Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI

Bản án số: 52/2023/HNGĐ-ST

Ngày 29 - 12 - 2023

V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY- THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Đức Ngọc
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Bích Thuỷ
  • Bà Đào Thị Minh Nguyệt
  • - Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Bích Loan, Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn tây, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Lã Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 150/2023/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2023/QÐST- HNGĐ ngày 18/12/2023, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Trần Phương T, sinh năm 1992; xin xét xử vắng mặt
  • Địa chỉ: Phố P, phường V, thị xã S, thành phố Hà Nội
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng Q, sinh năm 1992; vắng mặt.
  • Địa chỉ: Số A, đường P, phường P, T, thành phố Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn và các bản tự khai tiếp theo tại Toà án, chị Trần Phương T trình bày: Chị đăng ký kết hôn cùng anh Nguyễn Hoàng Q vào ngày 11/03/2020, trên cơ sở được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thị xã S. Sau khi hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục tập quán, chị về sống chung cùng anh Q và gia đình anh Q ở tại đường P, phường P được khoảng một tháng thì vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Q đi uống rượu về nhà gây sự cãi nhau với chị. Đến tháng 6 năm 2022 mâu thuẫn xẩy ra trầm trọng, nguyên nhân do anh Q đánh chị, vì bị đánh nhiều lần nên chị không thể chịu đựng được nữa và có phản ứng lại với anh Q thì anh Q gọi mẹ chị lên nói chuyện, mục đích để đón chị về. Vì vậy, từ ngày 24/6/2022 chị về nhà bố mẹ đẻ ở và chấm dứt mọi quan hệ với anh Q từ đó cho đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai nữa. Chị xác định không thể tiếp tục sống chung cùng anh Q được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn anh Q.

Về con chung: Chị và anh Q có 01 con chung là Nguyễn Bích N, sinh ngày 17/4/2020. Hiện nay cháu đang sống chung cùng chị. Sau khi ly hôn chị đề nghị được nuôi con và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ: Không có

Do anh Nguyễn Hoàng Q không đến Toà án nên Toà án không lấy được lời khai và không tiến hành hoà giải được.

- Tại Biên bản lấy lời khai của bà Lê Thị H là mẹ đẻ anh Q, trình bày: Năm 2020 gia đình bà tổ chức cưới vợ cho con trai bà là Nguyễn Hoàng Q lấy chị Trần Phương T. Sau khi cưới, chị T về sống chung cùng anh Q và gia đình bà, ngay từ thời gian đầu bà thấy tình cảm của vợ chồng anh Q bình thường, thi thoảng còn to tiếng với nhau, có lần anh Q đi uống rượu về vợ chồng xẩy ra cãi nhau và anh Q đánh chị T, bà đã phải can ngăn. Sau đó, chị T về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 6 năm 2022 cho đến nay không về gia đình bà nữa mà xin ly hôn anh Q. Thông qua anh Q, bà biết anh Q cũng xác định không thể đoàn tụ để sống chung cùng chị T vì mâu thuẫn đã trầm trọng. Vợ chồng anh Q sống ly thân nhau đã lâu nên gia đình bà cũng đồng ý và đề nghị Toà án giải quyết cho vợ chồng chị T, anh Q được ly hôn.

Hiện nay, anh Q đi làm không có nhà, nhưng thỉnh thoảng anh Q vẫn về nhà nên các văn bản mà Toà án giao cho anh Q, bà nhận thay và đều giao lại cho anh Q.

Về con chung: Vợ chồng chị T, anh Q có 01 con chung là Nguyễn Bích N, sinh năm 2020 hiện đang sống chung cùng chị T. Về tài sản chung và nợ: Vợ chồng anh Q, chị T không có tài sản chung và không nợ ai.

Xác minh tại UBND phường P, thị xã S, được biết: Anh Nguyễn Hoàng Q là người có đăng ký hộ khẩu và thường trú tại số nhà A đường P, phường P, ngoài địa chỉ này anh Q không làm thủ tục đăng ký tạm trú, tạm vắng ở địa chỉ nào khác. Vào khoảng đầu tháng 11 năm 2023, anh Q đến Công an phường P để kê khai làm thủ tục hành chính công việc của gia đình anh Q. Hiện nay, anh Q làm gì ở đâu địa phương không biết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tốt ụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Phương T. Chị T được ly hôn anh Nguyễn Hoàng Q. Về con chung giao cháu Nguyễn Bích N, sinh ngày 17/4/2020 cho chị T nuôi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Q có quyền nghĩa vụ thăm non con chung, không ai được cản trở. Về tài sản chung và nợ: Không có.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Trần Phương T có đơn xin ly hôn anh Nguyễn Hoàng Q có đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường P, thị xã S và quan hệ tranh chấp về ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện đầy đủ trình tự tố tụng và đã giao các Văn bản tố tụng, giấy triệu tập hợp lệ cho anh Nguyễn Hoàng Q thông qua bà Lê Thị H là mẹ đẻ anh Q, nhưng tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, anh Q đều vắng mặt nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Vì vậy, căn cứ Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên toà, anh Q vắng mặt lần thứ hai không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Hoàng Q.

Chị Trần Phương T có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T.

[2]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Phương T và anh Nguyễn Hoàng Q trên cơ sở kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 11/03/2020 tại UBND phường P, thị xã S nên xác định là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình.

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngay từ những ngày đầu mới cưới, chị T và anh Q sống chung đã xẩy ra mâu thuẫn cãi nói nhau, nguyên nhân do anh Q đi uống rượu về và vợ chồng xẩy ra cãi nhau, do nhiều lần chị T bị anh Q đánh nên chị T về nhà bố mẹ đẻ ở từ ngày 24/6/2022 đến nay không về sống chung cùng anh Q, cũng từ đó vợ chồng chấm dứt mọi quan hệ không ai quan tâm đến ai, đến nay chị T và anh Q đều xác định không thể tiếp tục sống chung cùng nhau được nữa, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu ly hôn. Mặc dù, Toà án không lấy được lời khai của anh Q, nhưng thông qua bà H là mẹ đẻ anh Q cho biết anh Q đồng ý ly hôn chị T. Xét thấy các đương sự đã tự nguyện ly hôn, kết quả điều tra xác minh phù hợp với ý kiến của đương sự, phù hợp quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Phương T.

- Về con chung: Chị T và anh Q có 01 con chung là Nguyễn Bích N, sinh ngày 17/4/2020. Nguyện vọng của chị T được nuôi con và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi. Xét thấy, hiện nay cháu N đang sống chung cùng chị T, cuộc sống của cháu ổn định, anh Q không có nhà nên cần giao cháu N cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

- Về tài sản chung và nợ: Chị T khai không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trường hợp nếu anh Q có yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ thì được giải quyết bằng một vụ án khác.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Phương T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 227; 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án .

Xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn của chị Trần Phương T.
    1. Chị Trần Phương T được ly hôn anh Nguyễn Hoàng Q.
    2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bích N, sinh ngày 17/4/2020 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ nuôi con chung cho anh Nguyễn Hoàng Q đến khi có yêu cầu mới hoặc có quyết định khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Anh Nguyễn Hoàng Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
    3. Về tài sản chung và nợ: Chị T xác định không có nên không yêu cầu giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Trần Phương T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000753 ngày 18/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
  3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự: Anh Q và chị T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thị xã Sơn Tây;
  • - THADS thị xã S;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

4

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà

Hoàng Đức N2

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2023/HNGĐ-ST ngày 29/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 52/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị T ly hôn anh Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger