Kiên Giang, Đ và Tiền Giang mở thưởng ngày 06/08/2023 là: 15.915.000₫.
Đài Thừa Thiên H5 (M): Số lô tổng cộng 02 con số với số tiền là 580.000đ. Đối chiếu kết quả mở thưởng thì số lô, số 24 trúng thưởng 20.000đ x 80.000₫ = 1.600.000₫.
Đ2 (M): Số đá 01 cặp số với số tiền là 176.000đ. Đối chiếu kết quả mở thưởng không có trúng thưởng.
4
Tổng số tiền gôm phơi số và số tiền trúng thưởng của các đài xổ số kiến thiết: Thừa Thiên H5 và Thái Bình mở thưởng ngày 06/08/2023 là 2.356.000đ.
Như vậy, tổng số tiền bị can Nguyễn Cơ H nộp phơi và trúng thưởng cho bị can Trần Văn T là 18.271.000 đồng. Bị can Nguyễn Cơ H thu lợi bất chính số tiền hoa hồng 450.000 đồng.
- Nhận phơi của bị can Trần Văn K tài khoản Zalo là “Trần Văn K1”, cụ thể như sau:
Đài K: Số đầu tổng cộng 65 con số với số tiền là 7.110.000đ; Số đuôi tổng cộng 08 con số với số tiền là 250.000đ; Số lô tổng cộng 10 con số với số tiền là 1.203.000đ; Số đá tổng cộng 02 con số với số tiền là 40.000đ. Tổng số tiền gôm phơi là 8.603.000đ. Đối chiếu kết quả mở thưởng có số đầu số 50 trúng 40.000₫ x 80 = 3.200.000đ; số lô số 37 trúng 20.000đ x 80 = 1.600.000đ; số lô số 50 trúng 5.000đ x 80 = 400.000đ; số lô số 67 trúng 10.000₫ x 80 = 800.000đ. Như vậy, số tiền gom phơi và trúng thưởng Đài K là 14.603.000đ.
Đài Đ: Số đầu tổng cộng 06 con số với số tiền là 130.000đ; Số đuôi tổng cộng 01 con số với số tiền là 10.000đ; Số lô tổng cộng 06 con số với số tiền là 435.000đ. Như vậy, số tiền gom phơi đài Đ là 575.000đ, đối chiếu kết quả mở thưởng thì thì không trúng thưởng.
Đài Tiền Giang: Số đầu tổng cộng 06 con số với số tiền là 130.000đ.
Tổng số tiền bị can Trần Văn K nộp phơi các đài Miền Nam gồm: Kiên Giang, Đ, Tiền Giang là 15.308.000đ.
Đ2 (M): Số lô 01 con số cụ thể với số tiền 660.000₫.
Tổng số tiền bị can Trần Văn K hưởng hoa hồng được số tiền 157.500 đồng.
- Nhận phơi của bị can Trần Thị Bé S1 tài khoản Zalo là “Saubui”, cụ thể như sau:
Đài K: Số đầu tổng cộng 20 con số, với số tiền là 1.195.000đ; Số hàng tổng cộng 10 con số với số tiền là 200.000đ; Số đuôi tổng cộng 02 con số, với số tiền là 80.000đ; Số lô 01 con số, với số tiền là 145.000đ. Tổng số tiền nộp phơi đài tỉnh Kiên Giang là 1.620.000đ. Đối chiếu kết quả mở thưởng có số 50 trúng thưởng với số tiền 20.000đ x 80.000₫ = 1.600.000đ.
Đài Đ: Số Đầu tổng cộng 05 con số, với số tiền là 100.000đ, đối chiếu kết quả mở thưởng thì thì không trúng thưởng.
Đài Tiền Giang: Số đầu tổng cộng 06 con số, với số tiền là 120.000đ; Số lô 01 con số, với số tiền là 130.000đ x 14.5 lô = 1.885.000đ. Tổng số tiền nộp phơi đài Tiền Giang là 2.005.000đ.
5
Tổng số tiền mà bị can Trần Thị Bé S1 nộp phơi và trúng thưởng các đài Miền Nam trong ngày 06/08/2023 là 5.325.000đ.
Đ2 (M): Số đá tổng cộng 04 cặp số, với số tiền là 184.000đ, đối chiếu kết quả mở thưởng thì thì không trúng thưởng.
Như vậy, tổng số tiền mà bị can Trần Văn T nhận phơi số và số trúng dựa trên kết quả xổ số các đài Miền Nam là 5.325.000đ và Miền B là 184.000đ.
Như vậy tổng số tiền bị can Trần Thị Bé S1 nộp phơi cho bị can Trần Văn T là 3.909.000 đồng, bị can Trần Thị Bé S1 hưởng hoa hồng số tiền 575.000 đồng.
- Nhận phơi của bà Trần Thị H3 tài khoản Zalo là “H”, cụ thể như sau:
Đài K: Số đầu tổng cộng 15 con số, với số tiền là 520.000đ; Số ô tổng cộng 06 con số, với số tiền 507.500đ. Tổng số tiền nộp phơi là 1.027.500đ. Đối chiếu kết quả xổ số có con số đầu số 50 và số lô số 50 trúng thưởng 25.000₫ x 80.000₫ = 2.000.000đ. Tổng số tiền nộp phơi và trúng thưởng đài Kiên Giang trong ngày 06/08/2023 là 3.027.500đ.
Đài Thừa Thiên H5 (M): Số lô tổng cộng 02 con số, với số tiền là 145.000đ, đối chiếu kết quả mở thưởng thì thì không trúng thưởng.
Đ2 (M): Số lô tổng cộng 07 con số, với số tiền là 507.500đ. Đối chiếu kết quả xổ số có con số lô số 20 trúng thưởng với số tiền 5.000đ và số 50 với số tiền là 5.000đ. Tổng cộng tiền trúng thưởng là 10.000₫ x 80.000đ = 800.000đ. Tổng số tiền nộp phơi và trúng thưởng là 1.307.500đ.
Như vậy, tổng số tiền mà bị can Trần Văn T nhận phơi số của Trần Thị H3 là 1.680.000 đồng.
Như vậy, trong ngày 06/8/2023, tổng số tiền bị can Trần Văn T nhận phơi số đề và số tiền trúng thưởng các đài xổ số kiến thiết Miền Nam của các bị can Nguyễn Cơ H, Trần Văn K, Trần Thị B1 sáu và bà Trần Thị H3 với tổng số tiền 17.175.500 đồng, số tiền trúng thưởng là 22.400.000 đồng. Tổng số tiền bị can Trần Văn T đánh bạc là 39.575.500 đồng. Trong đó, bị can Nguyễn Cơ H nộp phơi và trúng thưởng là 15.915.000 đồng; bị can Trần Văn K nộp phơi và trúng thưởng là 15.308.000 đồng; bị can Trần Thị Bé S1 nộp phơi và trúng thưởng là 5.325.000 đồng; bà Trần Thị H3 nộp phơi và trúng thưởng là 3.027.500 đồng. Ngoài ra bị can Trần Văn T còn nhận phơi số đề và số tiền trúng thưởng các đài xổ số kiến thiết miền T và miền B của các bị can Nguyễn Cơ H, Trần Văn K, Trần Thị B1 sáu và bà Trần Thị H3 với tổng số tiền 4.646.500 đồng. Do số tiền trúng số nhiều hơn số tiền nhận phơi nên bị can Trần Văn T không có thu được lợi; bị can Nguyễn Cơ H thu lợi bất chính số tiền 450.000 đồng; bị can Trần Văn
6
K thu lợi bất chính số tiền 157.500 đồng; bị can Trần Thị Bé S1 thu lợi bất chính số tiền 575.000 đồng.
Các ngày còn lại các bị can không nhớ được cụ thể số tiền bán được và trúng thưởng là bao nhiêu, Cơ quan điều tra cũng không thu thập được thêm tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã thu giữ vật chứng gồm: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A16K màu xanh, màn hình cảm ứng, số I 1: 863348054882419; số Imei 2: 863348054882401.
Tại cáo trạng số 20/CT-VKS-AM ngày 15-02-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Trần Văn Tèo, Nguyễn Cơ Hàn, Trần Văn K, Trần Thị Bé S1 về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Kiểm sát viên kết luận các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Cơ H, Trần Văn K và Trần Thị Bé S1 phạm tội đánh bạc và đề nghị:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù;
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Cơ H từ 09 đến 12 tháng tù;
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn K và Trần Thị Bé S1 mỗi bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm cải tạo không giam giữ;.
Về biện pháp tư pháp, đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước chiếc điện thoại di động của bị cáo T dùng vào việc đánh bạc và số tiền thu lợi bất chính của các bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Bị cáo trình bày: Các bị cáo T, H, K và Bé S1 thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu, không đối đáp tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng các bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà H3 xác định có bán số đề và đã bị xử phạt vi phạm hành chính xong.
7
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội, tội danh:
[2.1] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 07/8/2023 tại ấp G X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Công an xã Đ với Công an huyện A bắt quả tang các đối tượng đang thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và thu giữ của Trần Văn T 01 điện thoại di động hiệu Oppo A16K màu xanh, có gắn sim điện thoại số 0818.215.xxx, có tài khoản Zalo tên T3 đủ thứ, quá trình làm việc Trần Văn T tự thú về hành vi đánh bạc bằng hình thức gom phơi số đề từ đầu năm 2023 cho đến ngày bị phát hiện.
Qua khai thác xác định, vào ngày 06/8/2023 Trần Văn T có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức nhận phơi số đề (số đầu, số đuôi, số lô, số đá) và chi trả tiền trúng thưởng các đài xổ số kiến thiết miền nam, miền trung và miền bắc của Nguyễn Cơ H, Trần Văn K, Trần Thị Bé S1 và Trần Thị H3 nộp, trong đó tổng số tiền nhận phơi số đề các đài miền nam là 17.175.500 đồng, số tiền trúng thưởng là 22.400.000 đồng, tổng cộng là 39.575.500 đồng; tổng số tiền nhận phơi số đề và tiền trúng thưởng các đài miền trung và miền bắc là 4.646.500 đồng.
[2.2] Nguyễn Cơ H có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số đề (số đầu, số đuôi, số lô, số đá) và nộp phơi cho Trần Văn T vào ngày 06/8/2023 được tổng số tiền như sau: Các đài Miền Nam (Kiên Giang, Đ, Tiền Giang) bán được số tiền 3.115.000 đồng, tổng số tiền trúng thưởng là 12.800.000 đồng, tổng cộng 15.915.000 đồng; đài M (Thừa Thiên Huế) bán được số tiền 580.000 đồng, trúng thưởng là 1.600.000 đồng, tổng cộng 2.180.000 đồng; đài M1 (Thái Bình) bán được số tiền 176.000 đồng, không trúng thưởng. Ngày 06/8/2023 Cơ H bán số đề và nộp phơi cho Trần Văn T thu lợi được 450.000 đồng.
8
[2.3] Trần Văn K có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số đề (số đầu, số đuôi, số lô, số đá) và nộp phơi cho Trần Văn T vào ngày 06/8/2023 được tổng số tiền như sau: Các đài Miền Nam (Kiên Giang, Đ, Tiền Giang) bán được số tiền 9.308.000 đồng, tổng số tiền trúng thưởng là 6.000.000 đồng, tổng cộng 15.308.000 đồng; đài M1 (Thái Bình) bán được số tiền 660.000 đồng, không trúng thưởng. Ngày 06/8/2023 Trần Văn K bán số đề và nộp phơi cho Trần Văn T thu lợi được 157.000 đồng.
[2.4] Trần Thị Bé S1 có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số đề (số đầu, số đuôi, số lô, số đá) và nộp phơi cho Trần Văn T vào ngày 06/8/2023 được tổng số tiền như sau: Các đài Miền Nam (Kiên Giang, Đ, Tiền Giang) bán được số tiền 3.725.000 đồng, tổng số tiền trúng thưởng là 1.600.000 đồng, tổng cộng 5.325.000 đồng; đài M1 (Thái Bình) bán được số tiền 184.000 đồng, không trúng thưởng. Ngày 06/8/2023 Trần Thị Bé S1 bán số đề và nộp phơi cho Trần Văn T thu lợi được 575.000 đồng.
[2.5] Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức được việc bán và gom phơi số đề được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện; các bị cáo cùng thực hiện tội phạm nên là đồng phạm nhưng chỉ ở mức độ giản đơn, trong đó bị cáo T là người gom phơi số đề của các bị cáo Cơ H, K, Bé S1 và bà H3, chi trả tiền huê hồng và tiền trúng thưởng; các bị cáo Cơ H, K và Bé S1 đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số đề được thua bằng tiền và nộp phơi cho bị cáo T để hưởng tiền huê hồng, số tiền đánh bạc vào ngày 06/8/2023 của các bị cáo trên 5.000.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận các bị cáo T, Cơ H, K và Bé S1 phạm tội Đánh bạc được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội và sự bất bình trong nhân dân. Các bị cáo chưa chấp hành tốt pháp luật nên cần có hình thức xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính; bị cáo T tự thú hành vi phạm tội của bản thân; các bị cáo K và Bé S1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Cơ H có thân nhân là người có công với cách mạng. Đây là các tình tiết
9
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
[3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng các bị cáo đã phạm tội ít nghiêm trọng. Các bị cáo đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo T là người giữ vai trò chính, số tiền đánh bạc tương đối lớn nên hình phạt phải cao hơn các bị cáo còn lại; bị cáo T gom phơi số đề của nhiều người, trong nhiều ngày, số tiền đánh bạc tương đối lớn; bị cáo Cơ H trực tiếp bán số đề cho nhiều người, thực hiện hành vi đánh bạc trong nhiều ngày và hai bị cáo đã bị kết án nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù. Thấy các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, thể hiện sự quyết tâm sửa chữa lỗi lầm; gia đình đều rất khó khăn; việc không buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tập trung không ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự nên áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo.
Đối với các bị cáo K và Bé S1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính nên không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần xử phạt bằng hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo, nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Tuy nhiên, số tiền đánh bạc của bị cáo K nhiều hơn bị cáo Bé S1 nên mức hình phạt phải cao hơn. Xét thấy các bị cáo có nghề nghiệp với thu nhập không ổn định, khó đảm bảo việc thi hành án nên miễn khấu trừ thu nhập.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, HĐXX nhận thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung để tăng tính răn đe đối với các bị cáo và cần cân nhắc để có mức phạt phù hợp, đảm bảo khả năng thi hành án và mức độ phạm tội của các bị cáo.
[5] Về vật chứng, công cụ bị cáo T dùng để thực hiện hành vi phạm tội là 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A16K màu xanh, màn hình cảm ứng, số I 1: 863348054882419; số Imei 2: 863348054882401 và số tiền thu lợi bất chính của các bị cáo cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Qua điều tra, xác định bị cáo T không có thu nhập bất chính nên không tịch thu; số tiền bị cáo tạm nộp được tiếp tục quản lý để bảo đảm việc thi hành hình phạt bổ sung.
10
[6] Về án phí, các bị cáo T, Cơ H, K và Bé S1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Đối với bà Trần Thị H3 có hành vi bán số đề và nộp phơi cho bị cáo T, nhưng chưa đủ định lượng để xử lý hình sự, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1- Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn T (Tèo heo), Nguyễn Cơ H (Đ), Trần Văn K và Trần Thị Bé S1 phạm tội Đánh bạc.
1.1- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T (Tèo heo) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 30-5-2024) về tội Đánh bạc.
Giao cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục người được hưởng án treo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
1.2- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Cơ H (Đen) 01 (một) năm tù cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 30-5-2024) về tội Đánh bạc.
Giao cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục người được hưởng án treo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
1.3- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn K 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không
11
giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Trần Văn K cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong giai đoạn thi hành án.
1.4- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị Bé S1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Trần Thị Bé S1 cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Kiên Giang giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong giai đoạn thi hành án.
1.5- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 và Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn T số tiền 20.000.000 đồng; bị cáo Nguyễn Cơ H số tiền 15.000.000 đồng; bị cáo Trần Văn K số tiền 10.000.000 đồng; bị cáo Trần Thị Bé S1 số tiền 10.000.000 đồng.
2- Về biện pháp tư pháp:
- Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A16K màu xanh, màn hình cảm ứng, số I 1: 863348054882419; số Imei 2: 863348054882401 (hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 09/QĐ-VKS-AM ngày 15-02-2024 của VKSND huyện An Minh);
- + Số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Nguyễn Cơ H là 450.000 đồng (bị cáo Cơ H đã nộp 450.000 đồng tại biên lai thu số 0004094 ngày 05-02-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh).
- + Số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Trần Văn K là 157.000 đồng (bị cáo K đã nộp 157.000 đồng tại biên lai thu số 0004092 ngày 02-02-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh).
- + Số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Trần Thị Bé S1 là 575.000 đồng (bị cáo Bé S1 đã nộp 509.000 đồng tại biên lai thu số 0004091 ngày 02-02-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh). Bị cáo Bé S1 còn phải nộp tiếp 66.000 đồng.
- Tiếp tục quản lý số tiền 8.000.000 đồng của bị cáo Trần Văn T nộp tại biên lai thu số 0004093 ngày 05-02-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh để bảo đảm việc thi hành hình phạt bổ sung,
12
3- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo T, Cơ H, K và Bé S1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4- Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 30-5-2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự sơ thẩm - đánh bạc
- Số bản án: 52/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T và đồng bọn phạm tội Đánh bạc
